|
Dinh dưỡng và
sức khỏe
Tuyển tập 4
Cân bằng axít-kiềm
&
Gốc tự
do - lăo hóa
Nguyễn hoàng Anh
Paris 08/2012
Nội
dung và vai tṛ của "Cân
bằng axít-kiềm & Gốc tự do - Lăo
hóa "
này về nguồn gốc th́ khác
nhau nhưng ảnh hưởng đến sức khỏe lại có những điểm tương đồng. Theo
kết quả của nhiều nghiên cứu trên người và động vật trong thời gian
dài và theo những nhà dinh dưỡng dựa theo những kiểm tra, những diễn
biến của bệnh trạng, cho chúng ta biết
rơ sự quan trọng trong việc
đề pḥng chống lại những triệu chứng bệnh một cách hiệu quả.
Cân bằng axit-kiềm (acido-basique)
trong các cơ quan của cơ thể là điều thiết yếu cho sự tồn tại của
con người và những chất chống oxy hóa
có nhiệm vụ làm triệt tiêu những gốc tự
do, phát sinh ra bởi những phản ứng oxy hóa xảy ra liên tục
trong cơ thể, những chất chống oxy hóa này có khả năng chống lại
hiện tượng lăo hóa, cũng là những chất rất cần thiết để đề pḥng
chống lại tất cả những bệnh trạng.
Nếu
để mất cân bằng axit-kiềm (phần 1) và nếu không đủ chất chống oxy
hóa để hóa giải những gốc tự do (phần 2), kết quả có thể
dẫn đến
những chứng bệnh nguy hiểm mà mọi người chúng ta thường nhắc đến là
những bệnh về tim mạch, nghẽn mạch máu năo, ung thư, ảnh hưởng xấu
đến những hoạt động của hệ thần kinh, làm giảm thị giác, làm tổn hại
đến những bệnh liên quan đến da vân vân, nên bài này có ư định đề
cập đến những yếu tố liên quan đến phong cách ăn uống, thói quen
sinh hoạt xảy ra hàng ngày, nguồn gốc gây ra bệnh và cung cấp những
chi tiết cần thiết về cân bằng của cơ chế ăn uống trong đó có sự lựa
chọn phẩm chất cho mỗi thực phẩm và phương pháp kết hợp những thực
phẩm này một cách hợp lư để ta có thể tự đề pḥng chống lại những
bệnh trạng nguy hiểm trên.
Chương 1
Cân bằng axít-kiềm
1) Nguồn gốc và
khái niệm về
cân bằng axit-kiềm
Một chất axít (acide)
là một phân tử có khả năng giải phóng một proton (H+)
khi phân tử này ở trạng thái dung dịch và một chất kiềm (base)
là một phân tử có khả năng nhận một proton.
Cân
bằng axit-kiềm bắt đầu bởi sự thiết lập một học thuyết toàn diện,
vào giữa thế kỷ 20, người Pháp Louis Claude Vincent phát minh ra
hiện tượng sinh hóa điện tử (bioélectronique) là một
kỹ thuật lư hóa
dùng để đo độ pH hoặc suất
điện trở (résistivité) của một dung dịch nước, pH cho biết độ acide
hoặc độ kiềm, từ đó ta có thể xác định
được t́nh trạng sống hoặc bệnh của những sinh vật sống (người
và thú vật), xúc tiến sự hồi phục sức khỏe bằng cách chọn thực phẩm
hợp lư và có thể cho biết chất phẩm sinh học của các thức ăn, thức
uống.
Trong cơ thể chất acide và
chất kiềm phát sinh ra từ những thực phẩm mà chúng ta hấp thụ hàng
ngày sau quá tŕnh chuyển hóa
(métabolisme), quá tŕnh chuyển hóa là một cơ năng phức tạp có nhiệm
vụ làm biến đổi những phân tử và năng lượng xảy ra liên tục trong tế
bào và sinh vật sống, gồm có hai phần chính là
quá tŕnh phân hủy (catabolisme :
làm phân hủy những phân tử lớn thành những phân tử nhỏ cùng lúc phát
sinh năng lượng) và quá tŕnh tổng hợp hữu
cơ
(anabolisme : giúp tế bào tổng hợp những vật chất cần
thiết cho sự sống và cho những vận hành), tóm lại quá tŕnh chuyển
hóa là diễn biến về sự tiêu thụ năng lượng toàn thể của một người.
Theo Đông y, người Á
đông khi ăn một thực phẩm nào đó chẳng hạn như ăn trái sầu riêng,
trái nhăn … , sau một thời gian gần, trên thân thể bị nổi mụn hoặc
cảm thấy bần thần nóng nảy, và cho rằng loại trái cây này gây
« nóng » cho cơ thể, ngược lại khi
uống nước rau má, nước sâm hoặc nước đắng và cho rằng những thức
uống này có tính hàn, giải nhiệt tức là có kết quả làm
« mát »
cơ thể, những sự kiện này có thể là những kinh nghiệm được
truyền từ nhiều thế hệ, nhưng phần đông không thể phân tích, giải
thích một cách khoa học để có thể hiểu
rơ được nguyên do.
Theo
Tây y, ảnh hưởng của thực phẩm trong cơ thể không có danh từ
« nóng, mát », ngược lại các nhà
dinh dưỡng cho rằng những thực phẩm « có
tính axít » hoặc « có tính kiềm ».
Dưới
đây là những tài liệu và kết quả của nhiều nghiên cứu và qua sự suy
luận tŕnh bày của các nhà dinh dưỡng trong lĩnh vực
Tây y, ta có
thể lư giải được ư nghĩa, vai tṛ và ảnh hưởng « acide-kiềm » đến
sức khỏe của con người, hai danh từ « acide-kiềm » cũng có thể được
gọi là « âm-dương » và sự cân bằng âm dương tiếng Pháp gọi là
« équilibre acido-basique » và nếu
dịch ra tiếng Việt « cân bằng axít-kiềm ».
Hai
danh từ acide và basique theo giới Đông y sự định nghĩa hoàn toàn
ngược lai với Tây y, mặc dầu sự định nghĩa của hai danh từ « âm-dương »
giữa « Đông y và Tây y » khác nhau nhưng qua sự hấp thụ những thực
phẩm, sự kiện cân bằng âm dương cùng có nội dung và ảnh hưởng giống
nhau, liên quan mật thiết đến sức khỏe của con người.
Thí
dụ như Đông y cho rằng nóng là dương
và mát là âm có nghĩa là « thực
vật âm hơn động vật, tức là trái cây, rau củ âm hơn thịt, cá », trái
lại Tây y lại cho rằng thực vật là dương (v́ có tính kiềm) và động
vật là âm (v́ có tính axít). Sau đây, theo sự giải thích trong lĩnh
vực lư hóa, sau quá tŕnh chuyển hóa những chất đạm như :
thịt,cá, sữa, phát sinh ra những
chất acides (âm)
và các loại rau, củ, trái cây, các loại
hạt, phát sinh ra những chất kiềm
(dương).
Trong lĩnh vực hóa học, nếu
muối NaCl (muối ăn hàng ngày) biến thành ion sodium
(Na+)
là dương và ion chlorure (Cl–)
là âm, ngoài ra có những ions khác như calcium
(Ca+
+)
là dương mạnh, ion sulfate (SO4–
–).
là âm mạnh. Sodium, calcium là những chất có tính kiềm c̣n chlorure
và sulfate là những chất có tính acide, phần đông trong thực phẩm
thực vật như trái cây, rau củ chứa nhiều chất vitamines và chất
khoáng như calcium, potassium, magnésium etc những chất này có t́nh
kiềm, c̣n những thực phẩm chứa chất đạm có nguồn gốc từ đông vật,
sau quá tŕnh chuyển hóa phát sinh ra acides nên có tính âm.
Acide là chất có khả năng làm tổn hại, làm
hao ṃn đến tất cả các tế bào, cơ quan trong cơ thể và chất
basique là những chất khoáng phần đông có tính kiềm, một phần dùng
để bảo tŕ nuôi dưỡng cơ thể, phần khác dùng để trung ḥa acides dư
thừa phát sinh ra từ nhiều yếu tố như thói quen sinh hoạt, môi
trường, stress và qua quá tŕnh chuyển hóa của những chất đạm trong
cơ thể.
Quá tŕnh sản xuất axit là
những phản ứng tự nhiên không thể tránh khỏi của cơ thể. Có hai
nguồn sản xuất acide chính:
1) Acide bay hơi (acides
volatiles): có nguồn gốc từ những chất đường và chất béo, được phát
sinh ra với sự hiện diện của oxy trong nước và CO2 (chuyển hóa oxy).
Acide carbonique phát sinh được đào
thải trực tiếp qua đường hô hấp mà không làm thay đổi cân bằng
acido-basique.
2) Acide cố định (acides
fixes) : có nguồn gốc do sự chuyển hóa từ những chất đạm như
acide sulfurique, từ những
acides aminés soufrés
(chất đạm lưu
huỳnh: cystéine và méthionine), acide
chlorhydrique, từ một
acide aminé lysine (chất đạm thiết
yếu) và acide phosphorique từ những
chất đạm nucléoprotéines, ngoài ra c̣n có những acide
hữu cơ như
acide lactique và
corps cétonique ( acide
acétoacétique, béta-hydroxybutyrate và l’acétone) do sự dị hóa (catabolisme :
một phần của sự chuyển hóa của những
acide béo) , nếu sự hiện diện của những chất này cao có thể làm rối
loạn sự cân bằng axít-kiềm.
Thức
ăn chứa chất đạm càng cao, gây ra số lượng axít càng nhiều nên càng
làm mất dễ dàng cân bằng acido-basique. Thông thường chất đạm động
vật chứa nhiều axit hơn chất đạm thực vật.
Một
cách lâu dài, qua điều kiện sống hiện tại bởi thói quen và môi
trường chúng ta không thể nào đạt được sự
cân bằng axit-kiềm một cách tuyệt đối,
hoàn hảo v́ trong thức ăn hàng ngày
những thực phẩm chứa chất kiềm không nhiều, ngược lại hầu hết những
thức ăn chính quan trọng, thiết yếu cho cơ thể lại chứa quá nhiều
axit.
Để
có được sức khỏe tốt, điều tất yếu là hiểu được cấu trúc và ảnh
hưởng của những thực phẩm được hấp thụ và qua quá tŕnh chuyển hóa,
giá trị của axit và kiềm phải không được quá chênh lệch với giá trị
của sự cân bằng acido-basique lư tưởng (lượng axit hoàn toàn được
cân bằng với lượng kiềm).
Phần
đông người ta ít bàn luận về hiện tượng cân bằng « acido-basique »
có thể v́ những nghiên cứu về đề tài này không nhiều, và cũng có thể
sự kiện này không làm hài ḷng những nhà kinh doanh liên quan đến
kỹ
nghệ chế biến như những thực phẩm thay thế từ thịt hoặc từ
sữa v́
nếu phần đông người tiêu dùng hiểu biết được chính xác ảnh hưởng
xấu của những thực phẩm có tính axit, người tiêu dùng có thể cân
nhắc trước khi dùng, chẳng hạn như
yaourt, trên quảng cáo thường hay khuyến khích tiêu thụ
nhiều yaourt v́ cho rằng yaourt tốt cho đường ruột nhưng nếu so sánh
lợi hại của thực phẩm này, theo các nhà chuyên môn về dinh dưỡng đều
cho rằng yaourt là thực phẩm có tính axit rất mạnh không tốt cho sự
cân bằng axit-kiềm và không tốt cho sức khỏe v́ vậy không nên quá
lạm dụng trừ yaourt có nguồn gốc từ đậu nành.
Cơ
chế ăn uống cân bằng bao hàm nhiều yếu tố, tùy theo lớp tuổi, trong
cân bằng dinh dưỡng, ngoài sự cân bằng về chất phẩm và chất lượng
của các thức ăn để có thể cung ứng đầy đủ những chất dinh dưỡng cho
cơ thể tức là có thể bảo tŕ hoặc tái tạo tế bào, điều rất cần thiết
là sự giữ ǵn, để tâm đến cân bằng axít-kiềm đặc biệt đối với những
người lớn tuổi.
Trong cơ thể chúng ta lúc nào cũng chứa nhiều chất axít và chất kiềm,
cân bằng axit-kiềm là trọng yếu. Lượng axít và lượng kiềm được xác
định bởi pH, kư hiệu pH này thường
hay dùng trong lĩnh vực hóa học nên trong đời sống hàng ngày có thể
c̣n xa lạ đối với nhiều người nhưng ta nên t́m hiểu vai tṛ của kư
hiệu này, để có thể tự đề pḥng và để có
thể khám phá, suy đoán biết ra triệu chứng bệnh trạng trước khi
phát sinh ra bệnh, chẳng hạn như thường xuyên hăy kiểm tra độ
pH của nước tiểu, trong các nhà thuốc
Tây có bán cuộn giấy pH có độ
từ 1 đến 14 (1=axít mạnh, 14=kiềm mạnh), dùng giấy này nhúng vào
dung dịch, màu của giấy sẽ thay đổi tùy theo dung dịch muốn đo, có
nhiều màu, mỗi màu tượng trưng cho đặc tính của mỗi dung dịch, từ
màu đỏ đến màu tím, chẳng hạn như pH
của nước tiểu lúc nào cũng phải ở vị trí pH= 6,5-7,5
(muốn biết chính xác có sự thay đổi của độ pH của cơ thể nên
thực hiện tháo tác này ở một thời gian nhất định trong ngày) v́ một
cách tổng quát pH của nước tiểu vào buổi sáng thường có khuynh hướng
axit : 5,5-6,5, vào buổi trưa : 6,5-7 và vào buổi chiều : 7-7,5. có
nghĩa là vào buổi tối cơ thể ta đào thải những axit tồn đọng trong
ngày và sáng hôm sau pH có giá trị thấp hơn.
Nếu giá trị của pH dưới 6,5 và kéo dài, cơ
thể ta có thể bị « nhiễm axit » và sẽ phát sinh ra nhiều
chứng bệnh nguy hiểm. Danh từ « nhiễm axít » được chỉ định
khi cơ thể ta bị mất cân bằng « acido-basique » trong thời gian dài
c̣n được gọi là « acidose ».
Để
duy tŕ pH của nước tiểu ở vị trí ổn định : 6,5-7,5, chế độ ăn uống
phải được thực hiện với 65% thực ăn có
tính kiềm và 35% có tính axit, nếu cần tỉ lệ này có thể
lên đến 80/20.
Trong lĩnh vực hóa học nếu ta thực hiện một hỗn hợp giữa một chất
axít và một chất kiềm cùng nồng độ, ta có một hợp chất dung dịch
không có tính axit và cũng không có tính kiềm, hợp chất này được gọi
là chất muối, là chất trung tính và có độ pH=7, những chất có pH từ
0 đến 6,9 th́ được gọi là axit
ngược lại những chất có pH từ 7 đến 14 được gọi là
kiềm. Trong nội tạng của cơ thể,
độ pH có giá trị khác nhau tùy theo mỗi cơ quan, thí dụ như bao tử
lúc nào cũng ở trong môi trường axit pH=2,4 và nước miếng lúc nào
cũng có nồng độ kiềm pH= 7,1-7,4 trong nước miếng có các chất
bicarbonates có nhiệm vụ trung ḥa những độc tố, những thức ăn có
tính axit và những axit lactique phát sinh từ chất đường và những
hydrates de carbone. Trong năo, dịch năo, tủy cũng có tính kiềm, pH=
7,9-8,1.
