|
e) Tác
giả và hoàn cảnh sáng tác:
Xuất xứ: Kokin-shuu (Cổ kim tập),
phần Xuân, Thượng, bài 21.
Tác Giả: Thiên Hoàng Kôkô (Quang Hiếu,
830-887) là con trai thứ ba của Thiên Hoàng Ninmyô và là người đă
nối ngôi Thiên Hoàng Yôzei, rể của chính ḿnh.Ông là người tính khí
ôn ḥa, dung tư u nhàn, thông hiểu về lịch sử. Suốt thời trị v́, ông
giữ niên hiệu Ninna (Nhân Ḥa) nên được gọi là Ninna no Mikado.
Theo lời giải thích (gọi là kotobagaki
詞書) trong
Kokin-shuu th́ đây là bài thơ Thiên Hoàng Kôkô đă làm ra khi đi
hái rau non để tặng người ông yêu quí khi ông hăy c̣n chưa tức vị.
Người này là trai hay gái th́ không thể xác quyết nhưng nhất định
phải là một người thân. Biếu rau non là để chúc trường thọ. Các bậc
đế vương thời cổ Nhật Bản có nhiều người rành về dược thảo và việc
hái thuốc là một trong những thú vui và hoạt động của họ.

Thiên Hoàng Kôkô
Tuy nhiên, bà Shirasu Masako nói thêm rằng việc
hái rau đầu năm cũng là một tập tục thấy trong dân gian cho nên có
thuyết bảo việc Thiên Hoàng Kôkô vịnh cảnh hái rau chứng tỏ ông là
người – như Thiên Hoàng Tenji – biết thông cảm với cuộc sống nhọc
nhằn của người dân. Ngoài ra, tập tùy bút cổ điển
Buồn Buồn Phóng Bút (Tsurezure-gusa) của tu sĩ Kenkô cho biết
hồi chưa lên ngôi, Thiên Hoàng Kôkô phải đi chợ mua bán và khi làm
vua rồi vẫn c̣n quen thói thích nấu nướng.
f)
Thưởng ngoạn và phẩm b́nh:
Đề Tài:
Bày tỏ t́nh cảm tŕu mến đối với người ḿnh yêu bằng cách không ngại
giá lạnh cuối đông đầu xuân ra ngoài đồng hái những đọt rau non để
cầu cho người đó được hạnh phúc.
Rau non (wakana) ở đây gọi là
thất thảo (nanakusa) tức bảy loại rau có hoa tượng trưng cho mùa
xuân: hotokenoza, seri, hakobe, suzuna, suzushiro, gogyô và
nazuna. Chúng tương tự như các thứ rau cần, rau cải của ta. Mùa
thu cũng có thất thảo nhưng lại là những thứ rau khác. Các thứ rau
này bỏ vào cháo ăn được, c̣n dùng để làm thuốc và để đuổi tà khí.
Theo cuốn cổ sử
古事記
Kojiki th́
người ta c̣n hái rau non để bói xem năm đó mùa màng có trúng không.
Ngày mồng 7 tháng giêng, thiên hạ ăn rau non để mong được sống lâu.
Trong bài thơ, tác giả đă để cho màu xanh của rau non và màu trắng
của tuyết đối chọi với nhau nói lên sự chịu khó lặn lội giữa giá rét
của người đi hái rau và việc khí hậu đang chuyển mùa từ những ngày
cuối đông để bước vào tiết sơ xuân.
g)
Dư Hứng:
|
Hán dịch:
Tặng quân,
贈 君
Chỉ vị tŕ tặng quân,
只 為 持 贈 君
Giao dă thái nộn thái.
郊 野 採 嫩 菜
Xuân tuyết phân phân phiêu,
春 雪 紛 紛 飄
Lạc măn y tụ đái.
落 満 衣 袖 帯
|
|
Anh dịch:
Thy wishes, love, have I obeyed,
And’ mid the meadows have I strayed
In this spring-time, and sought with care
The wakana plaut that groweth there.
Lo on my sleeve
The falling snow its trace doth leave.
(Dickins)
It is for thy sake
That I seek the fields in spring,
Gathering green herbs,
While my garment's hanging sleeves
Are with falling snow beflecked.
(Mac Cauley)
| |
|
|