|

AN TOÀN THỰC
PHẨM
MỘT VẤN ĐỀ CỦA AN NINH CON NGƯỜI
Nguyễn Trọng B́nh
& Vũ Hương Linh
Vấn đề an toàn thực phẩm liên quan với rất nhiều mục tiêu đề ra
trong Mục tiêu cơ bản về an ninh con người (Báo cáo phát triển con
người 1994), đó là an ninh lương thực, an ninh sức khoẻ, an ninh
thân thể và an ninh môi trường. Vấn đề lương thực thực phẩm không an
toàn trước hết vi phạm an ninh sức khoẻ, an ninh thân thể và an ninh
lương thực của con người. Nguyên nhân của vấn đề lương thực thực
phẩm không an toàn dẫn đến an ninh sức khỏe, an ninh thân thể của
con người bị vi phạm nghiêm trọng chính là do sự vi phạm tiêu chuẩn
sản xuất an toàn, sự vi phạm này không chỉ diễn ra trong quá tŕnh
sản xuất mà cả trong quá tŕnh xử lư các chất thải (thải bừa băi gây
ô nhiễm môi trường sống của con người). Thời gian gần đây, vấn đề
này đă trở thành một vấn đề “nóng” thu hút sự chú ư của dư luận
thông qua những tin tức được đưa trên mặt báo cũng như các phương
tiện truyền thông đại chúng khác như tivi, đài phát thanh. Bài viết
đề cập đến thực trạng và những biện pháp cần làm ngay nhằm góp phần
giải quyết một vấn đề vi phạm an ninh con người này.
Thực trạng về an toàn thực phẩm trong thời gian
gần đây
Ngày 20 tháng 7 chương tŕnh thời sự của VTV1 đưa tin, chỉ có
khoảng 40% rau xanh cung cấp cho thị trường Hà Nội là đảm bảo tiêu
chuẩn an toàn thực phẩm. Báo Tiếp thị và gia đ́nh số 26 tháng 6 năm
2007 đưa tin về việc những người trồng rau “làm hàng” cho rau muống
trước khi đem ra thị trường bằng những biện pháp phun thuốc, ngâm ủ
vi phạm nghiêm trọng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Thống kê của Cục
Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2006 cũng cho biết nguyên nhân của các
vụ ngộ độc thực phẩm chính là do thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật
(38%), hóa chất độc hại (10,9%) và thực phẩm có chứa chất độc hại
(25,4%). Trong 6 tháng đầu năm, Cục Bảo vệ thực vật đă kiểm tra 865
hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên rau và chè, kết quả
cho thấy có đến 111 hộ sử dụng thuốc sai quy định, 32 hộ không đảm
bảo thời gian an toàn thực phẩm, 17 hộ sử dụng thuốc bị hạn chế dùng
cho rau, và 8 hộ c̣n dùng cả thuốc đă bị cấm không dùng cho rau.