Đặc biệt pH của máu lúc nào cũng phải ở vị
trí 7,35-7,45, nếu trên hoặc
thấp hơn giá trị này sẽ đưa đến tử vong. V́ vậy cân bằng
« acido-basique » đóng vai tṛ vô cùng quan trọng cho sự sống c̣n
của cơ thể. Thí dụ như máu có thể mang oxy và những chất dinh dưỡng
cho cơ thể với điều kiện là giá trị axit phải ở múc vừa phải b́nh
thường, nếu cơ tim bị nhiễm axit, vận hành của tim sẽ bị ảnh hưởng.
Quá
tŕnh vận hành của hệ tiêu hóa xảy ra trong môi trường pH đặc biệt
tùy theo thức ăn, sự vận hành tiêu hóa khởi đầu ở miệng bởi nước
miếng, sự tiêu hóa của những chất tinh bột hoặc đường xảy ra ở độ pH
có tính kiềm=7-9, và những chất đạm ở độ pH= 2-4
Về phương diện y học, trong nhà thương quy
chế của máu và nước tiểu có thể cung cấp rất nhiều tin tức hữu ích
cho việc chẩn bệnh
2) Kết hợp các
thức ăn
Qua
những kết quả trên ta nhận thấy rằng sự kết hợp giữa những thức ăn
rất quan trọng và liên quan nhiều đến cân bằng acido-basique. Vài
thí dụ :
- Không nên ăn những thực phẩm chứa chất đường cùng với chất đạm
hoặc các loại bột nhào.
- Không nên dùng fromage, sữa chung với bánh ḿ
- Dùng chanh, tomate, rượu vang tốt với chất đạm nhưng không tốt nếu
ăn chung với các loại tinh bột
Trái
cây và rau củ là thức ăn cần thiết chứa nhiều chất vitamine và chất
khoáng nhưng có thể trở thành nguy hiểm nếu không biết cách kết hợp
trước khi hấp thụ.
Nên
ăn trái cây vào buổi sáng 30 phút trước khi ăn điểm tâm hoặc 2-3 giờ
sau khi ăn trưa, nên tránh ăn trái cây vào buổi tối v́ có thể làm
mất ngủ v́ trái cây phần đông chứa nhiều vitamine C
Nên
tránh ăn trái cây sau các bữa ăn v́ hoàn toàn không phù hợp, phần
đông trong các lại trái cây có chứa chất đường trực tiếp, nếu tồn
tại lâu trong bao tử sẽ gây ra sự lên men có thể phát sinh ra sự no
đầy ở bao tử, ngoài ra ăn trái cây trước
bữa ăn có thể giúp cơ thể
hấp thụ hầu hết các vitamine và chất khoáng chứa trong trái cây. Thí
dụ như nếu ăn cam trước khi ăn đậu lăng có thể giúp cho sự hấp thụ
chất sắt nhiều hơn.
Một
số loại trái cây không nên ăn trước bữa ăn, như cà chua, quưt, chuối,
hồng. Quưt có chứa nhiều axit hữu cơ, nếu ăn quưt trong lúc dạ dày
trống rỗng sẽ dẫn đến t́nh trạng đầy hơi, trong chuối có nhiều
calcium, magnésium, nếu ăn lúc bụng trống, lượng magnésium trong máu
sẽ lên cao và gây áp lực cho tim, ăn hồng lúc bụng đói sẽ khó tiêu,
và sẽ có cảm giác buồn nôn khi ăn cơm sau đó.
Ngoài ra c̣n có một vài loại trái cây chứa nhiều loại enzyme có khả
năng giúp sự tiêu hóa nhất là chất đạm, những loại trái cây này có
thể ăn sau các bữa ăn như trái thơm, đu đủ,
trái kiwi, trái bơ ….v́ thơm chứa chất broméline và đu đủ
chứa chất papaine, kiwi chứa một loại hỗn hợp phân hóa tố như
protéase giúp tiết dịch vị và làm tiêu hóa chất đạm nhất là thịt
nhưng enzyme có trong kiwi bị phân hủy ở nhiệt độ cao.
Những enzymes có nhiệm vụ giúp đỡ cơ thể làm tăng nhanh những phản
ứng hóa học trong các cơ quan, cải thiện sự đồng hóa vật chất và đào
thải độc tố. Những enzymes có khả năng phân hủy thức ăn để những
chất này có thể được đồng hóa dễ dàng và đóng vai tṛ thiết yếu cho
sự tiêu hóa, khiến cho hệ tiêu hóa, tim mạch, hệ miễn dịch, xương và
da được hoạt động tốt.
Những
chất enzymes như papaine và bromelaine từ đu đủ và thơm là nguồn
cung cấp từ thực vật rất tốt cho hệ tiêu hóa.
Qua
quá tŕnh tiêu hóa các thức ăn và qua quá tŕnh chuyển hóa trong các
cơ quan, cơ thể ta tạo ra nhiều axit, có thể làm mất cân bằng
acido-basique. Trong cơ thể, thận có nhiệm vụ đào thải một phần lớn
lượng axit dư thừa này, ngoài ra lượng dioxyde de carbon (axit) cũng
được đào thải ra ngoài do đường hô hấp lúc thở ra.
Thông thường axit hay đi đôi với độc tố,
một cách tổng quát, t́nh trạng axít trong cơ thể có thể gây ra sự
tích lũy những độc tố và những chất cặn
bă, những chất này dần dần
được tích tụ trong các cơ quan, mạch máu có thể cản trở sự hấp thụ
các chất dinh dưỡng, ngoài ra c̣n có thể ngăn cản sự lưu thông của
máu, từ đó có khả năng gây ra nhiều chứng bệnh. Phần đông bởi thói
quen ăn uống hàng ngày không tốt có thể dẫn đến sự mất cân bằng về
acido-basique và nếu axit này không thể được đào thải, axit sẽ được
tồn trữ trong các mô liên kết (tissu conjonctif) hậu quả của sự kiện
này có thể làm cho cơ thể ta bị nhiễm axit.
Hầu hết những cơ quan trong
cơ thể cần những chất dinh dưỡng và oxy cho những vận hành của tất
cả tế bào, ngược lại sẽ phát sinh ra nhiều chất cặn
bă như dioxyde
carbon có nguồn gốc từ hô hấp tế bào, như urée và acide urique có
nguồn gốc từ những chất đạm. Những chất cặn
bă này phải được đào
thải, nếu không sẽ tích lũy trong máu và cuối cùng sẽ gây nguy hiểm
cho các cơ quan.
Những cơ quan bài tiết quan trọng trong cơ thể như thận, ruột, phổi
và da, đóng vai tṛ quan trọng cho sự cân bằng axit-kiềm của con
người, những người có sức khỏe tốt là những người có những cơ quan
bài tiết bảo đảm nhiệm vụ đào thải những độc tố hưu cơ.
Thận là cơ quan có nhiệm vụ đào
thải và điều chỉnh quan trọng nhất. Thận là cơ quan duy nhất có thể
đào thải qua đường tiểu những ions H+, thận c̣n có thể tổng hợp
những chất điều chỉnh đặc thù để giữ ổn định pH của huyết tương.
Phổi tham gia vào sự điều chỉnh
cân bằng acido-basique bằng cách biến đổi gaz carbonique trong hồng
huyết cầu thành bicarbonate qua hệ thống đệm có tính kiềm và có vai
tṛ duy tŕ pH của máu giữa 7,35 và 7,45.
Ruột cũng tham gia vào sự cân
bằng acido-basique bằng cách đào thải những axit, những chất độc tố
axít, những độc tố axít lactique.
Da đóng vai tṛ quyết định cho
sự làm sạch tế bào bằng cách đào thải sự dư thừa axít urique có hại
rất cao cho cơ thể.
Hiện
tượng nhiễm axit thường hay bị đánh giá thấp, theo các chuyên gia về
dinh dưỡng nghĩ rằng có đến 80% dân chúng sống trong những nước phát
triển tỏ ra sự mất cân bằng acido-basique.
Theo
những chuyên gia về thiên nhiên liệu pháp, chứng nhiễm axít gây ra
nhiều chứng bệnh rất khó giải thích như : mệt kéo dài, nhức đầu, rối
loạn tiêu hóa, đau bao tử, để tránh những triệu chứng bệnh trạng này,
cần phải lựa chọn những thực phẩm có tính kiềm và giảm các yếu tố
stress, ngoài ra nếu cần nên bổ sung thêm bằng những chất khoáng
kiềm.
Sự
mất cân bằng acido-basique có thể do hậu quả của những sự kiện sau
đây:
- Thực phẩm chứa nhiều axít
- Hấp thụ quá nhiều rượu, thuốc lá, cà phê
- Bị stress vật chất và tâm thần
- Hoạt động thể dục không đủ
- Không có cân bằng dinh dưỡng
- Không đủ các loại vitamine, chất khoáng và nguyên tố
vi lượng
3) Nguyên do và
phương pháp chống lại sự nhiễm axít
Để
giữ giá trị axít ở mức b́nh thường, cơ thể ta phát triển một hệ
thống rất tinh vi, sau quá tŕnh chuyển hóa, axít dư thừa có thể
được đào thải bởi thận, ruột, da và phổi, hơn nữa cơ thể ta có thể
làm vô hiệu hóa axít bằng cách huy động những chất kiềm để trung ḥa
những axít dư thừa này.
Nếu
không đủ chất kiềm để trung ḥa, những axít này có thể tạm thời đươc
tồn trữ trong những mô liên kết, lúc này cần phải triệt để thành lập
lại cơ chế ăn uống để lấy lại cân bằng acido-basique v́ nếu để kéo
dài t́nh trạng axít, những vận hành trong cơ thể bị ảnh hưởng, xấu
nhất là trong trường hợp sự chuyển hóa bị rối loạn, hiện tượng này
không
xảy ra một cách ấn tượng, nhưng tiến
triễn một cách chậm chạp, và
gây ra những rối loạn đặc trưng như:
- Thiếu năng động
- Dễ bị mệt, có cảm giác lạnh
- Thiếu tập trung
- Móng tay chân mềm, dễ bể
- Dễ bị dị ứng
- Đau các khớp xương (bệnh thấp khớp, viêm khớp, viêm
xương khớp, loăng xương)
- Dễ bị nhiễm trùng
- Dễ bị kích thích, dễ bị nóng nảy
- Loét trên môi và trong miệng, đường nứt bên góc môi
Nguyên do
-
Thức ăn chứa quá nhiều axít
-
Thiếu oxy : thường xảy ra cho những người sống ở tỉnh thành
-
Stress, làm việc quá độ, thiếu ngủ, v́ khi cơ thể ta mệt sự chuyển
hóa sẽ chậm lại và sự đào thải độc tố cũng bị ngừng trệ.
Hậu
quả của sự nhiễm axít là cơ thể ta không thể duy tŕ được trong t́nh
trạng axít nên sẽ huy động tất cả chất khoáng cần thiết có trong
thực phẩm để trung ḥa lượng axít dư thừa trong cơ thể, nhưng nếu
chính những thực phẩm này lại có chứa chất axít và kết quả là cơ thể
ta sẽ mất dần lượng chất khoáng dự trữ của cơ thể nên có thể ảnh
hưởng xấu đến xương, răng và các khớp xương, các biến chứng như mệt,
rỗng xương, hệ thống thần kinh bị rối loạn (như trong phần 2 của
tuyển tập dinh dưỡng có đề cập đến trường hợp thiếu calcium và ảnh
hưởng đến hoạt động của năo mặc dầu chỉ 1% calcium dùng cho năo (99%
cho xương và răng) nhưng nếu chất khoáng này không đủ để thực hiện
sự vận hành của hệ thống truyền tin và nhận tin của tế bào năo th́
toàn bộ hệ thống thần kinh sẽ bị rối loạn, sẽ phát sinh ra những
triệu chứng như căng thẳng, bồn chồn, dễ bị kích thích, hay quên,
không tự chủ, trầm uất…).
Axít
sẽ phá hủy chất flore trong ruột, độc tố phát sinh nhiều có thể làm
cản trở những trao đổi sự nuôi dưỡng giữa các tế bào, lâu ngày các
mô sẽ giảm và bị xói ṃn và phát sinh ra rất nhiều chứng bệnh như
viêm bọng đái, bệnh nấm, mề đai, viêm dạ dày.
Hầu
hết số lớn axít trong cơ thể ta do sự ăn uống không tốt, không cân
bằng. Những thức ăn mà chúng ta hấp thụ thông thường có pH trung
tính, nhưng trong quá tŕnh chuyển hóa bởi tế bào trong cơ thể, axít
hoặc kiềm có thể được phát sinh, như trường hợp trái chanh có vị
chua axít nhưng không phải là chanh có tính axít mà sau quả tŕnh
chuyển hóa chanh lại cho nhiều chất kiềm, số lượng kiềm này cao hơn
lượng axít trong trái chanh nên các nhà dinh dưỡng cho rằng chanh là
một loại thực phẩm có tính kiềm rất tốt.
Theo
lời khuyên của các nhà chuyên môn dinh dưỡng, để có thể có được cân
bằng acido-basique trong cơ thể nên hấp thụ những thực phẩm chứa
chất kiềm 4 lần lớn hơn những thực phẩm chứa chất axit
Nên
nhớ rằng những người bị stress, những người hút thuốc, uống rượu
nhiều sẽ làm gia tăng sự mất cân bằng acido-basique. Những người bị
tiểu đường hoặc những người có chế độ ăn uống kiêng cữ để chữa bệnh
(bệnh béo ph́), lượng axít trong cơ thể có thể tự động tăng cao (chế
độ kiêng cữ đường và hấp thụ nhiều chất đạm).
Ngoài sự cân bằng ăn uống giàu chất khoáng có nhiều trong các loại
trái cây rau củ, trong mỗi bữa ăn nên nhai thật
kỹ v́ nước miếng có
tính kiềm có thể trung ḥa một số axit trong hệ thống tiêu hóa và
giúp tiêu hóa thức ăn được dễ dàng, uống nhiều 2-3 lít/ngày, tập thể
dục thường xuyên, hăy bổ sung nhiều oxy để có thể kích hoạt cho sự
chuyển hóa và để tránh tồn trữ những chất cặn
bă độc hại.
Phương pháp
chống lại sự bị nhiễm axit
- Giảm lượng thực phẩm có
tính axit
-
Tăng lượng thức ăn rau củ trái cây tươi cùng lúc
tránh dùng quá nhiều những loại thực phẩm
chứa nhiều chất xơ (mặc dầu chất xơ rất tốt cho đường ruột)
v́ nếu thực phẩm chứa nhiều chất kiềm nhưng quá nhiều chất xơ có thể
gây kích ứng và làm rát ruột
-
Có vài loại thuốc bổ sung có thể nâng cao pH của nước tiểu :
acétazolamite, citrate de potassium, tránh bổ sung chất khoáng chứa
những bicarbonates v́ là một chất muối của ion bicarbonate (HCO 3)
– có tính axít.
-
Hấp thụ nhiều những thức ăn chứa nhiều chất khoáng có tính kiềm.
-
Ăn uống chậm, nhai kỹ, lợi dụng tối đa đặc tính kiềm của nước miếng.
-
Tập thể dục thể thao, đào thải maximum những axít và độc tố phát
sinh trong quá tŕnh tiêu hóa vả chuyển hóa.
Trong trường hợp bị nhiễm axit hăy rất thận trọng đến da v́ da sẽ bị
khô, bị nứt và xuất hiện những mề đai.
