|
|
Lời Giới Thiệu Nguyễn Nam Trân (*) Ngày nay khi nói đến thơ Nhật, người ta chỉ nghĩ đến Haiku. Điều đó không phải không đúng v́ phạm vi phổ biến của thể thơ này quá rộng lớn. Tuy nhiên, thơ Nhật hăy c̣n là Ca dao cổ đại (Kayô), Ḥa ca (Waka), Hán thi (Kanshi) và thơ mới (Shintaishi) nữa. Trong đó, Ḥa ca đóng vai tṛ quan trọng nhất v́ thừa hưởng dư ba của ca dao, tiếp nhận ảnh hưởng cổ thi Trung Quốc, phản ánh từ rất sớm mọi khía cạnh của tâm hồn người Nhật thông qua một vốn liếng kỹ thuật tu từ phong phú. Cũng cần phải nói là nhờ Ḥa ca (Waka) xưa kia , ta mới có Đoản Ca (Tanka), Bài Cú (Haiku) ngày nay. Việc giới thiệu thơ Ḥa Ca, tinh hoa của văn chương cung đ́nh thời trung cổ, do đó trở thành cần thiết để hiểu văn hóa Nhật Bản. Không thể nào hiểu một cách thấm thía Murasaki Shikibu, Bashô, tuồng Nô, kịch Kabuki, Tanizaki, Kawabata, ca nhạc mới… mà thiếu kiến thức Waka. Tập sách này không những chỉ đóng vai tṛ diễn nghĩa và dịch sang thơ Việt mà c̣n thuyết minh về xuất xứ, tác giả, hoàn cảnh sáng tác và đánh giá nội dung cũng như h́nh thức của từng bài thơ Nhật với tham vọng giúp cho người yêu thơ và sinh viên khoa Đông Phương có cơ hội tiếp cận được tường tận một mảng văn hóa thế giới quí báu. Nội dung của tập sách này chung đúc từ nhiều tài liệu biên tập khác nhau, cơ sở là sách giáo khoa sử dụng trong các trường trung học Nhật Bản sau mới tới những tác phẩm phê b́nh và thưởng ngoạn của các văn nhân, thi sĩ Nhật Bản. Việc dịch sang thơ Việt do chính Nguyễn Nam Trân tạm đảm nhận. Như nữ sĩ Shirasu Masako (1910-1998), một nhà nghiên cứu và tùy bút gia cận đại có nói, việc dịch Waka từ cổ văn sang tiếng Nhật hiện đại thôi cũng rất khó, càng dịch càng xa cái ư ban đầu của tác giả v́ mỗi chữ trong thơ xưa đều có cái hồn thiêng (言霊kotodama) của nó, không tài nào xê dịch được. Chính dịch giả Dickins trước một bài quá khúc mắc (bài 88 trong tập này) đă chọn …không dịch sang tiếng Anh đó sao? Do đó, việc làm của chúng tôi là chuyện chẳng đặng đừng và chỉ là một bước chập chững trên đường cầu học lắm chông gai của ḿnh. Mong nhận được sự chỉ bảo từ các tiền bối và bầu bạn khắp nơi. Tập sách này sẽ gồm 5 phần. Mỗi phần gồm 20 bài. Khi dịch, chú và b́nh luận mỗi bài sẽ gồm 6 mục chính:
a- Nguyên
văn và phiên âm. Những bài thơ dịch ra Hán ngữ là của Đàn Khả (1979) qua Nhật bản Cổ Từ Nhất Bách Thủ, gián tiếp trích từ sách Nhật Bản Cổ Thi Nhất Bách Thủ (1985), học giả Trung Quốc Diệp Vị Lương biên tập (chi tiết, xem thư mục). Các bản dịch sang Anh ngữ hiện đại vốn không phải ít[1] nhưng trước tiên xin chọn bản dịch qua tiếng Anh cổ xưa (cho hợp với thời đại của nguyên tác) của học giả F.V. Dickins (1886),[2] trích từ Hyakunin Isshu no Sekai (Thế Giới của Hyakunin Isshu) mà bà Chiba Shizuko soạn năm 1992. Tuy v́ tam sao thất bản, nó có nhiều lỗi đánh máy, nhưng được ưu điểm là chứa đựng một hồn thơ hiếm có. Chúng tôi đă cố gắng sửa chữa các lỗi ấy mà vẫn c̣n lắm chỗ chưa thấu đáo. Để bổ túc cho nó, chúng tôi cho gắn thêm bản dịch cũng theo vần của Clay Mac Cauley (1917) nhan đề Single Songs of a Hundred Poets từ lâu đă được phổ biến tự do trên mạng. Những bản dịch Hán, Anh này hy vọng sẽ có giá trị tư liệu nào đó cho người nghiên cứu văn học đối chiếu. Nguyễn Nam Trân [1] Như Alfred Marks (1970), Howard S.Levy (Langstaff, 1976), William Porter (Tuttle, 1979), Tom Galt (Princeton, 1982), Steven D. Carter (Stanford, 1991) vv… [2] F.V. Dickins, 1866, Hyaku Nin Is’shiu (Japanese Lyrical Odes), Smith Elder &Co, London.
* Nguyễn Nam Trân : Một trong
những bút hiệu của Đào Hữu Dũng,
sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương
Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963)
và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước
khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp
Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và
Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ
khoa học truyền thông. Giáo sư đại
học. Hiện sống ở Tokyo và Paris.
......................... Bổ sung mới nhất : Nov. 16th 2008 ®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com) |