Riêng hai tỉnh Tiền Giang và Cà Mau, kết quả kiểm tra 122 hộ cho
thấy có đến 31 hộ sử dụng thuốc nhiều lần, 33 hộ thu hoạch trong
thời hạn chưa được phép sau khi sử dụng thuốc. Hơn nữa, có rất nhiều
hộ buôn bán thuốc bảo vệ thực vật c̣n bán cả những loại thuốc cấm,
thuốc ngoài danh mục sử dụng cho thực phẩm. Đối với sản phẩm động
vật giết mổ, theo báo cáo của Cục Thú y, nhiều mẫu xét nghiệm tại
các ḷ giết mổ, trong đó có cả các ḷ giết mổ tập trung, đă không
đạt chỉ tiêu an toàn đối với các loại khuẩn gây hại như E.coli,
S.aureus, Samonella. Có tới 57 trên 90 mẫu không đạt tiêu chuẩn về
khuẩn, 21 trên 90 mẫu không đạt các chỉ tiêu tồn dư kháng sinh, kim
loại nặng và hóa chất bảo vệ thực vật. Chi cục Bảo vệ thực vật cũng
đă kiểm tra 2.069 mẫu th́ có 71 mẫu vượt mức cho phép về dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật, và điều đáng nói là chiếm mẫu vi phạm chiếm
4,62% tổng số, tăng cao so với cùng kỳ năm 2006. Chi cục Quản lư thị
trường và Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội đă kiểm tra hàng loạt các
điểm bán rau an toàn trong thành phố th́ phát hiện thấyhầu hết các
điểm bán rau an toàn, trong đó có cả một số siêu thị, cũng vi phạm
vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ảnh hưởng của vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm
Theo Bộ Y tế, hàng năm Việt Nam có 200.000 người bị ung thư,
trong đó con số tử vong lên tới 150.000 người. Về nguyên nhân dẫn
đến ung thư, có khoảng 35% số bệnh nhân ung thư (tức là khoảng
70.000 người) được chẩn đoán mắc bệnh do những nguyên nhân liên quan
tới việc sử dụng thực phẩm độc hại. Theo Phó giám đốc Trung tâm Chẩn
đoán trước khi sinh, bác sĩ Trần Danh Cường, tỉ lệ trung b́nh các
trường hợp dị tật ở thai nhi là khoảng 3,5% (riêng khảo sát tại Viện
C th́ tỷ lệ này là 5,4%) và phần lớn đều do chế độ dinh dưỡng không
đúng hoặc do bị nhiễm độc. Cũng theo bác sĩ Cường, nguyên nhân gây
dị dạng thai nhi chủ yếu là do các yếu tố môi trường sống bị ô nhiễm
có nhiều hóa chất, chất độc, yếu tố dinh dưỡng, bệnh tật của người
mẹ nhưng trong đó, nguyên nhân gây dị dạng thai chủ yếu là do độc
tố, thứ hai là dinh dưỡng, đột biến về gien di truyền thường do tiếp
xúc với hóa chất, thuốc trừ sâu, tia X, phóng xạ cũng gây dị dạng
thai nhưng ít hơn so với nguy cơ độc tố và dinh dưỡng.
Việc vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm c̣n được phát hiện thông qua
thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp nhất là sản phẩm thuỷ
hải sản. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Nhật Bản đă thông báo trong gạo của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật có
ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật Acetamipri với mức tồn dư là 0,03
ppm vượt ngưỡng cho phép (0,01ppm). Cũng do phát hiện thấy tôm xuất
khẩu có tồn dư chất kháng sinh, Nhật Bản đă quyết định kiểm soát
100% hàng thủy sản nhập từ Việt Nam. Tháng 4 năm 2007, Mỹ cũng từ
chối một số lô hàng thủy sản của Việt Nam với lư do bao b́ kém và
nhiễm trùng cũng như chứa nồng độ kháng sinh (Chloramphenicol) cao.
C̣n Nga th́ đă quyết định ngừng nhập khẩu gạo của Việt Nam v́ các lư
do tương tự.

Nh́n vào biểu đồ trên có thể nhận thấy, liên tiếp trong 6 tháng
đầu 2007, đều có các lô hàng thực phẩm chế biến từ Việt Nam xuất
khẩu sang Mỹ bị từ chối. Tháng 3/2007, số lô hàng bị trả về lên cao
nhất: 56 lô. Tháng 6/2007, số lô hàng thực phẩm bị từ chối vẫn ở mức
cao: 35 lô . Nh́n chung, hàng Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường
EU, Mỹ, Nhật và Nga đều đang gặp trục trặc v́ vấn đề bao b́, vệ sinh
an toàn thực phẩm (tồn dư và chứa lượng hóa chất quá mức cho phép).