Khi
bị nhiễm axit và khi bị stress quá nặng cần phải hấp thụ nhiều những
thức ăn giàu chất khoáng có tính kiềm và phải có sự kết hợp cân bằng
của những chất này, không những để ngăn cản sự tàn phá các cơ quan
trong cơ thể bởi sự dư thừa axít mà c̣n cung cấp đầy đủ cho những
hoạt động tốt của các cơ quan như:
- Calcium : ổn
định cho xương.
- Magnésium :
giúp cho sự chuyển hóa năng lượng, cung cấp năng lượng cho cơ thể
trong trường hợp tiêu thụ nhiều về vật chất và tinh thần.
- Kẽm : tham
gia vào những quá tŕnh chuyển hóa quan trọng và giúp hệ miễn dịch
được tốt.
- Manganèse :
hỗ trợ sự chuyển đổi những chất dinh dưỡng trong cơ thể.
Theo
thói quen ăn uống và lối sống hiện đại, cân bằng acido-basique
thường hay bị phá vỡ và dẫn đến t́nh trạng bị nhiễm axít. Sự mất cân
bằng acido-basique trong chức năng của các cơ quan khác nhau của cơ
thể (máu, bạch huyết, thể dịch, miệng, bao tử, ruột, phổi, thận)
phát sinh ra sự quá tải những độc tố đủ loại. Những chất cặn
bă được
tích lũy như vi khuẩn, kư sinh trùng vân vân hoặc những độc tố thực
phẩm dư thừa không được đào thải như acide urique, urée,
cholestérol, xơ vữa động mạch (athérosclérose). Sự quá tải những
chất cặn bă trong cơ thể cơ thể gây ra nhiều tổn hại cho các cơ quan
v́ huyết thanh và dung dịch hữu cơ mang những chất
cặn bă càng lúc
càng dầy đặc và làm cho sự tuần hoàn máu càng thêm khó khăn và nếu
tuần hoàn máu bị chậm lại sự trao đổi giữa những tế bào sẽ xấu hơn,
những chất dinh dưỡng và oxy sẽ không được cung cấp b́nh thường đến
những tế bào. Ngoài những bệnh chức năng, c̣n có thêm những tổn hại
gây ra bởi sự tàn phá của những chất
cặn bă, những độc tố axít, cuối
cùng dẫn đến sự tiêu hủy các mô, sự mất cân bằng acido-basique có
thể gây ra những bệnh măn tính, thoái hóa.
Trong cùng một cơ quan, khi bị nhiễm axit, cơ thể tự động lấy chất
kiềm để trung ḥa axít như trong trường ở ruột lượng tồn trữ chất
kiềm cạn dần sẽ phát sinh t́nh trạng không ổn định của chất flore,
vi khuẩn hoại sinh ruột (có hơn 400 loại hoại sinh trong ruột) những
chất này có nhiệm vụ bảo đảm tính bền vững của hệ thống miễn dịch và
trung ḥa những mầm gây bệnh. Chỉ một thay đổi nhỏ của pH về phía
axít trong ruột cũng có thể làm tăng sinh những mầm gây bệnh như
bệnh nấm tiêu hóa (bệnh khuẩn que coli, viêm bọng đái, viêm xoang,
viêm họng, viêm thận..).
4) Những loại
thực phẩm
tiêu biểu chứa
chất axít và chất kiềm
|
Tổng quát
|
|
Nhóm thực
phẩm
phần lớn
chứa chất kiềm
|
Nhóm thực
phẩm phần lớn
chứa chất
axít |
|
Trái cây
Rau
cải
Các
loại củ
Các
loại cỏ thơm
Các
loại hạt
Nước khoáng |
Các
loại thịt và thực phẩm thay thế
Các
loại sữa và thực phẩm thay thế
Bánh ḿ và thực phẩm thay thế
Những thực phẩm chế biến
Những thức uống chứa caféine (trà, cà phê)
Rượu, bánh ngọt
Nước uống có gaz như limonade |
|
Trái cây
|
|
Trái cây có
vị chua |
Trái cây
khô |
|
|
Kiềm |
Axít |
|
Kiềm |
Axít |
|
Thơm |
● |
|
Mơ |
|
● |
|
Chanh |
● |
|
Chuối chín |
● |
|
|
Lựu |
● |
|
Sung |
● |
|
|
Lư
chua |
● |
|
Lê |
● |
|
|
Quít |
● |
|
Táo |
● |
|
|
Cam |
|
● |
Mận |
|
● |
|
Bưởi |
● |
|
Nho |
● |
|
|
Trái cây
|
|
Trái cây có
vị chua ngọt |
Trái cây
ngọt trung b́nh |
|
|
Kiềm |
Axít |
|
Kiềm |
Axít |
|
Mơ |
|
● |
Dưa
gang tây |
● |
|
|
Anh
đào |
● |
|
Dưa
hấu |
● |
|
|
Dâu
tấy |
● |
|
|
|
|
|
Quả
đào |
● |
|
|
|
|
|
Lê |
● |
|
|
|
|
|
Táo |
● |
|
|
|
|
|
Sung |
|
● |
|
|
|
|
Nho |
● |
|
|
|
|
|
Cà
chua |
● |
|
|
|
|
|
Trái cây
|
|
Trái cây có
vị ngọt |
Trái cây có
dầu |
|
|
Kiềm |
Axít |
|
Kiềm |
Axít |
|
Chuối |
● |
|
Quả
hạnh khô |
● |
|
|
Chà
là |
● |
|
Quả
phỉ |
|
● |
|
Sung |
● |
|
Quả
hồ đào |
|
● |
|
Táo
ngọt |
● |
|
Quả
đào lạc |
|
● |
|
Nho
ngọt |
● |
|
Hạt
dẻ |
● |
|
|
|
|
|
Noix Brésil |
● |
|
|
|
|
|
Dừa |
|
● |
|
|
|
|
Hạt
Mè |
|
● |
|
Rau củ
|
|
Rau củ có
tinh bột thấp |
Rau củ có
tinh bột trung b́nh |
|
|
Kiềm |
Axít |
|
Kiềm |
Axít |
|
Măng tây |
|
● |
A
ti sô |
|
● |
|
Cà
tím |
● |
|
Củ
dền đỏ |
● |
|
|
Bông cải xanh |
● |
|
Cà
rốt |
● |
|
|
Rau
ca đông (cardon) |
● |
|
Cần
tây |
● |
|
|
Nấm |
● |
|
Củ
hành |
|
● |
|
Rau
diếp xoăn (chicoré) |
● |
|
Rau
mùi tây
(persil) |
●
|
|
|
Bắp
cải trắng |
● |
|
Tỏi |
● |
|
|
Bông cải trắng |
● |
|
Củ
cải (navet) |
● |
|
|
Hành lá |
● |
|
Bắp
cải (Bruxelles) |
|
● |
|
Khoai lang tây |
● |
|
|
|
|
|
Khoai lang ngọt |
● |
|
|
|
|
|
Dưa
leo |
● |
|
|
|
|
|
Bí
đao |
● |
|
|
|
|
|
Bầu |
● |
|
|
|
|
|
Cải
cresson |
● |
|
|
|
|
|
Rau
dền |
● |
|
|
|
|
|
Đậu
Ḥa Lan |
● |
|
|
|
|
|
Sà
lách |
● |
|
|
|
|
|
Rau
mát |
● |
|
|
|
|
|
Hành tây |
|
● |
|
|
|
|
Bí
rợ |
● |
|
|
|
|
|
Củ
cải trắng |
● |
|
|
|
|
|
Rau củ
|
|
Rau củ có
chất béo |
Glucides |
|
|
Kiềm |
Axít |
|
Kiềm |
axit |
|
Avocat |
● |
|
Mật |
|
● |
|
Olive |
● |
|
|
|
|
|
Các loại
đậu khô |
Thức ăn chế
biến từ sữa |
|
|
Kiềm |
Axít |
|
Kiềm |
Axít |
|
Đậu
tằm |
|
● |
Bơ |
|
● |
|
Đậu
Hà Lan |
|
● |
Crème tươi |
|
● |
|
Đậu
nành |
● |
|
sữa
ḅ |
|
● |
|
Đậu
lăng |
|
● |
sữa
mẹ |
● |
|
|
Đậu
trắng |
|
● |
|
|
|
|
Đậu
đỏ |
|
● |
|
|
|
|
Đậu
xanh |
● |
|
|
|
|
Chanh có vị rất chua, nhưng
chứa rất nhiều chất khoáng nhất là potassium và calcium với tỉ lệ
calcium/phosphore lư tưởng bằng 1,4, tỉ
lệ này
tốt cho sự hấp thụ của calcium trong cơ thể, ngoài ra chanh có chứa
vitamine C giúp cho sự đồng hóa calcium tốt hơn.
|
Thức ăn chế
biến
từ các loại
ngũ cốc |
Các loại
fromage
Trứng
|
|
|
Kiềm |
Axít |
|
Kiềm |
Axít |
|
Yến
mạch (avoine) |
|
● |
|
|
|
|
Lúa
ḿ chưa xay |
|
● |
sữa
đông từ sữa khô |
● |
|
|
Bột
trắng |
|
● |
Fromage trắng |
● |
|
|
Bột
bắp |
|
● |
Yaourt không béo |
● |
|
|
Bột
yến mạch |
|
● |
Yaourt đậu nành |
● |
|
|
Tinh bột |
|
● |
Yaourt bifidus |
|
● |
|
Bắp |
|
● |
Yaourt |
|
● |
|
Lúa
mạch chưa xay |
● |
|
Tṛng đỏ trứng |
● |
|
|
Gạo
chưa xay |
|
● |
Tṛng trắng trứng |
|
● |
|
Bánh ḿ trắng |
|
● |
|
|
|
|
Khoai lang tây |
|
● |
|
|
|
|
Những
thực phẩm có tính
suy biến
và thoái hóa
|
|
Thực phẩm
có nguồn gốc động vật
|
Thực phẩm
linh tinh khác |
|
|
Kiềm |
Axít |
|
Kiềm |
Axít |
|
Thịt ḅ, thịt trừu,
thịt
heo |
|
● |
Rượu |
|
● |
|
Tim
heo |
|
● |
Cacao |
|
● |
|
Óc
|
|
● |
Đồ
gia vị |
|
● |
|
Tôm,
cua,ghẹ |
|
● |
Bánh ngọt |
|
● |
|
Các
loại cá |
|
● |
Đường trắng |
|
● |
|
Thịt gia cầm |
|
● |
Trà
đen, trà xanh |
|
● |
Những
thức ăn trên có khuynh hướng làm mất cân bằng acido-basique, phát
sinh ra sự nhiễm axit và gây ra nhiều biến chứng bệnh nguy hiểm cho
cơ thể, nhưng chất đạm là những chất dinh dưỡng cần thiết cho sự bảo
tŕ và tái tạo tế bào trong cơ thể, vậy để tránh sự nhiễm axit, theo
lời khuyên của các nhà dinh dưỡng ta nên hấp thụ ít chất đạm và
nhiều thức ăn thực vật có chứa nhiều chất kiềm vừa có đủ chất đạm
vừa có được cân bằng acido-basique.
Gần
đây theo hăng tin New Kerala nhóm nghiên cứu nhận thấy một yếu tố có
liên quan tới việc xác định một số điều kiện như chế độ ăn thấp
calorie, có thể làm tŕ hoăn việc phát sinh một số bệnh liên quan
tới tuổi già như bệnh Alzheimer. Nếu hạn chế 30% năng lượng hấp thụ
có thể giúp tăng tuổi thọ lên đến 50% !!.
Những kết quả xác định tính kiềm hoặc acide trong các thực phẩm được
nêu lên chi có giá trị tương đối v́ có sự bất đồng ư kiến trên một
vài trường hợp đặc biệt giữa các nhà nghiên cứu và giữa các nhà
chuyên môn về dinh dưỡng nhưng phần đông mọi người đều nh́n nhận
rằng những thức ăn chứa nhiều chất đạm là những chất có tính axít và
những thức ăn như rau củ trái cây, các loại hạt chứa nhiều chất kiềm.
Những kết quả kê khai trên có thể áp dụng và dùng làm tiêu chuẩn cho
tất cả các loại thực phẩm, ngoài ra để có thể đạt được cân bằng
acido-basique không những có cơ chế ăn uống hợp lư mà c̣n phải để ư
đến phương pháp kết hợp những thực phẩm trên để cơ thể có thể hấp
thụ tối đa những chất dinh dưỡng và để bảo vệ một cách hiệu quả cho
tất cả cơ quan trong cơ thể chống lại sự hao ṃn tổn hại do sự dư
thừa axít.
Môi
trường, thói quen ăn uống, sinh hoạt hàng ngày, đời sống hiên tại
của chúng ta thông thường kéo theo sự dư thừa quá nhiều axít và chất
kiềm hấp thụ khó có thể trung ḥa hoàn toàn axít trên. Hiện tượng
này gây ra rất nhiều loại bệnh mà người ta gọi là « bệnh văn minh».
Nhưng nếu cố gắng bỏ được những thói quen xấu về cơ chế ăn uống,
nhất là nên hạn chế tối đa chất đạm động vật và thay thế bằng chất
đạm thực vật, ăn nhiều trái cây rau củ, kiểm soát thường xuyên độ
axít trong nước tiểu nếu thấy có triệu chứng bị nhiễm axít, hăy thay
đổi nhanh chóng cơ chế ăn uống để có thể lấy lại cân bằng axít-kiềm,
tránh đừng để t́nh trạng nhiễm axít kéo dài.
Để
giữ ǵn sức khỏe, hăy bài trừ những nguyên do gây ra axít, một khi
có được cân băng acido-basique những rối loạn trong cơ thể sẽ biến
mất, muốn thực hiện điều này cần phải có cơ chế ăn uống hoàn hảo.
Trong giai đoạn đầu cần phải có cơ chế ăn uống ít chất đạm và
giàu
rau củ, ngũ cốc: rau xanh, sống hoặc chín, trái cây và ngũ cốc như
chuối, hạt dẻ, trái cây khô trừ trái mơ, uống nhiều nước khoáng,
tiếp theo sau đó ta có thể áp dụng cơ chế ăn uống b́nh thường, từ từ
hấp thụ chất đạm động vật như fromage, trứng (1-2 trứng/tuần), những
thực phẩm từ sữa (yaourt không béo, fromage trắng, tránh fromage
cứng và fromage để lâu). Cuối cùng nếu cơ thể ở trong t́nh trạng
nhiều axít hăy dùng citrates hữu cơ để cung ứng nguồn dự trữ chất
kiềm.
Để chứng minh rằng tiêu thụ nhiều chất đạm
không tốt cho sức khỏe, gần đây nhiều kết quả rất ấn tượng từ nhiều
nghiên cứu trên thế giới:
-
Theo báo cáo của nhiều chuyên gia dinh dưỡng Pháp đă tŕnh bày vào
cuối năm 2010, liên quan đến sự an toàn thực phẩm, môi trường và
việc làm (Anses) về những nguy hiểm phát sinh ra từ chế độ kiêng cữ
ăn uống (nhiều chất đạm và ít chất đường).
-
Gần đây một nhóm các nhà khoa học đă theo dơi chế độ ăn uống của hơn
43000 người phụ nữ Thụy Điển có độ tuổi từ 30-49. Sau 15 năm theo
dơi, các nhà nghiên cứu cho biết những phụ nữ theo chế độ ăn uống
« Atkins » nhiều chất đạm (hyperprotéines), ít chất carbohydrate
(hypoglucidiques), tăng 28% rủi ro bệnh tim mạch và đột quy.
