|
Hán dịch:
Sơn Phong Xuy Quá.
山 風 吹 過
Sơn phong phủ
xuy quá,
山 風 甫 吹 過
Thu thâm thảo mộc hoàng.
秋 深 草 木 黄
Tự kinh bạo phong vũ,
自 驚 暴 風 雨
Chi diệp câu điêu thương.
枝 葉 倶 凋 傷
Một trận giông núi đủ báo mùa
đông đến khác nào khi một chiếc lá ngô đồng rụng, thiên hạ đều biết
thu về. Cũng như khi thấy cánh chim hồng bay gấp là hay mùa thu hầu
tàn.
Ngô đồng nhất diệp lạc,
梧 桐 一 葉 落
Thiên hạ cộng tri thu.
天 下 共 知 秋
Hàn hồng phi cấp giác thu tận.
寒 鴻 飛 急 覚 秋 尽
Và có phải tác giả muốn nói đến
qui luật của cuộc đời “cảnh mùa đông cũng như tuổi già không ai
tránh khỏi” từng được gợi ý trong một câu thơ chữ Hán:
Duy hữu lão đáo lão,
唯 有 老 到 老
Nhân sinh vô tị xứ.
人 生 無 避 処
|
|
Anh dịch:
Now autumn’s gales, in various
freak
On herb, on tree, destruction
wreak,
And wildest roar
The guts that down from Mube
Pour.
(Dickins)
Since 'tis by its breath
Autumn's leaves of grass and trees
Riven are and waste,--
Men may to the mountain wind
Fitly given the name, "The Wild."
(Mac Cauley)
| |