Theo thống kê của Pḥng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, năm 2006
kim ngạch hàng xuất khẩu thủy hải sản đạt khảng 1,6 tỷ đô-la, là 1
trong 6 mặt hàng xuất khẩu vượt ngưỡng 1 tỷ đô-la. Nếu như không
chấp hành đúng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, trong
bối cảnh toàn cầu hóa với sự phổ cập thông tin nhanh chóng như hiện
nay, không những chúng ta sẽ gặp phải vấn đề an ninh sức khỏe cho
chính người Việt Nam mà chắc chắn sẽ c̣n bị loại ra khỏi thị trường
thế giới vốn rất nghiêm ngặt và nhạy cảm đối với vấn đề an ninh con
người nói chung và an toàn thực phẩm nói riêng.
Các biện pháp “cần làm ngay”
Theo kinh nghiệm nước ngoài, liên quan đến việc quản lư an toàn
thực phẩm ở trung ương có các cơ quan như Bộ Y tế, Bộ Nông lâm thủy
hải sản và Bộ Môi trường phối hợp đưa ra những định hướng mục tiêu,
quy định luật lệ và cung cấp ngân sách cho các cơ quan quản lư cấp
dưới. Phối hợp với các cơ quan quản lư c̣n có các cơ quan chức năng
như Cơ quan Quản lư Thực phẩm và Dược (FDA), Cơ quan Vệ sinh Môi
trường (Environmental Hygiene) và Cơ quan Kiểm định tiêu chuẩn thực
phẩm (hàng hóa) có trách nhiệm giám sát, thực thi, áp dụng các luật
lệ đă định. Bên cạnh những cơ chế bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
như vậy, các nước c̣n đưa vào áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế phổ
biến về vệ sinh an toàn thực phẩm như GMP (Tập quán sản xuất tốt),
HACCP (Phân tích độc hại và điểm ngưỡng cho phép) trong thực tế quản
lư an toàn thực phẩm và dược. Các cơ quan giám sát có nghĩa vụ
thường xuyên kiểm tra và thông báo ngay với các nhà sản xuất và
người tiêu dùng về những sản phẩm vi phạm tiêu chuẩn cho phép để thu
hồi và tiêu hủy kịp thời. Về phía nhà sản xuất, những người vi phạm
tiêu chuẩn an toàn thực phẩm sẽ phải chịu thiệt hại rất nặng nề như
bị thu hồi và tiêu hủy sản phẩm, bị phạt nặng theo luật định và quan
trọng nhất là bị người tiêu dùng quay lưng lại với sản phẩm.
Trước một vấn đề gây ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh con người, vi
phạm quyền được sống an toàn về thực phẩm, về sức khỏe và môi trường
như hiện tượng vi phạm an toàn thực phẩm đang trên đà gia tăng như
hiện nay, rơ ràng là, việc tổ chức lại sản xuất và công tác quản lư
một cách đồng bộ, tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn quốc tế bằng những
phương pháp khoa học hiện đại chính là việc “cần làm ngay” của cả
các cơ quan quản lư và cả người sản xuất. Cụ thể là:
- Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp kinh doanh và các
nhà sản xuất trực tiếp để tiến đến h́nh thành những cơ sở sản xuất
lớn, theo phương pháp hiện đại nhằm đảm bảo sản xuất lớn có chất
lượng đồng bộ đạt tiêu chuẩn quốc tế.
- Cần thắt chặt khâu quản lư nguyên liệu sản xuất từ khâu giống
sạch, thức ăn chăn nuôi không vi phạm an toàn thực phẩm đến quy
tŕnh nuôi trồng đúng quy định.
- Khâu chế biến, bao b́, bảo quản thực phẩm cũng cần được kiểm soát
nghiêm ngặt theo đúng tiêu chuẩn quốc tế.