-
Tiến sĩ Pagona Lagiou, giáo sư Dịch tể học tại trường y thuộc đại
học Athens ở Hy Lạp cho biết chế độ ăn thấp carbohydrate, cao chất
đạm thường được phụ nữ chọn như cách để kiểm soát sự béo ph́, tuy
nhiên nhiều phụ nữ đă gặp rắc rối với sức khỏe tim mạch. Giáo sư
Lagiou cho rằng phụ nữ muốn giảm trọng lượng nên dựa vào việc tăng
cường các hoạt động thể chất hàng ngày và giảm hấp thụ chất đạm và
những thực phẩm chứa nhiều calories.
-
Samantha Heller, một chuyên gia về sinh lư học và dinh dưỡng tại
trung tâm Ung thư bệnh viện Griffin ở Derby Anh cho biết, nên duy
tŕ chế độ ít thịt, bên cạnh đó ăn nhiều đậu, hạt,
sữa chua ít béo
để tránh nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quy.
Chương 2
Gốc tự do và
lăo hóa
1) Gốc tự do
(radical libre)
Gốc tự do là một chất hóa
học có một hoặc nhiều điện tử không phù hợp nằm trên
quỹ đạo bên
ngoài cùng của chất này, gốc tự do xuất phát từ những
phản ứng oxy hóa khử (oxydo-réduction)
là một phản ứng hóa học trong đó có sự thay đổi những điện tử
(électrons). Một chất hóa học nhận môt hoặc nhiều điện tử được gọi
là chất oxy hóa, c̣n chất nhường một hoặc nhiều điện tử được gọi là
chất khử có nghĩa là có sự di chuyển những điện tử của một chất đến
chất bị oxy hóa. Phản ứng này phát sinh ra gốc tự do và kèm theo
phản ứng dây chuyền có ảnh hưởng
độc hại đến sức khỏe v́ có đặc tính phá hủy những tế bào trong cơ
thể.
Gốc
tự do là một phân tử không bền,
trong phần lớn những phân tử hữu cơ, những nguyên tử được kết nối
với nhau bằng những kết cộng hóa trị (liaisons covalentes) là một
lực phát sinh sự thu hút lẫn nhau giữa những nguyên tử. Kết cộng hóa
trị này có thể bị phá vỡ khi tiếp xúc với một nguồn năng lượng ánh
sáng hoặc nhiệt với cường độ lớn hoặc những phản ứng hóa học oxy hóa
khử (oxydo-réduction), bởi sự kiện này phát sinh ra
những điện tử độc thân (électrons
célibataires) từ đó phát sinh ra nhiều phản ứng tương tự mà kết quả
là làm tổn hại đến sức khỏe.
Gốc
tự do rất bất ổn, rất năng động và có khả năng kích hoạt cấu tạo mới
làm lây lan dây chuyền đến các vật chất khác và có khuynh hướng phối
hợp với những vật chất này để có thể tái thành lập kết cộng hóa trị,
trong quá tŕnh chuyển hóa, sự lây lan của những gốc tự do này xảy
ra bên trong các sinh vật sống, kết quả cuối cùng là tiêu diệt một
phần hoặc toàn diện cấu trúc của các mô lân cận.
Gốc tự do có chức năng tàn
phá những vật chất trong cơ thể như enzyme, hormone, collagene, màng
tế bào .. làm hao ṃn tế bào, mô và cơ quan và phát sinh ra
hiện tượng lăo hóa.
Để
biết rơ nguyên nhân và ảnh hưởng của gốc tự do, ta hăy t́m hiểu về
cấu trúc nguyên tử của một vật chất, nhất
là nguyên tử oxy.
Trong thiên nhiên một vật chất được cấu tạo bởi nhiều nguyên tử, và
nguyên tử lại được cấu tạo bởi những
nucléons (proton+neutrons) và
électrons (điện tử). Như đă được tŕnh bày trên trong phản
ứng oxy hóa, phát sinh ra điện tử cô đơn
(électron célibataire). Điện tử này đi t́m phối hợp với một
cấu trúc sinh lư láng giềng khác bằng cách lấy trộm một điện tử của
chất này và kết quả là làm tổn hại đến cấu trúc của chất này, tiếp
theo chất này lại bắt buộc t́m cách thay thế một điện tử đă bị lấy
nên trở thành kẻ săn mồi, hiện tượng này xảy ra liên tục và được gọi
là phản ứng dây chuyền (réaction en
chaine).
V́
cấu trúc của nguyên tử và điện tử của một vật chất có liên quan đến
gốc tự do và nguồn gốc của hiện tượng lăo hóa, sau đây là chi tiết
1) Nguyên tử và
điện tử
Cấu
trúc của một nguyên tử : theo quy ước cấu trúc của một nguyên tử gồm
có hai phần : phần nhân và chung quanh phần nhân này có nhiều điện
tử nằm trên một số quỹ đạo cũng có thể gọi là lớp điện tử, tùy theo
mỗi nguyên tố, trong phần nhân có chứa một số
nucléons (protons+neutrons) trong
mỗi quỹ đạo chứa một số điện tử
(électrons)
Về
phương diện điện tích , proton có điện
tích dương, nucléon có điện tích trung tính và électron
có điện tích âm.
Những điện tích âm này được phân chia trên nhiều
quỹ đạo. Mỗi quỹ đạo có thể chứa một số électrons giới hạn, thí dụ ở
quỹ đạo gần nhứt
phần nhân của nguyên tử được bảo ḥa với 2 électrons và phần đông
trong những nguyên tố, quỹ đạo bên ngoài cùng không bảo ḥa, như vậy
nguyên tố này có thể hoặc nhận hoặc cho một số électrons. Khi một
nguyên tử có khuynh hướng cho
« électrons » sẽ trở thành ion dương, ngược lại nếu nguyên tử
nhận « électrons » sẽ trở thành ion
âm.
Thí
dụ như một phân tử muối (ta thường dùng hàng ngày để nấu ăn) có kư
hiệu hóa học là NaCl, nếu muối này bị phân ly và trở thành Na+,
và Cl–.
Ion Na+,
được gọi là cation (dấu cộng :dương) và Cl–
được gọi là anion (dấu trừ :âm). Kư hiệu Na+,
có nghĩa là sodium mất một électron và kư hiệu Cl–
có nghĩa là chlorure nhận một électron.
Một
nguyên tử được cấu tạo bằng một hạt nhân, hạt nhân này được bao bọc
bởi nhiều lớp điện tử (couches électroniques),
theo qui luật về sự cấu trúc này của ông
Pauli, có nhiều lớp điện tử, trên mỗi lớp số électrons sắp
xếp theo công thức 2n2 (n=1 cho lớp
đầu tiên)
Lớp
đầu tiên có tên là « K », khả năng chứa là 2 (n=1)
Lớp
thứ hai « L », khả năng chứa là 8 (n=2)
Lớp
tiếp theo « M », khả năng chứa 18 (n=3)
Lớp tiếp theo « N », khả
năng chứa 32 (n=4)
Các
lớp tiếp theo « O,P,Q », khả năng chứa được giới hạn là 32
Có
nhiều chất không theo qui luật này.Vài thí dụ tiêu biểu cho những
chất này : Potassium : Z= 19 (K=2, L=8, M=8 và N=1)
Uranium : Z=92 (K=2, L=8, M=18, N=32, O=21, P=9 và Q=2)
2) Nguyên tử oxy
V́
nguyên tử oxy liên quan mật thiết
đến gốc tự do cũng là nguyên nhân
của sự lăo hóa trong cơ thể. Phần
đông oxy có trong nước và không khí
Nếu
ta phân chia một giọt nước ra làm
hai giọt nước nhỏ, và nếu tiếp tục sự kiện này, đến một lúc nào đó,
một giọt nước nhỏ nhất được trở thành một phân tử và nếu ta phân
chia phân tử này làm hai phần, khi đó ta không c̣n thấy sự hiện diện
của nước mà thành phần lúc này của phân tử là một nguyên tử oxy và
hai nguyên tử hydrogène.
Các
nhà dinh dưỡng cho rằng oxy là nguồn sống
cũng là nguồn chết của con người, Thân thể chúng ta cần oxy
để tồn tại, những tế bào dùng oxy sản xuất ra nhiều gốc tự do, gốc
tự do này tham gia vào nhiều phản ứng hóa học và phát sinh ra nhiều
hoạt động chuyển hóa của tế bào.
Dưới
đây là chi tiết về ảnh hưởng của nguyên tử oxy đến các tế bào trong
cơ thể.
-Kư hiệu của proton là Z (số này
xác định tính chất của một vật thể đơn thuần), Z cũng được gọi là số
nguyên tử
-Kư hiệu của neutrons là N
-Kư hiệu A được gọi là số
khối lượng nguyên tử và bằng Z+N
-Kư hiệu của số électrons là Z v́ trong một nguyên tử số
protons và số électrons lúc nào cũng bằng nhau.
Như
ta biết rằng số khối lượng nguyên tử oxy A=16, vậy th́ số Z=8, số
N=8 và sau cùng số électrons bằng với số
protons và bằng Z=8
Tám électrons của nguyên tử oxy
xoay chung quanh hạt nhân và được nằm trên 2
quỹ đạo : 2 électrons
nằm trên quỹ đạo thứ nhất và 6
électrons nằm trên quỹ đạo thứ hai.
Nhưng theo quy tắc một nguyên tử được cho
là ổn định, quỹ đạo bên ngoài cùng phải được bảo ḥa, trong
trường hợp của nguyên tử oxy th́ quỹ
đạo thứ hai cũng là quỹ đạo bên
ngoài cùng phải có 8 électrons v́ vậy theo quy tắc th́ phân tử oxy
được cho là không ổn định v́
thiếu 2 électrons nên nguyên tử oxy đi t́m kết hợp với một chất khác
để lấy 2 électrons. Thí dụ như oxy phản ứng với sắt là một kim loại
dễ dàng cho 2 électrons.
Để
có thể hiểu tại sao một phân tử được cho là không bền (không ổn định)
và tại sao lại có phản ứng dây chuyền,
dưới đây là vài chi tiết :
Chẳng hạn như phản ứng hóa học giữa oxy và sắt, rỉ sắt là kết quả
của một phản ứng oxydation của sắt, như vậy oxy là một chất gặm ṃn
rất mạnh khi có phản ứng với sắt vi oxy là nguyên tử không bền, rất
năng động nên kết hợp dễ dàng với sắt và cho ra một chất, chất này
không c̣n là oxy cũng như không c̣n là sắt mà là oxyde de fer, trong
phản ứng này phát sinh ra vài điện tử đơn
độc (électrons célibataires), điện tử này lại đi t́m kết hợp
với những chất khác và phá hủy chất này nên được gọi là
phản ứng dây chuyền, nếu những chất
bị oxy hóa là những vật chất sinh học trong cơ thể th́ gốc tự do sẽ
tiêu diệt các tế bào trong cơ thể, sự phá hoại của phản ứng dây
chuyền này có thể so sánh với phản ứng dây chuyền của
nguyên tố uranium trong ḷ phản ứng
nguyên tử (phản ứng này không phải là phản ứng hóa học mà là phản
ứng nguyên tử), nguyên tử uranium có bảy quỹ
đạo và quỹ đạo bên
ngoài cùng chỉ chứa có hai électrons nên được cho là không bền,
trong phản ứng nguyên tử cũng phát sinh ra vài
điện tử đơn độc (électrons
célibataires) và cũng từ đó gây ra phản
ứng dây chuyền.
3) Ảnh hưởng của
gốc tự do
Gốc
tự do cá hai nhiệm vụ tương phản, gốc tự do được sản xuất b́nh
thường bởi những tế bào của cơ thể có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nhất là
cho hệ miễn dịch nhưng cũng là nguồn gốc gây ra nhiều chứng bệnh và
sẽ trở thành nguy hiểm nếu số lượng gốc
tự do vượt quá khả năng trung ḥa của cơ thể bởi những
chất chống oxy hóa (antioxydants).
a) Ẩnh
hưởng tốt : như đă được đề cập, oxy hóa là một phản ứng hóa
học oxydo-réduction, trong phản ứng này một số électrons được di
chuyển từ một chất qua một nguyên tố oxydant. Phản ứng này chỉ xảy
ra với sự hiện diện của oxy.
Sự
sản xuất những gốc tự do bởi các cơ quan là tuyệt đối cần thiết,
thân thể con người cần oxy để tồn tại, những tế bào dùng oxy để sản
xuất nhiều loại oxy hóa liên quan đến hàng ngàn phản ứng hóa học kèm
theo những hoạt động chuyển hóa của tế bào.
Phần
đông những gốc tự do này tham gia vào sự tu tŕ bảo dưỡng và cho sự
vận hành của nhiều cơ quan cũng như quá tŕnh thụ tinh, cho sự
trưởng thành và cho sự vận hành của các tế bào, gốc tự do đóng vai
tṛ quan trọng cho sự sản xuất những tế bào trung gian (can thiệp
đến nhiều chức năng sinh hóa), đào thải những độc tố và bảo vệ sự
thâm nhập các vi khuẩn và vi rút. ngoài ra gốc tự do c̣n chống lại
những tế bào của khối u.
b) Ẩnh hưởng xấu : gốc tự do cũng
liên lụy vào nhiều cơ chế kích hoạt hoặc phát triển bệnh lư và trong
quá tŕnh biến đổi có thể làm rối loạn các cơ quan và làm gia tăng
sự lăo hóa.
Ta thường thấy gốc tự do
phát sinh từ những phản ứng hóa học :
Thở :
mitochondrie là trung tâm năng lượng của cơ thể, nó đốt những chất
dinh dưỡng (chất đường, chất béo…) nhờ oxy, để cung cấp năng lượng.
Một phần của những phân tử oxy này không thể hoặc dùng không tốt có
thể gây ra những phản ứng oxy hóa trên những thành phần khác của cơ
thể
Hệ thống miễn
dịch :
trong hệ thống miễn dịch, cơ thể dùng một chất oxy hóa rất mạnh để
tiêu diệt những chất gây ra bệnh như monoxyde azote (NO). Nhưng nếu
sự nhiễm trùng thường xuyên lên quá nhiều, số lượng monoxyde azote
tăng cao.
Môi trường sinh hoạt thói quen
-
Khói thuốc chứa phần lớn
chất oxyde azote, khí thải và các loại yếu tố ô nhiễm khác.
- Sắt
nếu dùng với một lượng lớn rất có hại cho cơ thể v́ phát sinh
ra gốc tự do (oxy có thể phối hợp dễ dàng với sắt).
- Mặt trời với những tia cực tím có
thể làm khởi động sự tăng cao phản ứng oxy hóa.
- Hoạt động thể thao : hầu hết tất
cả các loại thể thao với cường độ mạnh
gây ra sự tăng cao hô hấp, cơ thể cần nhiều oxy, năng lượng phát
sinh cũng nhiều, đó là những yếu tố phát sinh ra nhiều gốc tự do.
4) Nguồn gốc của
gốc tự do
1)
Gốc
tự do superoxydes :
là những chất phát sinh trong quá tŕnh chuyển hóa năng lượng trong
tế bào, hoặc giống như kết quả của sự tự oxy hóa hoặc do những sự
vận hành của những enzymes như những oxydases, những gốc tự do
superoxydes bị vô hiệu hóa bởi một enzyme superoxyde dismutase (SOD)
để trở thành péroxyde hydrogene, gốc tự do này hoạt động trên hai
lĩnh vực, là chất chủ yếu cho hoạt động diệt khuẩn trong thực bào (tế
bào trong cơ thể có khả năng hấp thụ và tiêu diệt tế báo khác),
nhưng chất superoxydes này cũng có thể là chất trung gian làm tổn
hại đến các mô trong cơ thể.
