Bài số 17  

Thơ vương tử Ariwara no Narihira 在原業平

 

a) Nguyên văn:

ちはやぶる

神代も聞かず

竜田川

からくれなゐに

水くくるとわ

b) Phiên âm:

Chihayaburu

Kamiyo mo kikazu

Tatsutagawa

Karakurenai ni

Mizu kukuru to wa

c) Diễn ư:

Ngay cả thời các thần xưa,

Cũng chưa nghe điều kỳ lạ như thế này

Nước sông Tatsuta,

Nhuộm nguyên một màu son đỏ 

d) Dịch thơ:

Đời xưa lắm chuyện lạ,
Cũng chưa từng nghe qua.
Nhuộm một màu son đỏ,
Nước sông Tatsuta.

(ngũ ngôn) 

Xưa nay hiếm cảnh lạ lùng,
Son đâu ai nhuộm thắm hồng nước sông.

(lục bát)

 

e) Tác giả và hoàn cảnh sáng tác:

Xuất xứ: Kokin-shuu (Cổ Kim Tập), phần thơ Thu, quyển hạ, bài 294.

Tác Giả: Như đă nhắc ở trên, Ariwara no Narihira là cháu Thiên Hoàng Heizei (B́nh Thành), con thân vương Abo và em khác mẹ của quan tham nghị bậc trung Yukihira. Giỏi thơ, được xem là một trong sáu thi hào đương thời (Rokkasen) và đa t́nh như một Don Juan. C̣n được gọi là Zaigohuujô (Tại ngũ trung tướng) hay Zaichuujô v́ có tước vơ (trung tướng) trong ngự lâm quân. Tên ông thường được viết với chữ 朝臣Ason ở cuối xác định vị trí ḍng dơi hoàng thân quốc thích. Ason c̣n là chữ được đặt sau tên một người trong tôn thất hay ông quan tước vị từ ngũ phẩm trở lên để tỏ ư tôn kính.

Theo lời thích nghĩa trong Kokin-shuu, đây là một bài 屏風歌byôpuu-uta tức là thơ lấy đề tài cảnh trên b́nh phong trong một buổi ca vịnh. Bức b́nh phong này để ở春宮Xuân Cung (Tôguu, c̣n viết là東宮), nơi nghỉ ngơi của hoàng hậu Nijô, vẽ theo kiểu tranh Nhật (Yamato-e) h́nh cảnh lá đỏ mùa thu trôi trên ḍng sông Tatsuta. Cảnh này đă trở thành một ước lệ trong thi ca Nhật Bản. Thơ này sẽ được đề vào bức b́nh phong. Đây là một phong tục có từ cuối thế kỷ thứ 9 và lan rộng vào thế kỷ thứ 10.

f) Thưởng ngoạn và phẩm b́nh:

Đề tài: Vẻ đẹp hoa lệ của cảnh lá thu trôi đỏ rực trên ḍng Tatsutagawa.

Tác giả hơi phóng đại cho rằng tự đời các thần (kamiyo) đến giờ vẫn chưa nghe nói có cảnh nào lạ lùng như vậy, chỉ để thậm xưng cái đẹp hoa lệ và tươi tắn của màu lá đỏ trôi trên ḍng sông Tatsuta. Nó có thể làm cho độc giả bối rối, không biết khung cảnh thực th́ đẹp đến  thế nào.

Chihayaburu (Nhiều chuyện lạ lùng) là một 枕詞makura-kotoba (chữ gối đầu) để tô điểm như một qui ước cho chữ kami (thần) trong cụm từ kamiyo (thời chư thần, thời xa xưa). C̣n Tatsutagawa là con sông chảy ven núi Tatsuta ở gần cố đô Nara. Kara kurenai là “màu son tươi đem từ ngoại quốc” (Kara, nhà Đường) về. Khi so sánh ḍng sông nhuộm đỏ với cảnh lá đỏ trôi, tác giả đă dùng thủ pháp 見立てmitate (giả trang hay giả tá). Ngoài ra khi để lời giải thích (sông nhuộm đỏ màu lá) đến sau nhận xét (là chuyện chưa từng nghe), tác giả đă sử dụng thủ pháp倒置法 (tôchihô) để đảo nghịch bài thơ từ sau ra trước.  

 

g)      Dư Hứng:

Hán dịch:

Long Điền Xuyên Hồng Diệp.
竜 田 川 紅 葉
 

Thần đại linh tích xứ xứ sinh
神 代 霊 跡 処 処 生

Viễn cổ vị kiến thử kỳ t́nh.
遠 古 未 見 此 奇 情

Hạo hạo Long Điền Xuyên lư thủy,
浩 浩 竜 田 川 里 水

Tận bị hồng diệp nhiễm thành hồng.
尽 被 紅 葉 染 成 紅

Anh dịch:

O Tatsta! When th’autumnal flow

I watch of thy deep, ruddy wave –

E’en when the stern gods long ago

Did rule. Was ne’er beheld so brave,

So far the stream as thine, I vow.

(Dickins)

I have never heard

That, e'en when the gods held sway

In the ancient days,

E'er was water bound with red

Such as here in Tatta's stream

(Mac Cauley)

Sandai Jitsuryoku (Tam Đại Thực Lục), tác phẩm gốc của Truyện Ise, kể lại rằng nhà thơ vương tử Narihira “dung mạo đẹp đẽ, tính t́nh phóng túng”, dù đă có vợ con và đến tuổi trung niên rồi vẫn là một khách phong lưu. Ông và người anh, Yukihira và Tả Đại Thần Kawara (Minamoto no Tôru) sẽ là những “người mẫu” để Murasaki Shikibu đúc khuôn cho nên nhân vật tiểu thuyết Hikaru Genji về sau. Ông có một mối t́nh lớn với công nương Fujiwara no Takai-ko (Đằng Nguyên, Cao Tử) lúc đó tuổi vừa đôi tám và đă hứa gả cho thiên hoàng. Hai người dắt nhau đi trốn và bị các anh nàng đuổi theo bắt lại. Chính bà này sau trở thành Hoàng Hậu Nijô ( Nijô no Kisaki), chủ nhân bức b́nh phong được đề thơ. Chàng trai đa t́nh v́ thế bị đày về miền Đông.

Bà Shirasu Masako cho rằng việc Hoàng Hậu Nijô và Narihira là đôi t́nh nhân bị gia đ́nh bắt phải chia ĺa trước khi bà tiến cung là việc được ghi chép lại ở nhiều nơi. Do đó, bài thơ b́nh phong này không chỉ thuần túy tả cảnh. Nó c̣n giúp Narihira đưa ra “tuyên ngôn” trước công chúng về mối tŕnh bỏng cháy và có một không hai của ḿnh.

 

 

.........................

< Bản bổ sung mới nhất : Dec 28th 2008 >

 

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com