THÁNG 7 ÂM LỊCH - THÁNG " CÔ HỒN ".

Phùng Kim Yến

Đối với người theo đạo Phật và tín ngưỡng dân gian, tháng 7 âm lịch là tháng Vu lan, tháng báo hiếu, tháng đền ơn đáp nghĩa và cũng là tháng mở ḷng đại từ bi, hỷ xả. Cởi bỏ những oan khiên, ngang trái với những người đă khuất, đoái hoài tưởng nhớ đến họ, dù là người thân hay sơ, hay người hoàn toàn xa lạ. là nét văn hóa VN đặc sắc, thấm đẫm tính nhân văn và tư tưởng Phật giáo : chết không phải là hết.

Chết chỉ là sự chuyển hóa sang một trạng thái khác, chết chỉ là sự tan ră một thể xác được kết hợp bởi 4 yếu tố gọi là tứ đại : đất nước gió lửa, c̣n "thần thức "- thuật ngữ Phật học - và các tôn giáo khác hay dân gian thường gọi nôm na là "linh hồn" - là một "trạng thái " theo Phật học không mất hẵn nhưng cũng không c̣n hoài. Thần thức đó sẽ nương theo nghiệp: biệt nghiệp và cộng nghiệp, hoặc hạnh nguyện mà siêu thoát hoặc tái sinh. Đạo Phật gọi là luân hồi sinh tử.

Cầu siêu trong Phật giáo chính là bày tỏ sự tưởng nhớ đến người đă khuất, tặng cho họ những vật phẩm, thức ăn tuy chỉ có tính cách tượng trưng, nhưng trên hết là "năng lượng từ bi " xuất phát từ tấm ḷng bi mẫn của người c̣n sống, thêm vào đó là giải bày, sám hối, cầu nguyện thay cho người mất thông qua lời kinh tiếng kệ, nhờ oai lực, thần lực của Tam bảo ( Phật Pháp Tăng) chiêu cảm người khuất mày khuất mặt, giúp họ " tỉnh ngộ " bớt đi đau khổ, sân hận, bám chấp, nuối tiếc, không c̣n vất vưỡng, lang thang sớm siêu thoát về cơi an lành thanh tịnh ( cơi các chư Phật ) hoặc tái sinh vào cơi Trời, người.

Mâm cỗ cúng " những linh hồn cô đơn "

Có ai biết bao nhiêu "linh hồn" cô đơn đang lang thang vất vưỡng trong ba cơi, sáu đường ? Có những người khi chết  được siêu thoát, tái sinh vào cơi an lành hay rơi vào cơi dữ rất nhanh chóng, nhưng cũng có những người chết không ai biết, oan ức, đau đớn, cô đơn, đó là những " cô hồn ", " những linh hồn cô độc ". Tháng 7 âm lịch c̣n gọi là tháng " cô hồn ". Tháng kết nối linh thiêng giữa cơi người sống người mất, giữa cơi dục giới và sắc giới của tất cả chúng sinh hữu t́nh c̣n trôi nổi trong luân hồi lục đạo.

Văn học Việt Nam từng có một " Thập giới cô hồn quốc ngữ văn " của vua Lê Thánh Tông. Vị vua giàu ḷng nhân đức này nghĩ về những con người v́ mệnh bạc phải trở thành những cô hồn vất vưỡng.. Nhưng nổi tiếng và trác tuyệt nhất vẫn là lời thơ song thất lục bát của đại thi hào Nguyễn Du trong " Văn tế thập loại chúng sinh ".

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Lọt hơi sương lạnh buốt xương khô
Năo người thay bấy chiều thu
Ngàn lau khảm bạc, giếng ngô rụng vàng
Đường bạch dương bóng chiều man mác
Ngọn đường lê lác đác mưa sa
Ḷng nào ḷng chẳng thiết tha
Cơi dương c̣n thế, nữa là cơi âm.
Trong trường dạ tối tăm trời đất
Xót khôn thiêng phảng phất u minh
Thương thay Thập loại chúng sinh
Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người

Nguyễn Du là người có trái tim rộng lớn, thấu hiểu không chỉ nổi khổ của người sống trong thời phong kiến Lê mạt, mà c̣n đối với những người chết. Ông diễn tả những trường hợp chết, những hạng người chết, từ vua quan đến thứ dân, nhưng trên hết là cái chết của những người cùng khổ, oan ức, đói rét, đau đớn từ những người bị bọn vua quan bắt lính, đến người mắc oan ở tù rục thân, người ăn xin, gái giang hồ, người đẻ non đến em bé chết yểu, người đứt dây rơi xuống giếng chết, đến người bị cọp ăn. Một bức tranh thống khổ, thật đau đớn thay một kiếp người, như hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ :" Thoạt sinh ra th́ đà khóc chóe, trần có vui sao chẵng cười kh́ ".Phài chặng sinh ra đời chả có ǵ là vui như lời một bài hát " Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người " ( Trịnh Công Sơn ).

