|
e)
Tác giả và hoàn cảnh sáng tác:
Xuất xứ:
Kokinshuu (Cổ Kim Tập), phần thơ lữ hành, bài 420.
Tác Giả:
Kanke (Quản gia) tên gọi kính trọng nhà văn hóa và đại thần
菅原道真Sugawara
no Michizane (Quản Nguyên, Đạo Chân, 845-903), thi nhân lỗi lạc và
là một h́nh tượng văn học có tính thần thoại trong lịch sử Nhật Bản.
Ông được phong Bác sĩ văn chương (Monjô hakase), làm đến chức Hữu
đại thần nhưng v́ xung đột quyền lực trong triều với gia đ́nh quyền
thần Fujiwara nên bị biếm xuống Kyuushuu coi Dazaifu tức phủ thủ
hiến trên đảo rồi mất ở đó. C̣n để lại hai tập thơ chữ Hán
菅家文草Kanke
Bunsô (Quản gia văn thảo) và
菅家後集Kanke
Kôshuu (Quản gia hậu tập) và nhiều trước tác văn xuôi như các tập sử
liệu.

Sugawara no Michizane
Trong lời thuyết minh của Kokin-shuu,
Thái thượng hoàng Uda tức Suzaku-in (Chu Tước Viện) lúc đi tuần thú
vùng Nara năm 898, có đề vịnh ở “Núi Cúng Thần” (Tamukeyama) và đây
là bài thơ do Sugawara no Michizane, lúc đó theo tùy tùng ngài, viết
ra. Chính ra chữ tamukeyama chỉ để chỉ một chỗ bên gốc núi
làm đàn bày lễ vật cúng kiến chứ không phải là danh từ riêng nhưng
trong trường hợp này, cũng có thể hiểu là Wakakusayama (Nhược Thảo
Sơn) hay một ngọn núi nào đó ở vùng Miyataki, nơi thiên hoàng đă ngự
đến.
f)
Thưởng ngoạn và phẩm b́nh:
Đề tài:
Vẻ đẹp như gấm của lá đỏ mùa thu rừng núi vùng Nara.
Người xưa, khi đi du lịch,
thường đem vải vóc để cúng thần
道祖神Dôsohin
(Đạo tổ thần) tức thần đi đường để cầu cho chuyến đi được b́nh yên
vô sự. Nay thầy tṛ Michizane v́ một lẽ ǵ mà đi tay không nên phải
mượn rừng lá mùa thu đỏ như sắc gấm làm quà dâng lên thần. Có khi
đây chỉ là một cách ví von để bảo rằng cảnh sắc ở Nara trông như một
thế giới thần tiên chứ không phải là cơi người ta, v́ nó đẹp như gấm
rồi nên khi đi không cần mang vải vóc ǵ theo.
Chữ kono tabi ni có thể hiểu “lần này” (tabi =度)
hay “chuyến này” (tabi =
旅)
và chữ tamuke
手向けc̣n
có nghĩa là cúng (sonaeru供える)
nữa. Ví màu lá đỏ với gấm là sử dụng thủ pháp mitate (giả trang).
g)
Dư Hứng:
|
Hán dịch:
Kim Triêu Viễn Lữ.
今 朝 遠 旅
Kim triêu viễn lữ khứ thiên
biên,
今 朝 遠 旅 去 天 辺
Vị đới lộ thần thụ tế tiền.
未 帯 路 神 受 祭 銭
Măn sơn hồng diệp mỹ như cẩm,
満 山 紅 葉 美 如 錦
Tức
tố hậu lễ hiến thần tiền.
即 做 厚 礼 献 神 前
Đây là một vần thơ của người thoát tục khi đứng trước cảnh thiên
nhiên tuyệt mỹ. Tuy nhiên, có nhà phân tích cho rằng tác giả c̣n có
ngụ ư phúng thích và khinh miệt thói tục tham lam hậu lễ của quan
chức đương thời. Không biết thế nào nhưng cả hai lập luận đều có vẻ
thích hợp với phong cách của Sugawara no Michizane.
|
|
Anh dịch:
This time, I ween, no need there be,
As Nusa I should take with me:
The Nishiki of the maple tree
Tamuke-yama thou dosh show
“Twill serve the gods full, well I trow.
(Dickins)
At the present time,
Since no offering I could bring,
See, Mount Tamuke!
Here are brocades of red leaves,
At the pleasure of the god.
(Mac Cauley) | |
|
|