- Về phía các nhà quản lư và các bộ ngành liên quan như Bộ Y tế, Bộ
Nông nghiệp, Bộ Môi trường cần phối hợp sớm đưa ra Tiêu chuẩn quốc
gia về an toàn thực phẩm, trên cơ sở tham khảo và đảm bảo sự đồng bộ
với tiêu chuẩn quốc tế, nhất là phải đạt ngang tầm với tiêu chuẩn
của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên (APEC, ASEM,
ASEAN, WTO) để có cơ sở công cụ quản lư tốt chất lượng thực phẩm
trong nước và xuất khẩu.
Bảo đảm an toàn thực phẩm là thực hiện an ninh
con người
Tóm lại, nhà nước cần quy hoạch lại việc sản xuất tập trung hơn,
đưa vào áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại trong quản lư giám
sát đảm bảo nghiêm ngặt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Đó chính là
việc kiện toàn cơ chế đảm bảo thực hiện quyền con người nói chung và
an ninh con người nói riêng v́ sự phát triển bền vững của con người.
Tuy nhiên, điều này không thể chỉ đ̣i hỏi một chiều từ Nhà nước (mặc
dù đó là khâu đ̣n bẩy quan trọng nhất) mà c̣n đ̣i hỏi ở sự tự giác
từ phía các nhà sản xuất chấp hành nghiêm những luật lệ và quy định
về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Một điều cũng vô cùng quan trọng
không kém, đó chính là vấn đề ư thức của tất cả các cấp, mà trước
hết là ở người sản xuất, họ cần nhận thức rằng vi phạm an toàn thực
phẩm không chỉ là vấn đề vi phạm luật mà c̣n là sự vi phạm đạo đức
con người, vi phạm quyền con người, vi phạm quyền được sống trong
“an ninh” lương thực thực phẩm và môi trường của người tiêu dùng
trong đó có cả bản thân họ. Điều này cần có luật lệ, chế tài đồng
thời cũng cần đến dư luận xă hội, sự nhất trí và quyết tâm của toàn
xă hội chung tay ngăn chặn một hiện tượng gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến sức khoẻ của giống ṇi và uy tí, danh dự cũng như sức mạnh cạnh
tranh của Việt Nam trên thị trường thế giới.
|
Một số hóa chất trong các vi phạm an toàn thực phẩm gần đây
3-MCPD: là chất gây ung thư cho các động vật thí nghiệm trong các
pḥng nghiên cứu, sinh ra trong quá tŕnh thủy phân nguyên liệu có
lẫn tạp chất béo với axít HCl ở nhiệt độ cao. Chất này được phát
hiện thấy có trong nước tương bán trên thị trường.
Semicarbazide: là thuốc trừ sâu, khixâm nhập vào cơ thể sẽ làm tăng
nguy cơ ung thư, làm hại gan, sảy thai, gây khuyết tật trong quá
tŕnh phát triển thai. Từ đầu năm 2003, đă bị đưa vào danh sách
những chất tránh sử dụng liên quan đến thực phẩm.
Acetamipri: cũng là thuốc trừ sâu nằm trong danh mục các chất cần
quản lư. Chất này bị Nhật phát hiện thấy có hàm lượng chứa cao quá
mức cho phép trong gạo của Việt Nam xuất khấu sang Nhật.
Sudan Red I-IV: là chất phẩm đỏ bị cấm sử dụng trong thực phẩm từ
năm 2003 sau khi phát hiện thấy độc tính gây ung thư cho một số động
vật. Chất này phát hiện thấy trong các sản phẩm trang điểm (son môi)
bán trên thị trường.
Urea, Clor, Chloramphenicol, Dipterex…: là những chất độc hại bị
phát hiện có trong thủy hải sản như tôm, cá da trơn (do quá tŕnh
nuôi cấy và bảo quản) xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài như
Nhật, Mỹ, EU.
|
|
Nguồn : Bài đă đăng trên tạp chí "Nghiên cứu Con
người". Đăng lại trên ERCT với sự đồng ư của anh Nguyễn Trọng B́nh
|
|