2)
Gốc tự do hydroxyles : gốc
tự do này h́nh thành do nhiều phản ứng hóa học liên quan đến hydro
trong quá tŕnh chuyển hóa tế bào, gốc tự do hydroxyles có tiếng là
những gốc tự do rất năng động, là những chất trung gian chánh liên
quan đến những thiệt hại gây ra bởi gốc tự do trong cơ thể.
3)
Oxyde nitrique : là một gốc tự do ở thể khí ḥa tan, đóng
vai tṛ quan trọng trong sinh lư bệnh tế bào, oxyde nitrique là ch́a
khóa chuyển tin giăn mạch từ endothélium (là lớp bên trong nhất của
mạch máu) đến tế bào mạch máu có thể tham gia tích cực cho sự di
chuyển thức ăn đến các cơ, tham gia vào sự bảo vệ hệ miễn dich.
oxyde nitrique được tổng hợp từ Arginine và oxy bởi vài enzyme như
nitrique oxyde synthase, oxyde nitrique có nhiệm vụ che chở màng bên
trong của mạch máu. V́ vậy nếu có sự thay đổi nồng độ nội và ngoại
tế bào sẽ gây ra nguy hiểm cho sự lưu thông máu, cho sự phát triển
cơ bắp và nhiều bất lợi khác cho cơ thể.
Hiện
tượng lăo hóa bên ngoài cơ thể mà chúng ta thấy được như da nhăn
ngoài ra bên trong các cơ quan thông thường liên quan sâu sắc đến
những gốc tự do. Như đă tŕnh bày trên gốc tự do này rất năng động
làm tổn hại chất đạm, chất béo và tấn công các ADN, mặc dầu cơ thể
chúng ta có thể bảo tŕ hoặc tái tạo lại được những tế bào bị hư hại
nhưng phần đông không đủ và v́ vậy nên với
thời gian sẽ phát sinh ra hiện tượng lăo hóa cơ thể.
2) Gốc tự do và
triệu chứng bệnh
Tóm
lại gốc tự do là những chất hóa học (oxy, monoxyde d’azote….) là
những phân tử không ổn định, rất năng động đối với những phân tử
sinh học như chất đạm, chất béo, chất đường và ADN,
gây tổn hại không thuận nghịch đến
những vận hành chuyển hóa và đến cấu trúc của các chất, trong quá
tŕnh này, gốc tự do phá hủy những tế bào khỏe mạnh trong cơ thể,
kéo theo sự tổn hại đến toàn thể cơ quan và làm tăng nhanh sự lăo
hóa của những tế bào.
Gốc
tự do nếu không được trung ḥa bởi những
chất chống oxy hóa : vitamines, enzymes, chất khoáng, th́ gốc
tự do sẽ tiếp tục gây ra những phản ứng dây chuyền làm hại đến những
thành phần cấu tạo chánh của những tế bào sau đó làm suy giảm, phân
đoạn và sau cùng hủy diệt, và là nguồn gốc của hầu hết những bệnh
ung thư.
Vai
tṛ của những gốc tự do trong sự lăo hóa, làm tổn hại đến những tế
bào là một giả thuyết được xác định bởi một giáo sư người Mỹ Denham
Harmam có tên là « Stress oxydatif »
(không phải là stress tâm thần và stress tâm lư xă
hội, mà là
sự xâm lăng do phản ứng hóa học oxy hóa trong cơ thể).
Trong quá tŕnh oxy hóa ngoài sự suy thoái của những chất đạm, chất
béo, gốc tự do c̣n tấn công ADN của những tế bào, nhưng may mắn là
thân thể chúng ta có thể sản xuất những chất có khả năng chống lại
những tác động nguy hiểm của gốc tự do và có thể bảo tŕ những ADN.
Nhưng cũng có trường hợp mà những hoạt động của cơ thể không thể
chống trả được sự suy thoái một cách hiệu quả, hơn nữa sự bảo tŕ
ADN cũng không được trọn vẹn vi vậy nên những tế bào trong cơ thể có
thể bị hủy hoại và sinh ra những đột biến nguy hiểm.
Những triệu chứng gây ra bởi
gốc tự do
-
Da nhăn : hiện tượng này
được thấy rơ từ bên ngoài, những chất đạm là thành phần cấu trúc
của những tế bào da bị tấn công bởi những gốc tự do, cấu trúc này bị
yếu, hậu quả là da trở nên nhăo và rỗng.
-
Đục thủy tinh thể : giống
như chất đạm của da, chất đạm của thủy tinh thể trong đó có chứa
những chất lutein và zeaxanthine, bị thoái hóa bởi phản ứng oxy hóa
và kết quả làm cho thị giác bị giảm.
-
Nhồi máu : những axit béo bị
hủy hoại bởi những gốc tự do sau đó được đóng trên thành vách của
những mạch máu và cuối cùng làm cản trở sự lưu thông máu.
-
Ung thư : những tấn công
liên tục trên ADN có thể hủy hoại và làm biến tính những tế bào sau
cùng dẫn đến ung thư.
Gốc
tự do liên quan rất nhiều đến quá tŕnh chuyển hóa của cơ thể, sự
chuyển hóa này được xác định bởi những hoạt động của cơ thể như số
lượng calories hấp thụ từ thực phẩm, số calories tiêu thụ bởi cơ thể,
số nhịp đập của tim hoặc hô hấp…..cho nên nếu quá tŕnh chuyển hóa
càng nhiều càng làm gia tăng sản xuất gốc tự do và thúc đẩy nhanh sự
lăo hóa. Các nhà dinh dưỡng cho rằng để có tuổi thọ cao nên ăn ít
chất đạm, hấp thụ ít calories, có cơ chế ăn uống điều độ, cân bằng.
3) Những chất
chống oxy hóa
Chất
chống oxy hóa là những chất có nhiệm vụ cản trở gốc tự do oxy hóa
những chất đạm, chất axit béo và những phân tử khác trong cơ thể.
Như thế những chất chống oxy hóa này có chức năng bảo vệ cơ thể ta
chống lại những tác hại gây ra bởi gốc tự do.
Phản
ứng oxy hóa thông thường là một phản ứng dây chuyền, chất chống oxy
hóa có vai tṛ ngăn chặn phản ứng dây chuyền này và như thế sẽ ngăn
cản được sự tấn công những tế bào của cơ thể.
Những chất chống oxy hóa sẽ kết hợp với những gốc tự do và làm vô
hiệu hóa những gốc tự do và gốc tự do sẽ không c̣n khả năng oxy hóa
những chất đạm và những chất axit béo trong cơ thể.
Những phản ứng giữa chất chống oxy hóa và gốc tự do xảy ra liên tục
trong cơ thể, nên cơ thể cần một số lượng lớn chất chống oxy được
cung cấp từ những thức ăn hoặc những thực phẩm bổ sung để có thể
tiêu diệt được những gốc tự do dư thừa.
1) Bên trong cơ
thể
Cơ
thể có khả năng sản xuất nhiều loại enzyme, mỗi enzyme có một nhiệm
vụ duy nhất và tác động vào một phản ứng duy nhất, enzyme là một
chất đạm được thấy hầu hết trong tất cả tế bào. Trong trường hợp
chống lại gốc tự do ta có những loại enzymes :
Superoxyde dismutase (SOD):
được t́m thấy trong « trung tâm sản xuất năng lượng » mitochondries
của những tế bào, enzyme này có thể làm biến đổi gốc tự do
superoxyde thành peroxyde d’hydrogene ít năng động hơn.
Catalase : một loại
enzyme có khả năng làm phân hủy những peroxydes d’hydrogene thành
những phân tử nước để có thể tránh sự thành h́nh những gốc tự do.
Glutathion peroxydase :
chất enzyme này có thể thấy trong nội ngoại tế bào, có nhiệm vụ làm
thay đổi cấu trúc của các gốc tự do nguy hiểm và năng động như những
hydroperoxydes hữu cơ, bằng cách dùng glutathion như một chất « cho
électrons » (donneur électrons) rất linh hoạt trong sự kết hợp với
chất peroxyde d’hydrogene và các chất hữu cơ hydropéroxydes và làm
vô hiệu hóa những gốc tự do này.
Thiorédoxine (TRX) :
đóng vai tṛ quan trọng trong nhiều quá tŕnh chuyển hóa, bảo vệ
chống lại các loại stress oxydatifs nhờ vào đặc tính nắm giữ những
gốc tự do.
2) Bên ngoài
cơ thể
Những chất chống oxy hóa có thể là
vitamine, có thể là chất khoáng, những chất này có khả năng
ngăn cản oxy hóa gây ra bởi gốc tự do.
-
Những chất chống oxy hóa được biết đến nhiều : béta carotène (tiền
vitamine A), acide ascorbique
(vitamine C), tocophérol hoặc TCP
(vitamine E), những chất polyphénols và
lycopène, trong những chất này có
flavonoides (có nhiều trong rau củ) những chất
tanins (có trong cacao, cà phê, trà,
nho etc), những chất anthocyanes (trong
các loại trái cây có màu đỏ), và những acides phénoliques ( trong
ngũ cốc, trái cây và rau củ).
-
Chất khoáng và nguyên tố vi lượng : trong chất khoáng có hai chất
chống oxy hóa tốt nhất là sélénium và kẽm
kế đến là manganèse, đồng, calcium,
magnésium.
-
Acides aminés : L-Cystéine, glutathion
(từ sự ngưng kết của 3 acides aminés : acide glutamique, cystéine và
glycine), L-méthionine, L-taurine
-
Những chất dinh dưỡng khác : axit béo của nhóm oméga 3 và 6,
axit
alpha-lipoique, nhóm bioflavonoides, lycopène.
Hàng ngày chúng ta cần khoảng 3000-5000 đơn vị
ORAC ( Oxygene Radical Absorbance
Capacity) giá trị này dùng để đo khả năng của thức ăn chống lại sự
oxy hóa có nghĩa là có thể trung ḥa những radical peroxyle.
Sau đây
vài giá trị của các thức ăn chứa nhiều chất chống oxy hóa.
|
Trái cây
|
Đơn vị
ORAC /100g |
|
Măng cục (vỏ và thịt) |
17000-24000 |
|
Nham lê (canneberge) |
9584 |
|
Việt quất (myrtille) |
2400 |
|
Quả
ngấy (mures) |
2036 |
|
Quả
mận khô |
1800 |
|
Dâu
tây (fraise) |
1540 |
|
Quả
ngấy dâu (framboise) |
1220 |
|
Nho
đen |
739 |
|
Quả
anh đào (cérise) |
670 |
|
Kiwi |
602 |
|
Bưởi đỏ |
483 |
Những vitamine chống oxy hóa mạnh nhất là vitamine A, vitamine C và
vitamine E cũng thường được gọi là
vitamine ACE.
Những nguyên tố vi lượng là kẽm, sélénium và sắt, nhưng sắt lại có
đặc tính ngược lại v́ là một chất khoáng dễ bị oxy hóa, chất sắt
tham gia vào quá tŕnh sản xuất gốc tự do.
Thực
phẩm vẫn là nguồn cung cấp duy nhất chất chống oxy hóa, nên các loại
trái cây và các loại rau xanh rất cần thiết v́ những thực phẩm này
chứa nhiều chất chống oxy hóa và cho rất ít năng lượng nên có thể
làm chậm lại quá tŕnh sản xuất gốc tự do, nhưng hiện tại môi trường
bị ô nhiễm quá nhiều, chúng ta cần rất nhiều chất chống oxy hóa để
có thể đáp ứng nhu cầu của cơ thể, chất chống oxy hóa trong thức ăn
hàng ngày không đủ bảo đảm tối ưu, v́ vậy chúng ta cần được bổ sung
từ những chất chống oxy hóa với chất lượng tốt bằng cách
phối hợp với những chất dinh dưỡng thiết
yếu như béta carotène, vitamine C, E, sélénium, bioflavonoides,
méthionine…
3) Thực phẩm
giàu chất chống oxy hóa
Trái cây nhỏ như : quả lư đen (cassis), xa cúc lam (bleuet), dâu tây
(cérise), nham lê (canneberge), myrtille và các loại trái cây rau củ
đủ loại màu : cam, hành chuông đỏ, dưa hấu, xoài, bí, cà rốt, những
loại hạt, tỏi, hành etc.
|
Thực phẩm
giàu
chất
chống oxy hóa |
Phân tử |
|
Trái cây và rau xanh |
Vitamine C và các nhóm polyphénols |
|
Mầm
lúa ḿ, quả hồ đào, quả hạnh nhân, dầu ăn thực vật |
Vitamine E |
|
Rau
xanh đậm, ca rốt, cà chua, bắp, bông cải xanh, các loại cam quít
|
Caroténoide |
|
Các
loại gia vị và các loại hương liệu |
Terpène |
|
Các
loại thịt và thực phẩm thực vật |
Sélénium, cystéine, sắt, kẽm, manganese và đồng |
|
Ngũ
cốc chưa xay |
Tiền thân của chất glutathion |
|
Bông cải xanh (brocoli), bắp cải |
Sulforaphane |
Caroténoides
Là
những thực phẩm có màu vàng, đỏ có nhiều trong rau củ, chẳng hạn như
cà rốt có màu vàng cam được gọi là béta
carotène, chất này có thể biến thành
vitamine A trong cơ quan, là một
chất chống oxy hóa rất mạnh, bảo vệ các mô chống lại các gốc tự do
và đề pḥng cho nhiều loại bệnh ung thư nhất là ung thư da. Béta
carotène cũng rất hữu dụng trong việc đề pḥng những rối loạn về tim
mạch. Một chất khác của nhóm caroténoides là
lycopène có tiếng chống ung thư
nhất là ung thư tuyến tiền liệt. gần đây một thực nghiệm do nhiều
nhà nghiên cứu của trường đại học Havard chứng tỏ rằng lycopène có
thể làm giảm đến 35% nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.
Nguồn gốc nhóm caroténoides:
Bêta carotene: cà rốt, trái mơ,
hành chuông đỏ, cà chua, bắp, bông cải xanh
Alpha carotene : bí, xoài, dưa gang tây
Vitamine A : gan động vật, dầu gan
cá, cá ngừ đỏ, bơ, trứng
Lutéine : một chất trong nhóm
caroténoides có trong trứng gà, bắp, cà rốt, rau bina, bông cải xanh
rau cresson là một chất đề pḥng chống lại gốc tự do phát sinh từ
ánh sáng cực tím
Lycopène : có trong cà chua, dưa
hấu, trái gấc
Polyphénols
Polyphénol c̣n được gọi là hỗn hợp phénolique như những chất
flavonoides và tanins: có hầu hết trong trái cây và rau củ như nho,
hành, táo, myrtilles, quả lư đen (cassis), quả ngấy dâu (framboise),
trái dâu tây, anh đào (cerise), sung tươi, ngoài ra c̣n có trong các
loại thức uống như trà nhất là trà xanh,
sữa đậu nành, chocolat,
rượu vang đỏ, bière.
Acides
phénoliques
Như:
táo, mơ, cà chua, cam, chanh, bưởi, quít, rau bina, ngũ cốc.
