|
TIẾN SĨ NGUYỄN QUỐC VỌNG (AUSTRALIA) Người “khùng” “mắc nợ” nông dân Việt Nam! * Ḍng sông và cánh đồng, mảnh vườn và gốc rạ, mái tranh cùng ngọn khói lam chiều…tất cả như đă thấm sâu, như khắc ghi trong tâm hồn, trong sâu thẳm kư ức người đàn ông ấy, để dẫu thời trai trẻ hay khi đă thành danh nơi xứ người, anh vẫn mải miết đi t́m một chân trời mơ ước: được làm một điều ǵ đó cho người nông dân xứ ḿnh. Và anh đă trở về, sau bao khó khăn, như một sự gửi gắm, như niềm kỳ vọng của người cha đáng kính khi đặt tên cho đứa con bé bỏng của ḿnh: Nguyễn Quốc Vọng!
Có lẽ tấm gương hy sinh v́ dân
v́ nước của người cha – nhà thơ
Nguyễn Đ́nh Thư (nhà thơ có tên trong Thi nhân
Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân. Ông tham gia
chống Pháp và bị giặc bắt, tra tấn dă man
cho đến chết) đă trở thành điểm
tựa, là nỗi khắc khoải trong tim cậu bé
mồ côi cha khi mới lên 2 tuổi, phải sống
trong cảnh đất nước chiến tranh, ch́m
trong đau thương, chia cắt. Cậu học tṛ
trường Quốc học (Huế) Nguyễn Quốc
Vọng luôn mong mỏi “lớn lên phải làm điều
có ích cho quê hương, cho đồng bào ḿnh”.
Rồi chính hương đồng gió nội, chính vườn
cau, ruộng lúa, chính bờ ruộng, khóm rau đă nuôi
lớn cậu bé nhà quê đă khiến cậu chỉ
muốn học để làm một “người nông
dân có tri thức”. Vậy là rời xứ Huế
mộng mơ, vào Sài G̣n để học ngành nông
học, Nguyễn Quốc Vọng muốn tiến sâu vào
sự tiến bộ, vào những khoa học kỹ
thuật tiên tiến của nghề nông. Tốt nghiệp đại học
loại giỏi, năm 1969 anh được nhận
học bổng của Chính phủ Nhật Bản.
Lấy bằng tiến sĩ nông học tại Đại
học Tokyo, làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ
tại hăng hạt giống Takii, Nhật Bản, con
đường công danh, sự nghiệp mở ra trước
mắt với một tương lai sáng lạn cho người
thanh niên xứ Huế. Nhưng như một “gánh
nợ”, hay đúng hơn, là nỗi khắc khoải
trong tâm của một người con Việt,
Nguyễn Quốc Vọng luôn khao khát được
trở về. Nhất là khi ấy, quê nhà Việt Nam
đă được thống nhất. Khắc
khoải một “con đường” trở về Năm 1977, sau khi lấy bằng
Tiến sĩ nông học, Nguyễn Quốc Vọng làm
đơn xin được trở về Việt Nam,
mang những kiến thức, kinh nghiệm ḿnh tích lũy
được cống hiến cho quê hương c̣n
đói nghèo v́ chiến tranh tàn phá. Đại sứ
quán Việt Nam tại Nhật khuyên anh không nên
vội về! Ra đi từ miền Nam, t́nh h́nh lúc
ấy không hề thuận lợi cho những người
như anh! Buồn, và nén ḷng chờ đợi. Năm 1979, lần đầu về thăm
quê hương sau 10 năm xa cách. Ấn tượng
để lại trong anh sao mà chua xót: nước ḿnh,
dân ḿnh nghèo quá. Ăn cơm độn khoai, áo không
đủ mặc, vườn ruộng đ́u hiu. Anh bàn
với vợ - chị Nguyễn Thanh Tuyền, cùng nhau
về nước. Anh có những kiến thức nông
học, chị với những hiểu biết, kinh
nghiệm của một nhà hóa học chuyên về ngành
dệt, sẽ thích hợp biết bao nếu góp tay giúp
người dân bớt nghèo. Anh làm việc với
Viện Nông nghiệp Hà Nội và bày tỏ mong
muốn của ḿnh. Câu trả lời: anh chị khoan
hẵng về. Cứ ở “bên ngoài”, sự đóng
góp sẽ hiệu quả hơn. Lại tiếp
tục đợi chờ! Nhưng một người luôn luôn muốn “dấn thân” cho ngành khoa học mà ḿnh yêu thích, một người luôn mong mỏi được đem những ǵ ḿnh biết về “chia sẻ” với người dân quê ḿnh như TS Vọng lại không thể vào làm việc ở những cơ quan nghiên cứu nhà nước v́ vào thời đó Chính phủ Nhật Bản không thu dụng người nước ngoài. Làm cho các hăng tư nhân th́ anh lại không muốn, ở đó cũng không đủ điều kiện để anh nghiên cứu. Lại càng khó có thể làm ǵ “ở bên ngoài” để giúp “từ xa” cho quê hương ḿnh. Lại băn khoăn, bứt rứt!
