|
e)
Tác giả và hoàn
cảnh sáng tác:
Xuất xứ:
Shin Kokin-shuu (Tân Cổ kim tập), quyển 3, thơ mùa hạ, bài số
175.
Tác giả:
tương truyền là Nữ Thiên Hoàng Jitô (Tŕ Thống, 646-702).
Bài thơ vịnh cảnh dân chúng đem
áo vải thô màu trắng ra phơi giữa nền xanh lục của ngọn núi Kaguyama
khi trời mới vào hè, nói lên được sự nhạy cảm của người Nhật thời cổ
trước những biến chuyển của thiên nhiên. Nó tương tự bài ca gốc mang
số 28 trong Man.yô-shuu.
Về việc bài thơ này có phải của
bà Jitô hay không th́ vẫn c̣n nhiều nghi vấn nhưng nội dung của nó
cũng không ngoài mục đích ca tụng các vua hiền, hết cha (Tenji) đến
con (Jitô). Theo h́nh ảnh gợi ra ở đây, bà là một vị quân chủ biết
ḥa ḿnh với đời sống của người thường dân, một buổi sáng đứng từ
cung điện Fujiwara nh́n ra cảnh núi non một thời thái b́nh và tức
cảnh sinh t́nh.
f)
Thưởng ngoạn và phẩm b́nh:
Đề tài:
Mùa hạ vừa đến mang đến cho cảnh vật màu trắng và màu lục tươi mát.
Ở vùng Yamato (Đại Ḥa), nay
thuộc Nara có ba ngọn núi Unebi, Miminashi và Kagu, (cao 148m) gọi
là Đại Ḥa Tam Sơn. Chính ra đó chỉ là ba quả đồi nhưng có vai tṛ
rất quan trọng trong tâm hồn người Nhật cổ xưa v́ nó kết hợp với bao
nhiêu truyền thuyết linh thiêng. Theo Suzuki Tadao, cảnh “áo trắng
đem phơi” (shirotae no koromo hosu) theo lời chú thích đă có từ xưa,
không phải là cảnh thực mà chỉ là ví dụ. Nhà biên tập Teika trong
Shuui Guusô (Thập Di Ngu Thảo, 1216) của ḿnh cũng có bài thơ
nói đến hoa u no hana (tiếng Anh là deutzia, một loài
bên trên cánh màu trắng, bên dưới xanh) nở trên hàng dậu như áo
trắng đem phơi. Do đó Suzuki chủ trương đây chỉ là một vần thơ sử
dụng thể Tỉ (so sánh hoa với áo) mà thôi.
Các nhà chú giải khác không
nhắc tới quan điểm độc đáo của Suzuki Tadao mà chỉ đơn thuần nghĩ về
cảnh “áo trắng đem phơi”. Áo trắng (shirotae no komo) ở đây tuy viết
là “bạch diệu” (áo màu trắng mỹ miều) nhưng chỉ là một từ trang sức
v́ nó vốn là một loại vải tầm thường tước từ vỏ cây
梶kaji
(một loại dâu tằm) non và có màu trắng, được dân chúng yêu
chuộng. Shirotae no là chữ gối đầu (makura-kotoba) khi nói về
những vật màu trắng như áo (koromo), ống tay (sode) , tay áo
(tamoto), giải thắt (himo), tuyết (yuki), mây( (kumo)... C̣n cụm từ
Ama no Kaguyama muốn ví ngọn Kagu như núi thiêng (thần sơn)
tự trời cao xuống nhưng cũng chỉ là một h́nh thức tu từ.
Trong tâm thức người Nhật, màu trắng nói ở đây có thể là màu sắc có
tính tôn giáo, màu của cô đồng (miko), của thần đạo. Kaguyama (Hương
Cụ Sơn) cùng với Minebiyama (Mẫu Bàng Sơn) và Miminashiyama (Nhĩ
Thành Sơn) đă họp nhau lại thành ba ngọn thần sơn. Tuy nhiên, nữ sĩ
Shirasu Masako cho rằng không nên nghĩ xa xôi đến thế. Màu trắng chỉ
là màu thường dân thời ấy hay mặc, chung quanh Kaguyama lại có những
người Triều Tiên (chuộng màu trắng) vượt biển qua sinh sống nữa.
g)
Dư Hứng:
|
Hán dịch:
Xuân Phương Tiên Tiên
Khứ
春 方 姍 姍 去
Xuân phương tiên tiên khứ,
春 方 姍 姍 去
Hạ hựu đáo nhân gian.
夏 又 到 人 間
Bạch y vô số điểm,
白 衣 無 数 点
Lượng
măn Hương Cụ Sơn.
晾 満 香 具 山
|
|
Anh dịch:
The pleasant spring hath passed away,
Now summer follows close, I ween,
And Ama’s secret summit may
In all its grandeur now be seen;
Of yore the drying ground,
Whitened with angels’ robes, spread far around.
(Dickins)
Spring, it seems, has passed,
And the summer come again;
For the silk-white robes,
So 'tis said, are spread to dry
On the "Mount of Heaven's Perfume."
(Mac Cauley) | |
Nữ thiên hoàng Jitô là công
chúa thứ hai, con thiên hoàng Tenji đă nói ở trên. Bà là hoàng hậu
của Thiên Hoàng Tenmu, thực ra ông là vai chú của bà. Khi chồng mất,
bà buộc con riêng của chồng là hoàng tử Ốtsuu (Đại Tân) vào tội mưu
phản và xử tử. Tuy nhiên v́ con ruột của bà là hoàng tử Kusakabe mất
sớm, bà tự lên ngôi và thiên đô về Fujiwara. Trị v́ 8 năm, nổi tiếng
là người cứng rắn nhưng đức độ. Lúc chết, khi hỏa táng, được mọi
người khóc than thương xót. Bà thường cùng quần thần (có cả đại thi
hào Kakimoto no Hitomaro) tuần du vùng Yoshino nhiều phong cảnh đẹp
và những nơi khác nên vua tôi có dịp làm nhiều thơ. Thời bà trị v́
là một cao điểm của thơ Waka. Giỏi về chính trị nên đă giúp
chồng thoát hiểm trong việc tranh ngôi với người cháu (Hoàng Tử
Ôtomo sau là Thiên Hoàng Kôbun) của chính bà mà sử gọi là loạn năm
Nhâm Thân (Ninjin no ran, 672). Bà có làm nhiều thơ theo thể
banka (văn ca) than khóc cái chết của ông (xem Man.yôshuu
159, 160, 161).
|
|