Nguyên tố vi
lượng
Sélénium :
là một nguyên tố vi
lượng (oligo-éléments), thật ra sélénium không có tính chống oxy hóa
nhưng chất này có khả năng hoạt động chung với một loại enzyme chống
oxy hóa do cơ thể sản xuất. Như vậy sélénium hành động chung với
vitamine E và có thể bảo vệ chúng ta chống lại nhiều loại bệnh ung
thư chống lại xơ vữa động mạch, chống lại sự nhồi máu cơ tim và
những tai nạn về mạch máu năo. Một nghiên cứu phát hành năm 1966
trong « Journal of the American Medical Association » chứng tỏ rằng
sélénium bảo vệ ung thư phổi, ruột kết, trực tràng và tuyến tiền
liệt.
Sélénium có trong động vật như: thịt (nhất là thịt ḅ), cật gan,
thức ăn biển : hào, vẹm, tôm hùm, cá hồi, mực, cá thu, cá tuyết, cá
bơn lá mít, cá trích, trứng cá và trong thực vật như: tỏi, rau bina,
nấm, hành tây, đậu nành, đậu trắng, đậu lăng, mầm lúa ḿ, quả hồ đào
Brésil, ngũ cốc chưa xay (céréale complète)
Kẽm : kẽm là một loại chất khoáng
mà cơ thể rất cần để tăng cường hệ miễn dịch, làm mau lành các vết
thương và tham gia vào sự tổng hợp những chất đường. Kẽm c̣n đóng
vai tṛ thiết yếu trong nhiều cơ chế khác, Kẽm đóng vai tṛ trong sự
cấu tạo những chất di truyền ADN và ARN, tham gia vào sự tăng trưởng
tế bào.
Kẽm
c̣n là một chất chống oxy hóa giúp cơ thể chống lại những gốc tự do,
kẽm là chất khoáng lúc nào cũng có trong cơ thể sau chất sắt.
Kẽm có trong đồ ăn biển nhất
là hào và các loại ốc, thịt, cá, rau cải, đậu, tỏi bắp cải…
Vitamine C
Là
một chất chống oxy hóa rất đặc biệt và hiệu nghiệm (có đặc tính thu
lấy oxy và như thế sẽ tránh được hiện tượng oxy hóa), vitamine C bảo
vệ cho nhiều mô chống lại sự thoái hóa. Chất này đặc biệt ngăn cản
gốc tự do làm hại đục thủy tinh thể, bảo vệ các mô chống lại gốc tự
do của khói thuốc. Vitamine C cũng có thể giúp các loại chống oxy
hóa khác làm tṛn nhiệm vụ. Thí dụ như Vitamine C có đặc tính khôi
phục vitamine E, lấy lại khả năng hành động của vitamine này sau khi
đă hoàn thành chức năng, v́ theo nguyên tắc một chất chống oxy hóa
sau khi hóa giải xong gốc tự do, thành phần phân tử của chất này sẽ
bị thay đổi và không c̣n khả năng trung ḥa gốc tự do như lúc ban
đàu v́ vậy các nhà dinh dưỡng cho rằng vitamine C có vai tṛ đặc
biệt, có hai khả năng hoạt động khác nhau.
Ngoài ra vitamine C c̣n có khả năng làm giảm lượng tiêu thụ oxy như
vậy có nghĩa là làm giảm gốc tự do trong cơ quan.
Vitamine C
có rất nhiều trong 10 loại trái cây tiêu biểu cho hầu hết trái cây
như: kiwi, cam, bưởi, thơm, táo, chuối,
avocat, mure (quả ngấy), anh đào, nho.
Ngoài ra Vitamine C c̣n có nhiều
trong : trái mơ, chanh, bắp cải, bắp cải đỏ, bông cải trắng, bông
cải xanh, rau mùi tây (persil), cải xà lách xon (cresson).
Vitamine E
Có
hai loại vitamine, một loại ḥa tan trong nước (hydrosoluble) thí dụ
như vitamine C, và một loại vitamine khác ḥa tan trong chất béo
(liposoluble) như vitamine E. Với đặc tính này một số gốc tự do có
thể bị trung ḥa bởi một chất chống oxy hóa của nhóm vitamine ḥa
tan trong nước và một số gốc tự do khác bị trung ḥa bởi chất chống
oxy hóa của nhóm vitamine ḥa tan trong chất béo. Vitamine E là
vitamine thiết yếu, đóng vai tṛ quan trọng chống oxy hóa, có khả
năng ngăn chặn sự oxy hóa của cholestérol xấu ( LDL) và tránh sự tồn
động của chất này trên vành thành mạch máu, kết quả là làm giảm nguy
cơ đến các bệnh về tim và mạch máu năo. Điều quan trọng là nên dùng
vitamine E có nguồn gốc từ hỗn hợp tự nhiên của nhiều loại
tocophérols và nhiều loại tocotrienols.
Vitamine E có trong: dầu mầm lúa ḿ,
dầu quả phỉ, dầu bông mặt trời, dầu hạt cải, dầu cây rum, bắp cải
xanh, rau bina, avocat, trong thực phẩm động vật vitamine E có
trong gan, cật, cá ngừ đỏ, lương, tṛng đỏ trứng gà.
Vitamine E có nhiều trong các loại
hạt như : hạt mè, hạt điều, quả hạnh
(amande), quả hồ đào (noix),
hạt đào lạc (pistache), những hạt này ngoài vitamine E c̣n
chứa nhiều loại chất béo đơn bất bảo ḥa rất tốt cho tim mạch.
Ngoài ra c̣n có một loại củ rất tốt cho sự chống oxy hóa là
củ dền đỏ
10 loại trái cây
chứa nhiều chất
chống oxy hóa
|
Trái kiwi
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Vitamine C |
● |
|
|
|
Vitamine K |
● |
|
|
|
Magnésium |
|
● |
|
|
Vitamine B9 (acide folique) |
|
|
● |
|
Vitamine E |
|
|
● |
|
Đồng |
|
|
● |
|
Potassium |
● |
|
|
Vitamine C trong kiwi cao gấp hai lần cam, kiwi chứa rất nhiều chất
xơ và các loại chất chống oxy hóa, nếu ăn thường sẽ tránh các loại
bệnh tim mạch và ung thư.
Kiwi
chứa nhiều chất xơ nên có thể tốt cho những người bị táo bón.
Theo
một nghiên cứu trên chuột chứng tỏ rằng kiwi có khả năng làm lành
các vết thương.
Kiwi
c̣n có tính lợi niệu, có tính nhuận tràng, chống bệnh hoại huyết,
chống lại sự nhiễm trùng của răng .
Ngoài vitamine C kiwi c̣n có chứa
vitamine E (có trong hạt đen của
trái kiwi), kiwi chứa nhiều chất chống oxy hóa rất hiệu nghiệm như
những hợp chất polyphénols : acide
phénolique, những chất flavanes
(épicatéchine, catéchine), những chất
procyanines và những chất flavonols
(quercétine, kaempférol) thí dụ như chất flavanes trong kiwi chứa
hai lần nhiều hơn chất chống oxy hóa có trong rượu vang đỏ.
Kiwi
c̣n chứa những chất nguyên tố vi lượng như:
sắt, đồng, kẽm.
Những người có dị ứng nên tránh v́ có chứa một loại enzyme như
actinidine (chất này cũng có trong
thơm, đu đủ và xoài có đặc tính làm mềm thịt và giúp cho hệ tiêu hóa).
Kiwi
là trái cây đứng đầu về nồng độ vi chất dinh dưỡng như vitamine C,
tiền vitamine A, vitamine B, calcium, sắt, sau đó theo thứ tự : đu
đủ, dưa gang tây, dâu, xoài, chanh, cam, quít, avocat, bưởi, thơm,
chuối, anh đào, táo,lê.
|
Trái cam
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Vitamine C |
● |
|
|
|
Potassium |
|
● |
|
|
Vitamine B1 |
|
|
● |
|
Vitamine B5 |
|
|
● |
|
Vitamine B9 |
|
|
● |
|
Calcium |
|
|
● |
|
Đồng |
|
|
● |
Cam
được cho là trái cây của mặt trời, đặc biệt rất nhiều
vitamine C, cũng chứa nhiều chất
chống oxy hóa, đóng vai tṛ đề pḥng tránh nhiều loại ung thư như
ung thư ruột kết, ung thư bao tử, ung thư miệng .
Chất
limonoides có trong cam (theo kết
quả trong pḥng thí nghiệm) chứng tỏ rằng chất này có thể làm giảm
sự tăng trưởng tế bào ung thư (vú, bao tử, phổi, miệng).
Hai
nghiên cứu chứng tỏ rằng nếu uống nước cam mỗi ngày có thể giảm sự
oxy hóa của những chất béo trong máu, làm chậm quá tŕnh oxy hóa,
hai yếu tố này có khả năng làm tổn hại đến các chứng bệnh tim mạch.
Trong trái cam c̣n chứa chất hespéridine
một chất flavonoide dùng để chống lại sự yếu ớt, dễ bể của những mao
mạch máu.
Cam
c̣n có tính lợi niệu, chống bệnh hoại huyết, có tính nhuận tràng,
bông cam giúp chống lại sự co thắt liên quan đến hệ tiêu ḥa.
Nước
cam c̣n giúp ngừa t́nh trạng cholestérol bị oxy hóa. Những
cholestérol bị oxy hóa thường bám chặt vào thành động mạch, khi tích
tụ nhiều sẽ chặn đường cung cấp máu, từ đó gây đau tim hoặc đột quỵ,
nước
cam giúp tái tạo vitamine E nên vitamine này có thể dùng lại cũng là
một chất cống oxy hóa rất hiệu nghiệm.
|
Trái bưởi
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Vitamine C |
● |
|
|
|
Potassium |
|
● |
|
|
Vitamine A |
|
|
● |
|
Vitamine B5 |
|
|
● |
|
Đồng |
|
|
● |
Bưởi
chứa nhiều loại flavonoides, những
hợp chất này có thể trung ḥa những gốc tự do của cơ thể, đề pḥng
sự phát sinh những bệnh tim mạch, ung thư.
Ngoài những chất chống oxy hóa như
vitamine C, béta carotene, bưởi c̣n chứa
B1,B2, acide hữu cơ, calcium, phosphore,
sắt.
Trong bưởi có chất chống oxy hóa
limonoides có khả năng làm giảm sự phát triển những tế bào
ung thư : ung thư vú, ung thư bao tử, ung thư phổi, ung thư miệng và
ung thư ruột kết.
Bưởi
có thể làm giảm lượng cholestérol và
triglycérides trong máu và tăng khả năng chống oxy hóa. Bưởi
đỏ có ảnh hưởng tốt hơn bưởi trắng trên những chất béo trong máu.
Bưởi
có khả năng làm giảm sự kháng insuline
ở những người bị béo ph́ và làm giảm lượng đường trong máu.
|
Trái thơm
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Vitamine C |
|
● |
|
|
Potassium |
|
● |
|
|
Magnésium |
|
|
● |
|
Acide folique |
|
|
● |
|
Vitamine B6 |
|
|
● |
|
Manganèse |
● |
|
|
Thơm
có tính giảm nhiệt, lợi tiểu, lợi tiêu hóa, chống nhiễm độc, thơm có
chất broméline là một loại enzyme
giúp sự tiêu hóa chất đạm ngoài ra c̣n có những hoạt động khác như
chống viêm, chóng khối u, chống sự đông máu chống bệnh tim mạch và
năo, chất broméine cũng có đặc tính giảm đau nên qua vài nghiên cứu
chứng tỏ rằng thơm có thể hiệu nghiệm cho sự chống viêm khớp xương,
chất broméine chỉ có trong thơm tươi và
không có trong thơm đóng hộp và nấu chín.
Thơm
chứa nhiều chất chống oxy hóa như nhóm phénoliques và flavonoides
nhưng không bằng dâu, chanh, cam, táo và nho.
Những người bị di ứng nên cẩn thận v́ có thể khích động và
phát sinh ra chất histamine trong
cơ quan, histamine là một phân tử gây ảnh hưởng đến hệ thống miễn
dịch, da, bao tử, năo nên nếu sau khi ăn thơm có thể gây ra những
triệu chứng như nhứt đầu, chóng mặt, ngứa, nôn mữa etc.
|
Trái táo
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Vitamine C |
● |
|
|
|
Potassium |
|
● |
|
|
Vitamine K |
|
|
● |
|
Manganèse |
|
|
● |
Người Anh cho rằng « nếu ăn một trái táo mỗi ngày sẽ không cần bác
sĩ » v́ táo là một loại trái cây chứa rất nhiều loại vitamine, chất
khoáng và nhiều chất chống oxy hóa.
Những chất chống oxy hóa thường có nhiều trong vỏ (hợp
chất phénoliques cao gấp 2-6 lần và
hợp chất flavonoides cao gấp 2-3 lần nếu so sánh với thịt
trái táo) những chất chống oxy hóa này liên quan đến chất
anthocyanines có trong sắc tố màu
đỏ của vỏ trái táo.
Những chất chống oxy hóa có trong trái táo như nhóm
flavonoides (quercétine,
procyanidines, catéchines và épicatéchine) và trong nhóm
polyphénolique như chất
acide chlorogénique những chất
chống oxy hóa có có thể đề pḥng chống lại hiện tượng oxy hóa của
ADN, và đề pḥng chống lại sự tăng sinh tế bào ung thư, làm giảm
lượng cholestérol trong máu bằng cách làm giảm oxy hóa của những
chất béo trong tuần hoàn máu.
Chất
quercétine là một chất chống oxy
hóa rất mạnh có khả năng chống lại bênh ung thư và những bệnh tim
mạch.
Táo
có tính làm lợi tiểu, nhuận tràng, chống thấp khớp, táo chứa đường
fructose và sorbitol, hai loại đường này có thể gây ra sự khó chịu
cho bao tử và đường ruột như bị no hơi, śnh bụng, tiêu chảy.
|
Trái
chuối
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Vitamine B6 |
● |
|
|
|
Potassium |
● |
|
|
|
Manganèse |
|
● |
|
|
Riboflavine B2 |
|
● |
|
|
Acide folique B9 |
|
|
● |
|
Magnésium |
|
|
● |
|
Vitamine C |
|
|
● |
|
Đồng |
|
|
● |
Trong trái chuối có chứa chất chống oxy hóa
dopamine, một phân tử của nhóm
catécholamines, chất dopamine có
đặc tính chống oxy hóa giống như vitamine C (ḥa tan trong nước). V́
chuối có vitamine C lẩn dopamine nên được cho là chuối chứa chất
chống oxy hóa rất mạnh, ngoài ra chuối là nguồn quan trọng của nhiều
hợp chất phénoliques và làm tăng thêm tiềm năng chống oxy hóa.
Chất
chống oxy hóa leucocyanidine của
nhóm flavonoides (có trong chuối chưa chín) có khả năng bảo vệ chống
lại sự ăn ṃn màng nhầy của bao tử,
Béta-carotènes
và alpha-carotène có
khả năng biến đổi thành vitamine A trong cơ quan, những chất
vitamine này tham gia vào sự tăng trưởng cửa xương và răng, bảo vệ
da chống lại những sự nhiễm trùng.
Chuối chứa hầu hết các loại vitamine B trừ
B12, vitamine E, vitamine C (nếu để chín quá lượng vitamine C
sẽ bị giảm).
Các
nguyên tố vi lượng như : potassium,
sodium, fer, cuivre, calcium, magnésium, phosphore, iode, kẽm và
manganèse.
