|
e)
Tác giả và hoàn
cảnh sáng tác:
Xuất xứ:
Kokin-shuu (Cổ Kim Tập),
quyển 4, phần thu thượng, bài số 215.
Tác giả:
Sarumaru Dayuu (Viên Hoàn Đại Phu, không rơ năm sinh năm mất). Ông
là một nhân vật truyền thuyết, sống khoảng giữa thế kỷ thứ 8 và thứ
9. Chính ra bài này được ghi lại từ hồ sơ lưu trong một hội b́nh thơ
(uta-awase) ở phủ đệ hoàng tử Koresada với chú thích “không rơ tác
giả” nhưng nhà biên tập Teika đă đưa vào Hyakunin Isshu với
danh nghĩa tác phẩm của Sarumaru.
f)
Thưởng ngoạn và phẩm b́nh:
Đề tài:
Tiếng nai kêu làm cho nỗi buồn mùa thu lên đến chỗ
tột cùng.
Trong bài này Sarumaru-dayu
vịnh cảnh nai đực đi t́m nai cái, gọi bạn giữa rừng thu lá đỏ. Có
thuyết nói là tác phẩm đă gợi hứng cho Tiếng Thu của Lưu
Trọng Lư. V́ chủ từ của động tác “rẽ lá phong” có thể là người ta mà
cũng có thể là một cặp nai đang đi t́m nhau cho nên bài thơ thêm
phần thi vị trong sự mơ hồ. Các nhà b́nh luận Nhật Bản phần nhiều
cho rằng chủ từ của động tác ấy là nai v́ họ thấy trong
Man.yô-shuu có nhiều bài có thể loại tương tự. Người chỉ nghe
tiếng nai kêu mà tưởng tượng ra cảnh nai rẽ lá phong, gọi bạn mà
thôi. Từ đó suy diễn được là tác giả đă mượn chuyện nai để nhớ về
người vợ hay người yêu của ḿnh.
Momiji
là lá phong
楓
(kaede, Japanese maple) vào thu đổi ra màu
đỏ. Tuy nhiên đi với nai kêu (naku shika) th́ trong thơ cổ phải là
lá cây “thưu”
萩 (hagi, lespedeza clover) và viết chữ
Hán là “hoàng diệp” thay v́ “hồng diệp”. Lá cây hagi đổi màu
vào tiết sơ thu trong khi kaede đổi màu sau đó. Có điều bản
Teika tuyển viết là “hồng” nên có thể hiểu là lá phong và lúc ấy mùa
thu đă sâu rồi (văn thu).
Khác với mùa thu ở nông thôn là
mùa của gặt hái thu hoạch, nỗi buồn nếu có th́ cũng là buồn cho kiếp
sống lao động nhọc nhằn (xem bài 1), mùa thu của người đô thị trong
bài này buồn man mác với t́nh cảm thương xót cho cuộc đời tàn tạ
theo năm tháng.
g)
Dư Hứng:
|
Hán dịch:
Thâm sơn hồng diệp.
深 山 紅 葉
Thâm sơn hồng diệp măn địa
phiêu,
深 山 紅 葉 満 地 瓢
Túc đạp hồng diệp lộ điều
điều.
足 踏 紅 葉 道 迢 迢
Văn đạo lộc minh thanh ai
khổ,
聞 道 鹿 鳴 声 哀 苦
Bi cảm phong hàn thu khí cao.
悲 感 風 寒 秋 気 高
|
|
Anh dịch:
Now’ mid the hills the Momiji
Is trampled down ‘neath hoof of deer
Whose plaintive cries continually
Are heard both far and near;
My shivering frame
Now autumn’s piercing chills doth blame.
(Dickins)
In the mountain depths,
Treading through the crimson leaves,
Cries the wandering stag.
When I hear the lonely cry,
Sad,- how sad - the autumn is!
(Mac Cauley)
| |
Danh xưng Sarumaru có nhiều
thuyết. Có nơi nói là một tên của Yuge no ôkimi, một hoàng tử ḍng
dơi Thái Tử Shôtoku (Thánh Đức), nơi khác đưa ra thuyết Yuge Dôkyô
(tăng Đạo Kính), một nhà sư được nữ thiên hoàng Shôtoku (Xứng Đức,
trị v́ 764-770) yêu dấu và suưt chiếm được cả ngôi thiên hoàng. Lại
có nơi cho là một nhân vật có khuôn mặt giống khỉ (saru) mới bị chế
là Sarumaru như thế. C̣n chữ Dayuu (Tayuu khi đọc ghép, đại phu /
thái phu) có thể ám chỉ ông này xuất thân là một người diễn tṛ, chứ
không phải là một chức hàng ngũ phẩm như âm Hán của chữ này có thể
làm ta liên tưởng. Thời Edo, gái làng chơi hạng sang hay người kể
truyện rong cũng được gọi là Tayuu.
Ngày nay, từ thành phố Uji
ngược ḍng sông Uji đi lên, bên tay phải và ở trong núi có một thị
trấn nhỏ tên là Ujitawara, nổi tiếng trà ngon. Gần đó có đền thờ
Sarumaru Dayuu và một ngọn đèo mang tên ông. Khu rừng bên cạnh có
khi là nơi xưa kia ông đă từng nghe tiếng nai kêu?
|