|
e)
Tác giả và hoàn
cảnh sáng tác:
Xuất xứ:
Kokin-shuu, (Cổ kim tập), quyển 9, bài 407, thơ lữ hành.
Tác giả:
Sangi (quan tham nghị) Ono no Takamura (Tiểu Dă, Hoàng, 802-852).

Ono no
Takamura
Ono no Takamura
小野篁là
con trai của Ono no Minemori (嶺守Lĩnh
Thủ), ḍng dơi họ Ono, một gia đ́nh quí tộc bác học, đa tài. Cháu
ông, Ono no Tôfuu (道風Đạo
Phong, 894-966) và Yoshifuru (好古Hiếu
Cổ, 884-968) đều có cao danh. Ông giỏi văn chương Hán Ḥa từ trẻ (đă
theo chiếu chỉ soạn ra tập thơ chữ Hán,
凌雲集Lăng
Vân Tập, 814), và được xem như học giả hàng đầu đương thời.
Được Thiên Hoàng Saga (một ông
vua yêu văn học) sủng ái nên hoạn lộ thông suốt, năm 834 được cất
nhắc vào chức phó sứ trong sứ bộ qua nhà Đường. Thế nhưng, hai lần
chẳng may gặp băo lớn, không khởi hành được. Lần thứ ba (838),
thuyền chánh sứ Fujiwara no Tsunetsugu (Đằng Nguyên,Thường Tự) bị
vỡ, chánh sứ mới lấy thuyền phó sứ dùng cho ḿnh. Tuy nhiên, vốn là
người không khuất phục ai, ông phẫn nộ về sự chuyên quyền này nên
thác bệnh không nhận mệnh. V́ lẽ ấy, Thiên Hoàng Saga khép ông vào
tội tử h́nh v́ phạm phép nước nhưng giảm một cấp thành án phối lưu
ra ngoài hoang đảo Oki giữa biển Nhật Bản, một vùng khí hậu khắc
nghiệt. Lúc đó ông 37 tuổi.
Giữa mùa đông lạnh, cô đơn,
nhắm những ḥn đảo nhỏ, chèo măi mới ra khỏi bờ. Ông làm bài thơ này
để nhớ về mẹ già và vợ con c̣n ở kinh đô. Dù vậy, chỉ hai năm sau
đó, ông đă được triệu về kinh lănh chức tham nghị (sangi) hàng tứ
phẩm, một chức vụ quan trọng nên c̣n được hậu thế gọi là Sangi
Takamura.
f)
Thưởng ngoạn và phẩm b́nh:
Đề tài:
Nỗi buồn và sự lo âu trên bước đường lưu ly tội đồ.
Thời đó, khi bị đày ra đảo Oki,
tội nhân phải lấy đường thủy từ cảng Naniwa ở Ôsaka, đi trong biển
nội địa Seto rồi mới quanh ra biển Nhật Bản v́ Oki nằm ở ngoài khơi
tỉnh Shimane, trông ra hướng Hàn Quốc. Hành tŕnh do đó rất dài. Ở
đây, cũng như các nhà chú thích đă nêu ra, dĩ nhiên Ono no Takamura
nhớ về gia đ́nh ở kinh đô Kyôto nhưng t́nh cảm của ông dường như
rộng lớn hơn, nỗi buồn cô độc và bất an, tuyệt vọng vượt khỏi phạm
vi khung cảnh gia đ́nh và người quen biết.
Chữ yasoshima
八十島
(tám mươi ḥn đảo) ư nói vô số đảo. C̣n tsuribune
釣舟 (thuyền
câu) được sử dụng theo thủ pháp gijin.hô (nhân cách hóa).
Trong thơ waka, thuyền câu tượng trưng cho sự cô đơn trong
bước lữ hành. Kogiidenu to có nghĩa “Chèo đă ra khỏi được” (idenu,
“ ra khỏi” v́ nu là trợ động từ để chỉ một việc đă hoàn
thành) như lời ông tự nhủ với ḿnh (to). Thủ pháp này gọi là
shikugire (四句切りtứ
cú thiết) v́ nó chấm hết (cắt) lời ông muốn nói ở cuối câu thứ tư.
g)
Dư Hứng:
|
Hán dịch:
Hải thượng.
海 上
Viễn phương dương diện đảo
thành quần,
遠 方 洋 面 島 成 群
Nhất diệp khinh phàm ly hải
tân.
一 葉 軽 帆 離 海 浜
Kư ngữ ngư chu thừa điếu giả,
寄 語 漁 舟 乗 釣 者
Kỳ truyền tiêu tức dữ y nhân.
其 伝 消 息 与 伊 人
|
|
Anh dịch:
Ye fishermen, who range the sea,
In many a barque, I pray ye tell
My fellow-villagers of me –
How that far o’er vast ocean’s swell.
In vessel frail,
Towards Yasoshima I sail.
(Dickins)
O'er the wide, wide sea,
Towards its many distant isles,
Rowing I set forth.
This, to all the world proclaim,
O ye boats of fisher-folk!
(Mac Cauley)
| |
Có nhà b́nh luận c̣n cho rằng
Takamura muốn phúng thích việc đi sứ sang nhà Đường trong bài này
nhưng không lấy ǵ làm chắc.
V́ tính t́nh cứng cơi, không
khuất phục quyền thế và hay nói thẳng, có tư cách đại trượng phu nên
Takamura rất được kính trọng. Người đời xưng tụng là Tại Dă Tể Tướng
(Tể Tướng ở bên ngoài triều đ́nh) hay Dă Tướng. Bà Shirasu Masako
cho biết ông c̣n có hiệu Dă Cuồng nhưng để ngầm chỉ cái tính ăn ngay
nói thẳng của ông thôi. Sách Konjaku Monogatari nói rằng ban
ngày ông làm quan trong triều nhưng tối về lại đi chơi ở âm phủ v́
quen biết với vua Diêm La. Ở Nhật, tên Takamura có dính líu đến tín
ngưỡng về âm phủ.
Dickins dịch “many barques” và
“fishermen” theo số nhiều trong khi tiếng Nhật không phân biệt giống
và số. Có thể không sai nhưng vô h́nh trung đă làm mất mát nhiều thi
vị.
|
|