Nhờ
lượng sắt nhiều trong chuối giúp làm giảm nguy cơ thiếu máu, chuối
có chứa chất sérétonine là một chất
hormone có nhiệm vụ trong hệ thống truyền tin năo để giữ tâm trạng
được vui vẻ.
Vitamine B6 trong chuối giúp cho sự
điều chỉnh lượng đường trong máu, ảnh hưởng đến t́nh trạng cảm xúc
của con người.
|
Trái
avocat
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Vitamine K |
● |
|
|
|
B5 |
● |
|
|
|
B6 |
|
● |
|
|
BI,
B2, B3, B9 |
|
|
● |
|
Vitamine E |
|
|
● |
|
Vitamine A |
|
|
● |
|
Vitamine C |
|
|
● |
|
Đồng, |
|
● |
|
|
Kẽm,sắt |
|
|
● |
|
Magnésium |
|
|
● |
|
Phosphore |
|
|
● |
|
Manganèse |
|
|
● |
|
Potassium |
|
|
● |
Avocat là trái cây chứa rất nhiều năng lượng, nhiều chất dinh dưỡng
vitamines và chất khoáng, avocat rất dễ tiêu hóa mặc dầu lượng chất
béo rất cao v́ trái avocat chứa nhiều loại enzyme có khả năng làm
tiêu hóa dễ dàng chất béo và avocat được cho là rất tốt cho bao tử
và ruột.
Chất
chống oxy hóa : ngoài vitamine C, A, E
trong avocat đặc biệt có chứa chất proanthocyanidines cũng được gọi
là oligo-proanthocyanidine (OPC)
chất
này có lực chống oxy hóa mạnh gấp 20-50 lần hơn vitamine C và
vitamine E.
Vitamine C chỉ có tác động trong môi trường dung dịch nước, vitamine
E có tác động trong chất béo c̣n chất OPC có khả năng hoạt động
trong cả hai môi trường. Chất OPC c̣n được chỉ định dưới tên là
« tanins » có nhiệm vụ bảo vệ những tiểu cầu và những chất béo trong
máu chống lại « stress oxydatif ».
Chống lại bệnh tim mạch : v́ avocat chứa
nhiều chất béo đơn bất bảo ḥa (monoinsaturés) chất béo tốt
cho tim mạch, một nghiên cứu chứng tỏ rằng nếu thay thế chất béo
trong thức ăn bằng avocat trong ṿng 3 tuần, kết quả là làm giảm
chất béo trong máu mà không làm giảm nồng độ chất béo HDL (chất béo
tốt).
Vitamine K có rất nhiều trong trái avocat, là vitamine ḥa tan trong
chất béo, có đặc tính ức chế sự đông máu, chống lại sự loăng xương,
thức
đẩy sự đàn hồi của những động mạch và giữ cho các mạch máu ở t́nh
trạng tốt, gần đây các nhà nghiên cứu khám phá rằng vitamine K có
đặc tính kiểm soát t́nh trạng viêm.
|
Trái mure
(trái ngấy)
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Vitamine C |
|
● |
|
|
Potassium |
|
● |
|
|
Manganese |
|
● |
|
|
Magnésium |
|
|
● |
|
Đồng, sắt |
|
|
● |
Trái
ngấy (mure) cũng như framboise (quả ngấy dâu) có tính khử độc nhuận
tràng, đặc tính của hai loại trái cây này là chứa nhiều chất chống
oxy hóa rất mạnh, rất tốt cho các bệnh tim mạch, ung thư, những bệnh
măn tính, được xếp hạng nhất (mure) và nh́ (framboise) trong việc
chống oxy hóa của cholestérol xấu là yếu tố đem đến rủi ro cho các
loại bệnh tim mạch, nhờ vào acide
gallique và acide ellagique
là những thành phần chính của những hợp
chất phénolique, rất có tiếng trong việc chống lại các loại
vi khuẩn và vi trùng và có thể làm giảm những chất
cặn bă đóng trên
thành mạch máu, trái ngấy có chứa chất
anthocyanidines thuộc nhóm flavonoides cho sắc tố màu đỏ hoặc
tím đen bảo vệ tế bào ruột và ngăn cản sự h́nh thành những gốc tự
do. Theo kết quả của nhiều nghiên cứu gần đây cho biết rằng những
chất chống oxy hóa của trái ngấy gồm có 50% chất ellagitanins, 25%
chất anthocyanidines và 20% vitamine C.
|
Trái anh
đào
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Vitamine C |
|
● |
|
|
Vitamine A |
|
|
● |
|
Potassium |
|
|
● |
|
Manganèse |
|
|
● |
|
Đồng |
|
|
● |
|
Sắt |
● |
|
|
Lợi
tiểu, thấp khớp, viêm khớp, nhuận tràng, giải độc, màu trái anh đào
càng đậm càng chứa nhiều chất chống oxy hóa và có lợi ích cho tim
mạch, làm giảm cholestérol, chống lại tế bào ung thư.
Trái
anh đào chua có nhiều chất chống oxy hóa gấp 5 lần anh đào ngọt
Theo
kết quả nghiên cứu trong pḥng thí nghiệm chứng tỏ rằng chất
anthocyanidines có trong trái anh đào chua có khả năng làm chậm sự
phát triển tế bào ung thư ruột kết, tránh sự rủi ro xuất huyết trong
hệ tiêu hóa ngoài ra có nhiều nghiên cứu khác chứng tỏ rằng juice
trái anh đào có thể giúp những người tập thể dục mạnh hồi phục nhanh
sức lực và làm giảm « stress oxydatif » và chống lại các loại nhiễm
trùng.
Trong trái anh đào c̣n có chứa một lượng lớn chất
mélatonine, một hợp chất chống oxy
hóa rất cao, là chất có thể điều chỉnh giấc ngủ và tham gia vào việc
chống lại sự mất ngủ.
Ngoài ra trái anh đào c̣n chứa chất
hydroxycinnamiques giống như đặc tính của của
acide caféique thuộc nhóm phénoliques
chống lại sự nhiễm trùng và cũng là chất chống oxy hóa rất tốt.
|
Trái nho
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Manganèse |
● |
|
|
|
B1
(thiamine)
B2
(riboflavine)
B6
(pyridoxine) |
|
|
●
●
● |
|
Potassium |
|
● |
|
|
Vitamine C |
|
|
● |
|
Đồng |
|
● |
|
|
Sắt |
|
|
● |
|
Phosphore |
|
|
● |
Trái
nho có tính lợi tiểu, nhuận tràng, thông mật, có tính lấy lại sức
nhanh và có tính thanh lọc nên trái nho có khả năng đào thải chất
cặn bă, nho màu đen có tính trương lực, nho màu đen hoặc đỏ có lực
chống oxy hóa rất cao, ngoài ra chứa rất nhiều
vitamines và chất khoáng rất tốt
cho sức khỏe.
Nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng uống thường đều juice (nước trái cây)
trái nho đỏ có thể đề pḥng được nhiều chứng bệnh về tim mạch, làm
giảm oxy hóa của cholestérol xấu và giảm sự h́nh thành cục đông máu,
juice (nước trái cây) nho c̣n có chức năng giúp cho sự nhận thức,
tránh sự lăng trí như bệnh « alzheimer ».
Nho
chứa lượng chất chống oxy hóa anthocyanines
rất cao và nhiều chất flavonoides như
quercétine, myricetine, kaempferol, catéchines,
épicatéchines, proanthocyanidines và
anthocyanines. Những hợp chất phénoliques này là những chất
chống oxy hóa rất mạnh có thể trung ḥa những gốc tự do và tránh
những bệnh về tim mạch và vài loại ung thư.
Chất
resvératrol có nhiều trong vỏ trái
nho là chất có tính bảo vệ tim
Năm loại hạt
|
Hạt mè
khô
|
100% |
|
Nước |
5,83% |
|
Chất đạm |
16,52% |
|
Chất béo |
46,33% |
|
Chất đường |
21,86% |
|
Chất xơ |
9,44% |
|
Hạt mè
khô
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Calcium |
● |
|
|
|
Magnésium |
● |
|
|
|
Potassium |
● |
|
|
|
Phosphore |
● |
|
|
|
Đồng, săt, kẽm |
● |
|
|
|
Manganese |
● |
|
|
|
B1 |
● |
|
|
|
B6 |
|
● |
|
|
B2,B3, B9 |
|
|
● |
Hạt
mè có tính nhuận tràng, khử độc, chống viêm khớp, rất lợi cho hệ
thống năo, chống oxy hóa, bảo vệ hệ tim mạch . Hạt mè có khả năng
làm dễ dàng cho tuần hoàn máu, tiêu hóa, chống lai sự mệt mỏi.
Chất
béo trong hạt mè khô chứa rất nhiều chất
béo bất bảo ḥa (82%) gồm có 38% là đơn bất bảo ḥa và 44% là
đa bất bảo ḥa, rất cần thiết cho các cơ quan. Ngoài ra hạt mè khô
c̣n chứa nhiều chất xơ và các chất dinh dưỡng khác như
chất khoáng, nguyên tố vi lượng và
vitamine.
Hạt
mè chứa chất acide folique (B9) cần
thiết cho sự cấu tạo tế bào, nhất là trong ba tháng đầu cho người mẹ
mang thai, tăng cường hệ miễn dịch cho đứa bé mới sinh và kích thích
đứa bé uống sữa.
Trong hạt mè có rất nhiều chất vitamine, chất khoáng, chất xơ ngoài
ra c̣n chứa nhiều loại chất chống oxy hóa, rất tốt cho sự chống lăo
hóa, chống lại những phát triển tế bào ung thư và rất tốt cho tim
mạch.
Vitamine E : mè chứa nhiều chất
tocophérols là những hợp chất có
thể tạo thành vitamine E, chất tocophérols chánh của mè là
gamma-tocophérol. Nhiều nghiên cứu
chứng tỏ rằng ăn mè mỗi ngày (khoảng 11 gr) nồng độ gamma tocophérol
trong máu tăng, ngoài ra c̣n có những nghiên cứu khác
(épidémiologiques : nghiên cứu giữa bệnh và những yếu tố liên quan
đế sự tiến hóa của bệnh) cho rằng ngoài đặc tính chống oxy hóa, chất
gamma tocophérol c̣n đóng vai tṛ đề pḥng những chứng bênh ung thư
và những bệnh về tim mạch.
Lignanes :
mè hạt là một trong những thực phẩm thực vật chứa
lignanes có vai tṛ giống như chất
œstrogène (một chất hormone trong cơ thể người đàn bà). Chất
lignanes có thể được hấp thụ và chuyển đổi trong cơ thể và có hiệu
quả ngay cả chưa xay, chất sesamine
là thành phần chánh của lignanes, ngoài đặc tính chống oxy hóa,
lignanes c̣n có khả năng làm giảm chất béo trong máu như tổng
cholestérol và cholestérol xấu LDL.
|
Hạt điều
rang khô
|
100% |
|
Nước |
3,4% |
|
Chất đạm |
15,5% |
|
Chất béo |
46,4% |
|
Chất đường |
32,8% |
|
Chất xơ |
1,9% |
|
Hạt điều
rang khô
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Calcium |
● |
|
|
|
Magnésium |
● |
|
|
|
Potassium |
|
● |
|
|
Phosphore |
|
● |
|
|
Manganese |
|
● |
|
|
Sắt |
|
● |
|
|
Kẽm |
● |
|
|
|
Đồng |
|
● |
|
|
Sélénium |
|
|
● |
|
Vitamine E |
|
|
● |
|
B1,B2,B5,
B6, B9 |
|
|
● |
|
Vitamine K |
|
|
● |
Chất béo bất
bảo ḥa trong hạt
điều khô chứa 76%, trong chất béo này phần đông là đơn bất bảo ḥa
60% và 16% đa bất bảo ḥa. Ngoài ra c̣n chứa nhiều xơ và các chất
dinh dưỡng khác như : chất khoáng, nguyên
tố vi lượng, và vitamine.
Chất
béo đơn bất bảo ḥa : 3/4 năng lượng của hạt điều là từ chất béo,
chất béo này có hiệu quả rất tốt cho sức khỏe về tim mạch, làm giảm
lượng tổng cholestérol và LDL (cholestérol xấu) trong máu mà không
làm giảm lượng HDL (cholestérol tốt).
Chất
chống oxy hóa trong hạt điều được thấy dưới dạng
gamma tocophérol, có đặc tính chống
lại những chứng bệnh về tiểu đường loại 2, tim mạch và huyết áp cao.
Mặc
dầu hạt điều chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe nhưng hạt
điều cũng cho vài hiện tượng không tốt cho sức khỏe như :
-
Cẩn thận với những hạt điều rang với muối.
-
Hạt điều có chứa chất gây ra dị ứng như đậu phọng, những người có
dị ứng nên tránh và cẩn thận trước khi hấp thụ chất này ngoài ra hạt
điều có chứa chất những hợp chất
oxalates giống như trong quả hồ đào
nên có thể phát sinh ra bệnh sỏi thận nếu trong cơ thể thiếu calcium
(nếu phân tích thành phần của sỏi thận, 80% là acide
oxalique).
|
Quả hạnh
|
100% |
|
Nước |
8,16% |
|
Chất đạm |
18,47% |
|
Chất béo |
48,5% |
|
Chất đường |
19,03% |
|
Chất xơ |
6,34% |
|
Quả hạnh
(amande)
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Calcium |
|
|
● |
|
Magnésium |
● |
|
|
|
Potassium |
|
● |
|
|
Phosphore |
|
● |
|
|
Đồng |
● |
|
|
|
Sắt, kẽm |
|
● |
|
|
Manganèse |
● |
|
|
|
Vitamine E |
● |
|
|
|
B2 |
● |
|
|
|
B1, B3, B9, B6
|
|
|
● |
Quả
hạnh chứa 86% chất béo bất bảo ḥa
với thành phần : 65% chất béo đơn bất bảo ḥa và 21% chất béo đa bất
bảo ḥa. Đặc biệt là acide oléique
mà người ta thường thấy trong dầu olive và dầu cải, ngoài ra quả
hạnh có rất nhiều chất khoáng, nguyên tố
vi lượng và vitamine.
Một
nghiên cứu trên hơn 80000 người đàn bà trong ṿng 14 năm, cho biết
sự hấp thụ chất béo đơn bất bảo ḥa trong thức ăn liên quan đến sự
giảm rủi ro về bệnh tim mạch.
Quả
hạnh chứa nhiều chất xơ : 80% ḥa
tan và 20% không ḥa tan, chất xơ này có nhiệm vụ làm b́nh thường
hóa sự tiến hóa của thức ăn trong ruột, nhiều nghiên cứu chứng tỏ
rằng thức ăn có chất xơ có thể làm giảm sự rủi ro về bệnh ung thư
ruột kết, chất xơ ḥa tan có đặc tính thúc đẩy sự bài tiết phân của
cholestérol nên có thể làm giảm lượng cholestérol trong máu, ngoài
ra chất xơ ḥa tan c̣n tham gia vào việc b́nh thường hóa lượng đường
và insuline trong máu nên có khả năng chống lại những bệnh về tim
mạch và tiểu đường loại 2.
Lượng chất đạm trong quả hạnh rất cao, chất lượng tốt nhưng không
đầy đủ như chất đạm trong động vật, thông thường quả hạnh chứa nhiều
chất Arginine một chất acide aminé
thiết yếu cho cơ thể.