Trồng rau công nghệ cao -
một trong những "con đường" May sao (không biết có nên gọi là
“may” không!?) Chính phủ Australia thời kỳ
ấy đang thực hiện chính sách di dân, thu hút các
dân tộc khác đến định cư trên xứ
sở đất rộng, người thưa này. Và
những nhà khoa học trí thức như anh luôn
được trọng dụng. Năm 1980 Nguyễn
Quốc Vọng sang Austraila định cư. Anh vào làm
việc tại Bộ Nông nghiệp bang New South Wales
với vai tṛ là chuyên viên nghiên cứu và tạo
giống rau quả, chủ yếu về rau quả Á
châu như cà chua, dưa leo, xà lách và trà xanh Nhật
Bản. Định cư ở Nhật gần
12 năm, Nguyễn Quốc Vọng hiểu rất rơ
về nhu cầu cũng như t́nh h́nh thị trường
rau quả của Nhật Bản. Anh đưa ra
dự án xây dựng và phát triển ngành xuất
khẩu rau quả của Australia với thị trường
Nhật. Bộ Nông nghiệp đắn đo: trước
giờ Australia chỉ xuất khẩu thịt ḅ, lúa ḿ,
bông vải…Nguyễn Quốc Vọng lập luận:
tại sao lại bắt nông dân phải “hy sinh” cho
một ngành khác, trong khi đó, nếu có sự
chuẩn bị cho một ngành mới, đầy
tiềm năng th́ chắc chắn sẽ thành công.
Bộ Nông nghiệp bang New South Wales ủng hộ. Và
ngay khi anh đang bắt tay vào nghiên cứu những
sản phẩm đáp ứng được nhu
cầu của người dân Nhật, phía Nhật
Bản đă “đánh tiếng” đặt hàng.
Nguyễn Quốc Vọng trở thành chuyên gia đầu
ngành về rau quả Á châu và trà xanh Nhật Bản
khi phát triển mạnh mẽ ngành này tại Australia,
tạo nên hiệu quả kinh tế cao, góp phần
đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất
khẩu rau quả của Australia. Những sản
phẩm do anh nghiên cứu dành riêng cho khách hàng là
kiều bào Nhật và những cộng đồng dân
châu Á khác cũng được tiêu thụ mạnh
mẽ. Có thể nói anh là người góp phần không
nhỏ vào việc phát triển nông nghiệp Australia. Với gần 200 tiểu luận nghiên
cứu và bài báo đăng ở các sách và tạp chí
khoa học và báo chí phát hành tại Australia, Hoa Kỳ
và Nhật Bản, Nguyễn Quốc Vọng cũng
đă nghiên cứu và đưa vào sử dụng 5
giống cà chua, trong đó có 2 giống F1-rin đă
từng được sử dụng rộng răi
tại 10 quốc gia trên thế giới v́ tính tồn
trữ cao. Anh được nhiều trường
đại học ở Australia và Việt Nam mời làm
giáo sư thỉnh giảng và hướng dẫn
nhiều luận án tiến sĩ, thạc sĩ. Đang
làm việc tại Viện Nghiên cứu Rau Hoa Quả
Gosford, Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Nhà lồng
thuộc Bộ Nông nghiệp New South Wales, Nguyễn
Quốc Vọng lại càng có nhiều điều
kiện để nghiên cứu, thí nghiệm và
đưa vào thực tiễn những giống cây
trồng có chất lượng cao. Điều này
lại càng khiến anh trăn trở: tại sao không
đem những điều này về “chia sẻ”
với người nông dân quê ḿnh? “Bơi” trong “ḍng sông” quê hương
TS Nguyễn Quốc
Vọng và nhà kinh doanh Rinta Uchikawa (hăng trà và cà phê
Kunitaro, Nhật Bản) Là một chuyên gia trong lĩnh vực
rau quả, là người luôn đau đáu với
nền nông nghiệp ở quê nhà, TS Nguyễn Quốc
Vọng hiểu rất rơ Việt Nam hoàn toàn có
