|
e) Tác giả và hoàn cảnh sáng tác:
Xuất xứ:
Gosen-shuu (Hậu tuyển tập), quyển 6, thơ thu, phần trung, bài
số 302.
Tác giả:
phỏng định là Thiên Hoàng Tenji (Thiên Trí, 626-671).
Ông là vị thiên hoàng thứ 38
trong lịch sử Nhật. Con thứ hai Thiên Hoàng Jomei và nữ Thiên Hoàng
Kôgyoku, ngày c̣n trẻ, Tenji có tên là hoàng tử Naka no Ôe (Trung
Đại Huynh). Đă cùng với bầy tôi là Fujiwara no Kamatari lật đổ họ
Soga, thực tiện cuộc đổi mới năm Taika (Đại Hóa) và thiên đô về vùng
Ômi (tỉnh Shiga ngày nay). Thơ của ông có chép trong các tập 13, 14
và 15 của Man.yô-shuu. Mất năm 46 tuổi, trị v́ từ 668 đến
671.Ông có bài thơ vịnh Đại Ḥa Tam Sơn nói về mối t́nh tay ba giữa
ḿnh, cậu em trai (Thiên Hoàng Tenmu) và công chúa Nukata.
Nguyên bài này đă có trong
quyển 10 (bài thứ 2.178) của Man.yô-shuu, với nội dung hơi
khác, và chỗ tên tác giả ghi là “không rơ” (yomibito shirazu), có lẽ
là một câu ca dao nói về sương khuya. Được truyền khẩu lâu năm, nó
mất dần h́nh ảnh về nỗi khó nhọc đồng áng của người nhà nông trong
nội dung, chỉ c̣n cảm giác mùa thu tiêu sơ đọng lại.
Rốt cuộc khi đưa vào Gosen-shuu (Hậu Tuyển tập), bài thơ được
xem là một “ngự chế” của Thiên Hoàng Tenji (bài số 2.001, thơ thu,
phần trung). Phải chăng v́ Thiên Hoàng Tenji đă khai sáng ra triều
Heian và là một thiên hoàng vĩ đại trong lịch sử Nhật Bản nên người
ta muốn nối kết bài thơ với h́nh ảnh ông vua lư tưởng biết thương
dân chăng?
f) Thưởng ngoạn và
phẩm b́nh:
Đề tài:
Phong cảnh đồng quê tịch mịch vùng Asuka một chiều cuối thu.
Nói chung, các nhà b́nh luận
thường cho rằng trong bài Aki no ta no này, thiên hoàng Tenji
(nếu thực sự là tác giả) đă đặt ḿnh vào cảnh ngộ của nhà nông qua
đêm trong vựa chứa lúa đặt tạm giữa ruộng vào vụ gặt đề pḥng thú
rừng phá hoại để vịnh kiếp sống gian khổ của họ, khi mà những giọt
sương khuya thấm (tay) áo cũng có thể là nước mắt.
Bài thơ tả cảnh cánh đồng một
ngày giữa mùa thu, thê lương tịch mịch. Chữ lều tạm (
仮庵kariiho
đọc nuốt âm thành kario) và chữ bông lúa đă gặt (
刈穂
kariho) chồng
lên nhau thành ra
刈穂の庵 kariho
no io theo kỹ thuật kake-kotoba
(chữ đa nghĩa). Tuy nhiên, theo thi hào Teika, bài này xứng đáng đại
diện cho loại waka u huyền bởi v́ để lại dư vị sâu lắng, nói
được những điều ở ngoài từ ngữ.
Nữ thi sĩ Baba Akiko xem việc đưa một bài thơ gán cho một thánh quân
sáng nghiệp, đă rút quân khỏi Triều Tiên và chấn chỉnh nền móng
triều đ́nh, lên đầu quyển sách là chuyện đương nhiên trong xă hội cổ
xưa. Người chủ biên Teika không thể làm khác. Huống chi nông nghiệp
là nền tảng của kinh tế trong nước. Nhật Bản thời mới lập quốc chẳng
được xưng tụng là Mizuho no kuni (nước của bông lúa thiêng)
là ǵ? Như thế, sự quan tâm của nhà vua đến nông vụ có thể giải
thích được. Nhà b́nh luận Shirasu Masako cho rằng bài này chính là
bài số 2174 bắt đầu bằng câu Akita karu kariho chép trong tập
thứ 10 của Man.yôshuu, nhưng v́ âm vận trúc trắc, khó ḷng
đọc mà không vấp váp, nên sau khi qua nhiều bàn tay gia công sửa
chữa, không biết tự lúc nào đă trở thành lưu loát. Shimazu Tadao cho
rằng thuyết này đă bắt nguồn từ học giả quốc học Kamo no Mabuchi
(1697-1769), đến nay được nhiều người cho là hợp lư.
g)
Dư Hứng:
|
Hán dịch:
Thu Dă
秋 野
Thu nhật điền dă gian,
秋 日 田 野 間
Am ốc sơ tháp tựu
庵 屋 初 搭 就
Phúc cái thảo tịch sơ
覆 蓋 草 席 疏
Lănh lộ thấp sam tụ.
冷 露 湿 杉 袖 |
|
Anh dịch:
My lowly hut is thatched with straw
From fields where rice-sheaves frequent stand,
Now autumn’s harvest well-night o’er,
Collected by my toiling hand:
Tatter’d roof the sky I view,
My clothes are wet with falling dew.
(Dickins)
Coarse the rush-mat roof
Sheltering the harvest-hut
Of the autumn rice-field;--
And my sleeves are growing wet
With the moisture dripping through.
(Mac Cauley)
| |
Nhân v́ Thiên Hoàng Tenji, người được xem là tác giả
tác bài thơ đầu tiên cửa thi tập này, xưa từng dời đô về vùng Ômi
nên kể từ năm 1940 (Shôwa 15), các cuộc thi bốc quân bài Hyakunin
Isshu toàn quốc được tổ chức ở đền thần tỉnh Ôtsu (Ômi Jinguu)
trong vùng. Riêng về lư do những cuộc thi tài nói trên, xin xem lời
giải thích trong bài Bạt cuối sách.
|
|