Chất
chống oxy hóa: quả hạnh chứa rất nhiều chất chống oxy hóa trong đó
có chất vitamine E8 c̣n có tên « alpha
tocophérol » (gồm có 4 loại tocophérols và 4 loại
tocotriénols) có hiệu quả bảo vệ chống lại bệnh tim mạch, tiểu đường
và cao máu, tiếp theo là chất squalènes chống lại những tế bào ung
thư, ngăn cản sự phát triển khối u và làm vô hiệu hóa chất
carcinogènes ( chất có khả năng gây ra ung thư). Ngoài ra quả hạnh
c̣n chứa những hợp chất phénoliques.
Cũng
như hạt điều quả hạnh có thể gây dị ứng và v́ có chứa những
hợp chất oxalates nên có thể gây ra
sỏi thận.
|
Hạt đào
lạc
|
100% |
|
Nước |
3,98 % |
|
Chất đạm |
14,23 % |
|
Chất béo |
50,09 % |
|
Chất đường |
26,18 % |
|
Chất xơ |
5,50 % |
|
Hạt đào
lạc (pistache)
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Calcium |
|
|
● |
|
Magnésium |
|
● |
|
|
Potassium |
● |
|
|
|
Phosphore |
|
● |
|
|
Đồng |
● |
|
|
|
Sắt |
|
● |
|
|
Kẽm |
|
|
● |
|
Vitamine K |
|
|
● |
|
B1 |
|
● |
|
|
B2,B3,B5,B9 |
|
|
● |
|
B6 |
● |
|
|
|
B5 |
|
|
● |
|
Sélénium |
|
|
● |
Hạt
đào lạc chứa 83% chất béo bất bảo ḥa
với thành phần : 68 % chất béo đơn bất bảo ḥa và 15 % chất béo đa
bất bảo ḥa. Ngoài ra quả đào lạc có rất nhiều
chất khoáng kiềm như magnésium, potassium,
phosphore, calcium và nhiều nguyên tố vi lượng.
Hạt
đào lạc chứa nhiều hợp chất như những acides béo bất bảo ḥa,
chất xơ và những chất
phytostérols, tất cả đều có tiếng
cho hiệu quả tốt cho chất béo trong máu.
Chất
chống oxy hóa: hạt đào lạc chứa nhiều hợp
chất phénoliques phần đông dưới dạng
anthocyanines thuộc nhóm
flavonoides được biết đến nhiều do những đặc tính chống ung thư,
chống các loại viêm.
Hạt
đào lạc chứa chất resvératrol, là
chất có lợi ích cho những bệnh về tim mạch. Chất này có khả năng tự
biến đổi thành một hợp chất chống ung thư được gọi là
piceatannol, ngoài ra hạt đào lạc
c̣n chứa chất vitamine E phần đông dưới dạng
gamma tocophénol có chức năng bảo
vệ cơ thể chống lại những bệnh như tim mạch, tiểu đường và huyết áp
cao.
|
Quả hồ
đào
|
100% |
|
Nước |
6.74 % |
|
Chất đạm |
13.48 % |
|
Chất béo |
58.06 % |
|
Chất đường |
17.23 % |
|
Chất xơ |
4.49 % |
|
Quả hồ
đào (noix)
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Manganèse |
● |
|
|
|
Magnésium |
|
|
● |
|
Potassium |
|
● |
|
|
Phosphore |
|
|
● |
|
Đồng, sắt, kẽm |
|
|
● |
|
B1, B6, B9 |
|
● |
|
|
B2,B3,B5 |
|
|
● |
Quả
hồ đào chứa rất nhiều chất khoáng, nguyên
tố vi lượng và vitamine.
Quả
hồ đào chứa 86% chất béo bất bảo ḥa,
trong đó 1/5 dưới dạng acide alpha-linolénique, một acide oméga 3
thiết yếu và có tỉ lệ lư tưởng giữa oméga 3 và oméga 6, được cho
rằng rất tốt cho tim mạch và lượng chất béo trong máu, làm giảm
lượng cholestérol.
Trong một nghiên cứu trên những người có lượng cholestérol tương đối
cao chất béo có trong quả hồ đào có tính nâng cao sự đàn hồi của
những mạch máu, có khả năng làm giăn nở và co thắt của thành vách
mạch máu , một điểm quan trọng cho việc đề pḥng bệnh năo.
-
Acide alpha-linolénique cũng như
chất acide aminé arginine là hai
hợp chất liên quan đến hiệu quả này.
Chất
chống oxy hóa: quả hồ đào là một trong những thực phẩm thực vật
(trái
cây, rau củ, cá loại hạt và ngũ cốc ) chứa chất chống oxy hóa nhiều
nhất.
-
Hợp chất phénolique : quả hồ đào
chứa acide ellagique, ngoài ra c̣n
có chứa 9 loại hợp chất phénoliques khác trong đó có
acide gallique.
-
Mélatonine: ngoài chúc năng chống
oxy hóa mélatonine c̣n có những đặc tính khác như trong hệ thống
miễn dịch, thường dưới tên hormone của giấc ngủ.
Quả
hồ đáo chứa chất phytostérols, có
trong phần chất béo của quả hồ đào, nhiều nghiên cứu chứng minh
rằng chất này có khả năng làm giảm sự hấp thụ cholestérol ở phần
ruột non nhưng để sự kiện này có kết quả tốt, cần phải hấp thụ trên
1gr/ngày.
Quả
hồ đào chứa lượng arginine rất cao,
cơ thể dùng chất acide aminé này để chế tạo chất oxyde nitrique, một
chất có khả năng thúc đẩy sự giăn nở những mạch máu và làm cho máu
lưu thông dễ dàng (cho những người tập thể dục mạnh).
Quả
hồ đào cũng chứa chất xơ, làm giảm sự rủi ro bệnh ung thư ruột kết,
tham gia vào việc đề pḥng những bệnh tim mạch và tiểu đường loại 2.
|
|
Củ dền đỏ
luộc chín để ráo nước( 90 gr (125ml)
|
Lá củ dền
40 gr
(250ml) |
|
Calories |
40 |
9 |
|
Protéines |
1,5 gr |
0,9 gr |
|
Glucides |
9,0 gr |
1,7 gr |
|
Lipides |
0,2 gr |
0,1 gr |
|
Chất xơ |
1,8 gr |
1,5 gr |
|
Củ dền đỏ
(betterave rouge)
|
|
|
Rất nhiều |
Nhiều |
Trung b́nh |
|
Calcium |
|
|
● |
|
Magnésium |
|
● |
|
|
Potassium |
|
|
● |
|
Manganèse |
|
● |
|
|
Đồng,sắt |
|
● |
|
|
Vitamine K |
● |
|
|
|
B1,B2,B5,B6 |
|
|
● |
|
B9 |
|
● |
|
|
Vitamine A |
● |
|
|
|
Vitamine C |
|
|
● |
|
Vitamine E |
|
|
● |
Ngoài
ra củ dền c̣n chứa những chất : glutamine,
bétaine, choline, và acide oxalique, củ dền đỏ có tiếng rất
tốt cho sức khỏe :
Ung thư :
một nghiên cứu chứng tỏ rằng chất
bétalaines trong củ dền đỏ là một trong những sắc tố làm giảm
sự xuất hiện ung thư da, gan và phổi của động vật, nghiên cứu này
cũng cho rằng củ dền có thể tham gia vào việc đề pḥng các loại ung
thư nhất là ung thư vú, và ung thư phổi. Chất bétalaine là một chất
chống oxy hóa rất ổn định ngay cả sau khi luộc chín, và sau khi qua
dây dạ dầy ruột (tractus gastro-intestinal) mà không mất đặc tính
chống oxy hóa và vẫn giữ cao tính khả dụng sinh hóa.
Củ
dền đỏ c̣n chứa hợp chất phénoliques
như flavonoides, chất chống oxy hóa rất bền, vỏ củ dền đỏ
chứa 3 lần nhiều hơn hợp chất phénoliques so với phần thịt, lá củ
dền đỏ cũng vậy chứa nhiều hợp chất phénoliques hơn rau bina và bông
cải xanh.
Năng lực chống oxy hóa :
củ dền là một trong những loại thực vật chứa nhiều nhất chất
chống oxy hóa có nhiệm vụ bảo vệ tế bào của cơ thể và những tổn hại
gây ra bởi gốc tự do.
Sức khỏe cho
mắt:
theo nhiều nghiên cứu cho rằng trong lá củ dền đỏ chứa chất
lutéine và zéaxanthine thuộc nhóm
caroténoides có thể làm giảm nguy cơ của sự thoái hóa điểm vàng của
đục thủy tinh thể, và cũng là chất chống oxy hóa rất tốt. Những chất
này có hiệu quả tốt cho vài loại ung thư
Phần kết
Ngoài sự cân bằng năng lượng hấp thụ và tiêu thụ, theo lời khuyên
của các nhà dinh dưỡng ta cần phải để tâm và kiểm soát cân bằng axít-kiềm
và cân bằng giữa gốc tự do và chất chống oxy hóa, v́ hai sự kiện này
liên quan mật thiết đến việc đề pḥng chống lại hầu hết tất cả các
chứng bệnh.
Chất
đạm là chất dinh dưỡng thiết yếu cho sự tu tŕ, bảo dưỡng, phát
triển và tái tạo những tế bào trong cơ thể nhưng hấp thụ quá nhiều
chất đạm sẽ có ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe nhất là đối với
những người lớn tuổi, v́ chất đạm là nguồn gốc chính phát sinh ra
acide sau quá tŕnh chuyển hóa, acide này là nguyên nhân làm mất cân
bằng acido-basique trong cơ thể.
Một
đoạn vidéo ngắn đă được thực hiện cho ta ư thức được sự nguy hiểm
của acide đến tất cả các chất hữu cơ : nếu nhỏ một giọt acide trên
một cục đường, trong khoảng thời gian ngắn 10 giây, cục đường trắng
lúc ban đầu bị tan sau đó trở thành màu vàng đến màu nâu và cuối
cùng trở thành màu đen như than, hiện tượng này chứng tỏ một cách ấn
tượng sự tàn phá, hủy hoại vật chất rất mạnh của acide.
Cấu
trúc của những tế bào trong cơ thể con người cũng vậy, nếu không để
tâm đề pḥng và để mất cân bằng acido-basique trong thời gian dài và
đến giai đoạn bị nhiễm acide, th́ acide dư thừa này sẽ làm tổn hại
đến toàn thể tế bào và sẽ dẫn đến những bệnh mà các nhà dinh dưỡng
cho rằng đó là « bệnh văn minh » có
nghĩa là những người sống trong những nước phát triển có khuynh
hướng hấp thụ quá nhiều chất đạm, cơ chế ăn uống không đủ chất kiềm,
sống trong môi trường bị ô nhiễm quá nhiều, nhất là những người sống
nơi thành thị (không khí, nước, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu etc
(98% thuốc trừ xâu bọ được sản xuất từ acide sulfurique), thói quen
sinh hoạt hàng ngày (rượu, thuốc lá), tiếp xúc quá nhiều với những
tia cực tím, ngoài ra c̣n bị stress (xă hội, gia đ́nh). V́ vậy để có
cân bằng acido-basique cần phải có cơ chế ăn uống thận trọng, hấp
thụ những thực phẩm chứa nhiều chất kiềm và tự kiểm soát độ acide
trong nước tiểu để có thể biết trước và để có thể tự thay đổi cơ chế
ăn uống và đề pḥng chống lại những bệnh nguy hiểm một cách hiệu quả.
Gốc
tự do (radical libre), phát sinh ra từ phân tử oxy. Phản ứng oxy hóa
xảy ra trong cơ thể là những phản ứng tự nhiên không thể tránh được
nên các nhà dinh dưỡng cho rằng oxy là « nguồn
sống cũng là nguồn chết của con người » và c̣n so sánh những
gốc tự do là những « bọn khủng bố »
v́ gốc tự do vô cùng năng động và hung dữ có khả năng làm tổn
hịa đến những tế bào trong cơ thể nên cần phải được hóa giải triệt
tiêu bằng những chất chống oxy hóa. Ngoài những chất chống oxy hóa
được sản xuất bởi những enzyme trong cơ thể, ta cần phải được bổ
sung bằng những chất chống oxy hóa có trong những thức ăn từ bên
ngoài, điều quan trọng là chọn lựa những thức ăn chứa nhiều chất
chống oxy hóa để có thể triệt tiêu những gốc tự do dư thừa phát sinh
trong cơ thể.
Tóm
lại, hai diễn biến « cân bằng axít-kiềm » và « gốc tự do » được
tŕnh bày trên liên quan mật thiết đến sức khỏe. Để có được sức khỏe
tốt, để cơ thể nhất là bộ năo lúc nào cũng ở trong t́nh trạng ổn
định, thoải mái, tinh thần không căng thẳng, không bồn chồn, không
bị trầm uất, trí nhớ b́nh thường, điều cần thiết là nên để tâm đến
những cơ chế ăn uống thích hợp như cân bằng axít-kiềm, hấp thụ ít
chất đạm với mục đích tránh cơ thể bị nhiễm axít, những diễn biến
này được chứng minh qua những nghiên cứu của giáo sư bác
sĩ Fujita
Takao ở bộ y của trường đại học Kobe v́ nếu cơ thể bị nhiễm axit,
lượng calcium tự động bị xuống thấp và gây ra ảnh hưởng không những
nguy hiểm đến xương, răng mà c̣n làm rối loạn đến vận hành của toàn
bộ năo, ngoài ra ta cần cố gắng gạt bỏ những stress tâm thần và hoạt
động thể thao cũng là yếu tố vô cùng quan trọng cho việc bảo vệ và
đề pḥng những chứng bệnh, các nhà dinh dưỡng thường hay nhắc nhở
chúng ta câu « ăn và cử đông » v́
thể thao là một hành động rất tốt cho sự đào thải những chất
cặn bă
dư thừa, như vậy có thể cho rằng thể thao trực tiếp tham gia và giúp
đỡ vào sự làm việc quá tải của các cơ quan như thận, gan, phổi, da
etc để cơ thể lúc nào cũng có được sự cân bằng và ổn định, đó cũng
có thể cho rằng là sức khỏe lư tưởng
Tham khảo
Những tài liệu dùng để viết
bài nầy phần đông được tham khảo trên sách vở, báo chí của Pháp và
Nhật Bản, ngoài ra có những tài liệu được trích ra từ những thông
tin trên mạng internet
Nguyễn hoàng Anh
Exryu 63 Kyodai
Paris 08/2012
|
* Vài
hàng về anh Nguyễn Hoàng Anh.
Anh Nguyễn Hoàng Anh qua Nhật năm 1963. Sau khi xong
chương tŕnh học tiếng Nhật anh vào Đại học Kyoto. Theo anh
Anh cho biết sempai của anh lúc đó là anh Nguyễn Trung Chí và
anh Nguyễn Đại Ca. Anh theo học môn hóa học cơ khí (kikai
kagaku). Sau khi tốt nghiệp anh ở lại cao hoc thêm một năm.
Năm 1969 anh qua Pháp. Tại đây anh làm việc cho viện nghiên
cứu đại học Marie-Curie Paris. Sau đó anh làm việc cho một xí
nghiệp cách Paris 125 km, xí nghiệp này chuyên sản xuất những
chất amino acides có thể gọi là xí nghiệp hóa dược, anh chịu
trách nhiệm về bộ môn phương pháp và sản xuất (méthode et
production). Hiện giờ anh đă nghỉ hưu và đang sinh sống ở
Paris.
|
|
|