lợi thế để sản xuất rau sạch
dạng công nghệ cao, Việt Nam có khả năng
xuất khẩu rau quả chứ không chỉ là
gạo. Ngay từ những năm 1992 - 1993, TS Vọng
đă chủ trương Việt Nam nên đa dạng
hóa, chuyển đổi giống cây trồng. Anh cho
rằng Việt Nam có 5 lợi thế để
sản xuất rau sạch dạng công nghiệp. Bên
cạnh các lợi thế như: Ứng dụng các thành tựu khoa
học kỹ thuật hiện đại của
thế giới vào hoàn cảnh VN để nhanh chóng
sản xuất rau quả có năng suất cao, đáp
ứng thị trường nước ngoài; Lao động
nông thôn Việt Nam vừa trẻ, vừa rẻ kéo
theo giá thành nông sản VN sẽ rẻ, có thể
cạnh tranh với các quốc gia khác, kể cả
Trung Quốc; Khí hậu và đất đai VN thích
hợp với nhiều chủng loại rau; VN có
một thị trường trong nước với trên
80 triệu dân cùng 2 triệu khách du lịch mỗi năm
sẽ là một thị trường đủ lớn
để thẩm định chất lượng trước
khi xuất khẩu; là lợi thế thứ 5 đầy
hấp dẫn: VN nằm ở một vị trí trung tâm
của thị trường xuất khẩu châu Á
lớn như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản,
Hồng Kông… với 12 tỉ USD rau quả, trái cây
được nhập khẩu mỗi năm. Nếu
VN đạt được kim ngạch xuất
khẩu chỉ 10%/năm của thị trường này
th́ VN sẽ có thêm 1,2 tỉ USD mỗi năm. Và như
vậy vấn đề lao động ở nông thôn
cũng sẽ được giải quyết v́ rau
quả cần nhiều lao động hơn trồng lúa! Những suy nghĩ, trăn trở,
những nghiên cứu và suy tư của TS Vọng
về ngành rau quả VN cũng chính là điều thôi
thúc anh bắt tay vào xây dựng đề án sản
xuất rau công nghệ cao ở Việt Nam theo đề
nghị của ông Ngô Thế Dân, Thứ trưởng
Bộ Nông nghiệp Việt Nam, khi ông qua Australia (1999).
Đề án “Nghiên cứu sản xuất rau sạch
dạng công nghệ cao và tăng cường năng
lực về kiểm tra chất lượng, quản
lư sau thu hoạch cho ngành sản xuất rau” của
anh đă được Chính phủ Australia chấp
nhận tài trợ để đào tạo chuyên viên
VN những kỹ thuật sản xuất rau công
nghệ cao; đồng thời chuyển giao công
nghệ giữa Australia và VN; tạo mối liên
kết giữa “ba nhà”: nhà nông, nhà nước và
nhà kinh doanh. Dự án được thực hiện
từ năm 2001 – 2003 với sự phối hợp
của Viện Rau quả Hà Nội, Trường Đại
học Nông Lâm Huế và Viện Khoa học Kỹ
thuật Nông nghiệp miền Nam, phía Austrlia do TS
Vọng làm Giám đốc điều hành. Dự án
đă đạt được những kết
quả khả quan và chính từ tầm quan trọng
của nó mà dự án thứ 2 lại được
triển khai, lần này “hướng” về
miền Tây sông nước, cụ thể là Đại
học Cần Thơ. Dự án sẽ “bắt tay”
với nhà kinh doanh là siêu thị Metro để phân
phối rau quả công nghệ cao. TS Vọng cho
biết hiện dự án đang thực hiện
trồng các loại rau quả công nghệ cao ở vùng
Đức Trọng, Đơn Dương (Lâm Đồng),
đặc biệt đang khôi phục lại vùng
trồng cà chua Đơn Dương vốn đă
bị “hoang hóa” v́ sâu bệnh. Tṛ chuyện với Người
Viễn Xứ, TS Nguyễn Quốc Vọng luôn trăn
trở: “VN có một tiềm năng rất lớn
về xuất khẩu rau quả, thế nhưng VN
lại đang thiếu một “chứng chỉ”.