Nguyễn Du ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo rất sâu đậm, đó là tinh thần b́nh đẵng, Vô ngă. Không có cái tôi và sở hữu cái tôi.Mọi người đều b́nh đẵng trước cái chết v́ không ai mang theo được ǵ : công danh, sự nghiệp, tiền tài, người thân đều phải bỏ lại tất cả, như đức Phật đă nói : "Chỉ có nghiệp ( karma ) theo ta như bóng với h́nh".

“C̣n chi ai quư, ai hèn
C̣n chi mà nói kẻ hiền, người ngu”
“Sống thời tiền chảy bạc ṛng,
Thác không đem được một đồng nào đi”
Chưa kể, khi chết rồi, không ít kẻ giàu sang vẫn cảnh mồ hoang lạnh;
“Khi sao đông đúc vui cười,
Mà khi nhắm mắt, không người nhặt xương”.

Tượng đại thi hào Nguyễn Du tại Hà Tĩnh

Nói đến đạo Phật là nói đến nhân quả : ở hiền gặp lành, sống khôn chết thiêng, sống hạnh phúc chết b́nh an, muốn được như vậy, đức Phật dạy phải huân tập những suy nghĩ đúng đắn, những lời nói chân thật, những hành động tốt đẹp gọi là tạo nghiệp lành khi c̣n sống, chết đi sẽ không rơi vào cơi dữ, không bám chấp, tỉnh thức để chọn cho ḿnh một kiếp tái sinh.

Không giúp được oan hồn sống lại, nhưng nhà thơ không muốn họ tiếp tục vất vưởng bụi bờ, nhà thơ lập đàn giải thoát chúng sinh. Ḷng bác ái, hướng thiện của nhà Phật có thể giúp con người thoát ṿng lầm lạc, u mê. Những người đang sống, nếu trao gởi niềm tin nơi Phật, thường vơi đi bao sợ hăi, âu lo về cái chết.

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tỉnh đàn sái hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ, độ về Tây phương
“Ai đến đây dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiêng biến ít thành nhiều,
Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh”.

Trải suốt 184 câu thơ trong " Văn tế thập loại chúng sinh ", cảnh dương thế trong tháng 7 hiện ra đầy ảm đạm, thê lương. Đó là sự biến chuyển của đất trời: “mưa dầm sùi sụt, lạnh buốt xương khô, bóng chiều man mác, lác đác sương sa, mưa sa ngói lở, gió mưa sấm sét đùng đùng, mưa gào gió thét", nó phản ảnh đúng thực tại vũ trụ chúng ta đang sống : gió mưa, băo táp, lụt lội, động đất, sóng thần, chiến tranh, chết chóc mọi nơi, mọi lúc, ngày cảng tăng thêm số lượng những " linh hồn cô đơn ", vất vưỡng.

Nguyễn Du trong "Văn tế thập loại chúng sinh ", ông không chỉ thương xót cho người chết mà cũng là lời tâm sự với người sống trong cơi trần gian này. Ông nói về quá khứ, nhưng kỳ thực là phản ảnh của hiện tại và dự báo của tương lai. Bài Văn tế là cuộc hành tŕnh về cơi âm, nhưng cuối cùng lại quay ngược về cơi dương gian. Là lời cảnh báo nếu con người không tỉnh thức, cứ ch́m đắm trong ngũ dục lạc, tham sân si, mất hết " nhân chi sơ tính bản thiện ", th́ chẵng khác nào đang bị nhốt trong địa ngục, chẵng mấy chốc, có khi không đến" trăm năm trong cơi người ta ", rơi vào trầm luân của " thập loại chúng sinh cô hồn "...

Tháng 7 âm lịch, xin thắp một nén hương tưởng niệm và tri ân đại thi hào Nguyễn Du về những tác phầm kinh điễn của ông dài như truyện Kiều có đến 3254 câu thơ lục bát, hay ngắn như Văn tế thập loại chúng sinh chỉ có 184 câu. Riêng " Văn tế thập loại chúng sinh " là tác phầm văn học độc đáo, bất hủ, thấm đẫm ḷng bi mẫn từ chính trái tim của nhà thơ, từ trái tim rộng lớn của các vị Phật, Bồ Tát như Bồ tát Địa Tạng Vương với đại nguyện: " Khi nào c̣n một chúng sinh trong địa ngục, ta nguyện không thành Phật ".

Tượng Ngài Địa tạng Bồ Tát ở Nhật Bản sau cơn sóng thần tháng 3 -2011

" Văn tế thập loại chúng sinh " là thông điệp cao quư về t́nh Người, về quả vị " nhân thừa ", về chủ nghĩa nhân văn sâu sắc:

" Người chết nối linh thiêng vào đời ", " Người thương người, sống đề thương nhau "

Phùng Kim Yến
Mùa Hiếu Hạnh tháng 7 - 2014