|
e) Tác
giả và hoàn cảnh sáng tác:
Xuất Xứ:
Shin Chokusen-shuu (Tân Sắc Soạn Tập), thơ luyến ái phần 3,
bài 849.
Tác Giả:
Quan Gon –Chuunagon (Quyền Trung Nạp Ngôn) Teika, c̣n đọc Sadaie,
tức Đằng Nguyên Định Gia, 1162?- 1241, người soạn ra thi tập này.
Ông là con của Shunzei tức Toshinari (bài 83). Ông có công soạn
Shin Kokin-shuu và Shin Chokusen-shuu. Nếu Shunzei, cha
ông, hướng về thơ u huyền (幽玄yuugen),
ông đào sâu thêm về nó, chủ trương chú trọng mặt diễm lệ (艶en)
và t́m đến đối tượng một cách sâu sắc (有心ushin).
Lời bàn của Shin
Chokusen-shuu cho biết bài thơ vịnh theo chủ đề xướng ra ở một
hội b́nh thơ và Teika đă nói thay cho môt người đàn bà mong mỏi
người yêu mà chàng không đến.
f)
Thưởng ngoạn và phẩm b́nh
Đề tài:
Chờ mong và tưởng nhớ người yêu không đến, ḷng nóng như thiêu đốt,
đời tàn tạ.
Bài thơ này không những sử dụng
lần lượt các kỹ thuật như kake-kotoba, jô-kototba,
engo mà c̣n mô phỏng theo một bài thơ gốc là một trường ca của
Kasa no Kanamura (Lạp, Kim Thôn, nhà thơ sống quăng 733) trong
Man.y-shuu (quyển 6, bài 940) mô tả cuộc sống những người con
gái làng chài hớt rong và lấy muối biển từ cọng rong (moshio) trên
băi Matsuho ở phía bắc đảo Awaji-shima.
- Kake-kotoba: (hito wo
matsu = đợi người) (まつho
no ura = tên đất);
- Jo-kotoba: Cả 3 câu (2,3 và 4) họp lại để dẫn tới
kogareru (thiêu đốt);
- Engo: moshio (muối đọng trên rong), yaku (nướng), kogareru
(thiệu đốt).
g)
Dư Hứng:
|
Hán dịch:
Hầu
Nhân Bất Chí.
候 人 不 至
Hầu nhân bất chí nhăn dục
xuyên,
候 人 不 至 眼 欲 穿
Nhất như hải ngạn ngao
hải diêm
一 如 海 岸 熬 海 塩
Đa t́nh thân thụ ngao tiễn khổ,
多 情 身 受 熬 煎 苦
Tư quân bất kiến ngă tâm toan.
思 君 不 見 我 心 酸
|
|
Anh dịch:
On Mats’ho’s shore, our meeting place,
At dusky hour of night, I wait
My longed-for mistress to embrace;
Ah, why linger’st thou so late!
My ardent passion, than the fire
The heats the salt-pans, rages higher.
(Dickins)
Like the salt sea-weed,
Burning in the evening calm,
On Matsuo's shore,
All my being is aglow,
Waiting one who does not come.
(Mac Cauley)
| |
Để mô tả khái niệm thẩm mỹ yôen (yêu
diễm = lộng lẫy và man mác) của Teika mà ông dịch là “ethereal
beauty”, giáo sư J. Mostow
đă mượn lời hai dịch giả Brower và Miner, như sau:
“ Đó là cảnh tượng nàng tiên từ thượng giới ghé
xuống trần gian vào một đêm xuân trăng mờ sương”.
Ông cũng dẫn Wayne Lammers, đưa ra hai bài
trong năm bài thơ của chính Teika mà các học giả xưa nay vẫn cho là
nói được cái vẻ đẹp ấy, tuy có người trách là quá tươi tắn nên thiếu
mất chất buồn thương vốn là một yếu tố khác của en (diễm):
Haru no yo no
Yume no uki-hashi
Todae shite
Mine ni wakaruru
Yoko-gumo no sora
(Mây thành đỉnh núi chia đôi,
Đêm xuân cầu nổi mộng trôi phương nào)
Ume no hana
Nioi wo utsusu
Sode no ue ni
Noki moru tsuki no
Kage zo araofu
(Hương mơ bám tay áo ta,
Như ghen với ánh trăng qua liếp ngoài)
|
|