Ở VN chúng ta hay nói đến “thương
hiệu”, nhưng chính chất lượng cao, an toàn
của sản phẩm, được đảm
bảo trong một thời gian liên tục mới là thương
hiệu. Nghĩa là hàng nông sản VN phải
được kiểm tra nghiêm túc về an toàn
vệ sinh và chất lượng, khi ấy thương
hiệu VN mới thật sự có giá trị. Khi
ấy, việc xuất khẩu nông sản VN, đặc
biệt là trái cây, rau củ mới có cơ hội thâm
nhập thị trường to lớn của thế
giới”. TS Vọng đă viết rất nhiều bài
báo về vấn đề này đăng tải trên
các phương tiện truyền thông ở VN. Anh
khẳng định: “VN đang chuẩn bị gia
nhập WTO, đây là cơ hội tốt để VN
thâm nhập thị trường nông sản thế
giới có kim ngạch khoảng 548 tỉ USD/năm. Tuy
nhiên nông nghiệp VN sẽ phải đối đầu
với nhiều thách thức mới rất phức
tạp và khó khăn”. Tại sao một TS nông học với
nhiều thành công và được trọng dụng
ở xứ người lại “loay hoay” măi về
một nền nông nghiệp vốn c̣n nghèo và lạc
hậu như VN? Đơn giản: anh là người
đă “tắm đẫm” cái không khí “quê mùa”
ấy từ thuở ấu thơ và anh yêu nó, say nó
như say một mối t́nh! Cũng v́ thế, hết
60% thời gian của anh hiện nay là dành cho VN: bay
đi bay về quê hương mỗi năm 2 lần;
đi Hà Nội, lên Lâm Đồng, xuống miền Tây,
qua lại Australia…anh như con cá đang vẫy vùng
tự do trong ḍng sông quê hương, thỏa chí
thực hiện mong ước của ḿnh. Người “khùng” “mắc nợ” nông dân Việt Nam!
TS Nguyễn Quốc
Vọng và vợ, chị Nguyễn Thanh Tuyền Kiểm tra tiến tŕnh thực
hiện dự án, xem xét, tính toán đầu ra cho bài
toán xuất khẩu nông sản VN, về Australia
lại lao vào tổ chức hội thảo đánh giá
dự án…TS Nguyễn Quốc Vọng đang là
một “nhà ngoại giao” cho nông dân, cho ngành nông
sản VN khi nối kết giữa các nhà khoa học,
nhà nông, nhà kinh doanh VN với Chính phủ nước
sở tại để nhận từ họ sự giúp
đỡ, chuyển giao công nghệ. Bạn bè anh có
người hỏi “Mày khùng hả?” khi thấy anh
cứ đi đi về về, “lao” đầu vào
những việc “chân đất” cực nhọc.
