Bài số :  68

Thơ Sanjô–in 三条院

 

a) Nguyên văn:

心にも

あらでうき世に

ながらへば

恋しかるべき

夜半の月かな

b) Phiên âm:

Kokoro ni mo

Arade ukiyo ni

Nagaraeba

Koishikaru beki

Yowa no tsuki kana

c) Diễn ư:

Nếu phải sống lâu ở trên đời này,

Để chuốc toàn những điều đau ḷng.

Nhất định con trăng giữa đêm nay trong cung,

Là đáng yêu và đem lại nhiều cảm hoài hơn cả.

d) Dịch thơ:

Sống chi lâu trên đời,
Đễ gặp toàn ngang trái.
Mỗi vầng trăng cung khuya,
An ủi ḷng ta măi.

(ngũ ngôn) 

Sống lâu chỉ để nát ḷng,
Cung khuya vầng nguyệt bạn cùng mà thôi.

(lục bát)

 

e) Tác giả và hoàn cảnh sáng tác:

Xuất xứ: Go-Shuui-shuu (Hậu Thập Di Tập), tạp thi phần thượng, bài 860.

Tác Giả: Sanjô-in (Tam Điều Viện, 976-1017) tức cựu hoàng Sanjô. Ông là hoàng tử Iyasada (Cư Trinh), con trai thứ hai của Thiên Hoàng Reizei (Lănh Tuyền), thân thể bệnh nhược, sau khi ở ngôi Đông Cung trong 25 năm, tức vị lúc 36 tuổi và trị v́ được 5 năm th́ thoái vị, qua năm sau băng hà. Mẹ ông là bà Chôshi (Siêu tử) con Fujiwara no Kaneie, c̣n cha vợ ông là đại quyền thần Fujiwara no Michinaga. Lời thuyết minh trong tập Go-Shuui-shuu cho biết nhà vua đă làm bài thơ này vào trung tuần tháng 12 âm lịch năm 1015 và đọc cho hoàng hậu Kenshi (Nghiên tử, con gái thứ của Michinaga) và tùy tùng nghe.

f) Thưởng ngoạn và phẩm b́nh:

Đề tài: Nh́n con trăng mùa đông lúc nửa đêm, niềm cảm khái dâng lên ngập ḷng.

Đây là tâm sự của Sanjô-in lúc bị bức phải nhường ngôi cho hoàng thái tử (con của tiên đế Ichijô-in và bà Shôshi, con gái cả của Michinaga. Ông này sau này là Thiên Hoàng Go-Ichijô). Tuy Sanjô là rễ nhưng đối với Michinaga, rễ sao đáng tin bằng cháu ngoại. Đời Sanjô trị v́, ông bị Michinaga không ngớt áp bức trên chính trường, hai lần cung khuyết bị cháy, mắc bệnh đau mắt chạy thuốc và lễ bái khắp nơi không khỏi, tóm lại, toàn những chuyện đau ḷng. Thật là một vị vua bạc phước.

Chỉ có vầng trăng (thế giới ngoài cuộc sống) c̣n là bạn đem đến cho ông nguồn an ủi, dù lúc ấy bệnh đau mắt khiến ông không c̣n nh́n rơ cảnh vật nữa. Giống như lời thơ đă tiên tri, hai năm sau, ông từ giă cơi đời để “lên trăng”.

Từ Ukiyo vào thời Heian dùng để chỉ cuộc đời đầy ưu sầu chứ không phải cuộc đời biến ảo, muôn màu muôn vẻ như cách hiểu của thời Edo về sau. Hai chữ kana đặt cuối câu bọc lộ ư vịnh thán.

 

g)      Dư Hứng:

Hán dịch:

Ưu Tâm.
憂 心
 

Sự sự vi tâm[1] bất dục sinh,
事 事 違 心 不 欲 生

Vô biên phiền năo tận sầu t́nh.
無 辺 煩 悩 尽 愁 情

Nhược nhưng lưu tư[2] đa ưu thế,
若 仍 留 斯 多 憂 世

Ưng hội luyến thử cung nguyệt minh.
応 会 恋 此 宮 月 明


[1] Vi tâm: trái ḷng.
[2] Tư: tách rời

Anh dịch:

Fain would I in this world so hard

No longer live, but still must stay:

How wistfully my eye regard

The midnight moonbeams’ tranquil sway!

(Dickins)

If, against my wish,

In the world of sorrows still,

I for long should live;--

How then I would pine, alas!

For this moon of middle-night.

(Mac Cauley)

Làm vua không biết có hạnh phúc không, nếu gặp cảnh như Sanjô-in, Tử Anh nhà Tần hoặc Minh Nghị Tông tức hoàng đế Sùng Trinh (1610-1644), người trước khi chết đă cầu xin kiếp sau chớ sinh ra trong nhà vua chúa.

 

 

.........................

< Bản bổ sung mới nhất : Jan 5th 2009 >

 

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com