Anh chỉ cười! Anh biết chứ, về VN là
đối đầu với những khó khăn,
với nhiều phức tạp trong công việc, trong
cuộc sống; nhưng anh yêu mảnh đất này,
anh hạnh phúc khi được làm những điều
ḿnh mơ ước, nhất là bên anh luôn có người
bạn đời sẵn sàng thông cảm, sẻ chia. Cũng như anh, chị Tuyền cũng
có những suy tư, trăn trở về công
việc, về quê hương, cũng muốn làm
điều ǵ đó cho mảnh đất ḿnh đă
sinh ra. Chị đă luôn bên anh, động viên và
hỗ trợ anh, dù chỉ là “nhắc anh ấy
những ǵ ảnh quên, nghe phụ anh ấy những ǵ
ảnh nghe không kịp, bởi 2 người vẫn hơn
1 người!”. Anh chị đă quyết định
sẽ trở về VN, xây dựng một trang trại
ở Lâm Đồng, như một mô h́nh sản
xuất rau công nghệ cao, để thực hiện
những ước nguyện của ḿnh: chuyển giao
công nghệ cho bà con nông dân; thay đổi quan
niệm rề rà, chậm chạp của nghề nông,
giúp bà con nông dân hiểu thế nào là làm nông
một cách bài bản. TS Vọng luôn băn khoăn: “Khi VN
gia nhập WTO, người nông dân sẽ phải đối
đầu với thách thức là nền sản
xuất nhỏ, manh mún sẽ không thích hợp với
công nghệ cao, sẽ bị đào thải. V́
sức ép của thị trường cần có
một lượng hàng hóa lớn, chất lượng
cao, an toàn vệ sinh và giá rẻ, VN phải phát
triển công nghệ cao trong nông nghiệp. Điều
này buộc nông dân phải nhanh chóng thay đổi tư
duy và kỹ thuật cho hợp với yêu cầu
mới”. Để người nông dân sống
được với nghề của ḿnh, để
ngành nông sản VN có thể thâm nhập thị trường
thế giới, TS Vọng lại đang “lao vào” xây
dựng, thuyết phục các nhà quản lư VN và chính
anh đang tiến hành qua dự án của ḿnh để
làm sao người nông dân “bắt tay” được
với nhà kinh doanh, nhà nước để cùng
hợp tác làm việc, chuyển giao công nghệ
về kỹ thuật canh tác, quản lư sau thu
hoạch… Anh cho rằng, nông dân cần có một
hiệp hội của ḿnh, khi chính họ đứng
ra đảm đương công việc của ḿnh, dưới
sự trợ giúp của Nhà nước, họ sẽ
đóng góp tích cực và hữu hiệu cho ngành nông
nghiệp. Và anh khẳng định: “Nếu nông dân
được tham gia vào những hiệp hội có
tổ chức hợp lư để qua đó họ
được nhanh chóng trang bị đầy đủ
kỹ thuật công nghệ cao, th́ việc cạnh
tranh tốt với hàng ngoại tại sân nhà và
chỉ tiêu đạt 4 tỉ USD xuất khẩu nông
lâm sản vào năm 2010 không phải là điều vượt
quá tầm tay”. Tại sao lại không chứ? Ngành nông
sản VN sẽ có nhiều cơ hội để vươn
xa ra thị trường quốc tế khi nó đă có
đầy đủ tiềm năng, chỉ cần có
những bước đi hợp lư, khoa học và
đồng bộ, và cần có những “cú hích”
từ những con người đầy tâm huyết
với quê hương như TS Nguyễn Quốc
Vọng, cảm nhận hạnh phúc khi được
“xắn tay áo” lăn lộn cùng mưa nắng
với người nông dân. Bởi cả anh và người
bạn đời của ḿnh đều tâm niệm:
“Gần 40 năm sống ở nước ngoài, đă
tiếp xúc, làm việc với môi trường
hiện đại, tiên tiến ở Nhật, ở
Australia, chúng tôi hiểu về VN sẽ gặp
nhiều khó khăn, nhưng có sao đâu, được
trở về làm việc trên quê hương ḿnh là
vui rồi, hạnh phúc rồi. Làm việc cho người
nước ngoài bao nhiêu năm, nay chúng tôi sẵn sàng
đóng góp cho sự tiến bộ của đất
nước. Người nông dân VN đă phải
chịu thiệt tḥi trong chiến tranh, giờ sống
trong ḥa b́nh mà cuộc sống vẫn c̣n nghèo khó.
Phải làm điều ǵ đó để “trả
nợ” cho người nông dân. Đó không chỉ là
trách nhiệm mà c̣n là hạnh phúc của chúng tôi”. Chiều đă xuống. Lát nữa
đây TS Vọng lại bước vào một
cuộc họp với Viện Khoa học Kỹ
thuật Nông nghiệp miền Nam. Những ngày sau
lại bay đi Hà Nội, rồi lại lên Lâm Đồng…Tất
tả và bận rộn như một người nông
dân thứ thiệt, nhưng là “nông dân có trí
thức”, “nông dân công nghệ cao”, vị TS nông
học ấy muốn trao tặng tất cả trái
tim, tấm ḷng và khối óc ḿnh cho mảnh đất
quê hương. Những ǵ anh “gieo” xuống đă
đâm chồi nảy lộc! T.P * Bài của Tô Phương đăng trên báo Người Việt Viễn Xứ ngày 28/2/2006 |