Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

Quyển Hạ: Từ Cận Kim đến Hiện Kim

Ảnh Japan (Lonely Planet, 1994)

 Chương 29 :

Đoạn đường vượt thoát hậu chiến.

Kinh nghiệm các nhà văn Nhật Bản thế hệ 1945-1965

Nguyễn Nam Trân (*)

Sau khi bại trận, mặc dầu vết thương chiến tranh vẫn c̣n hằn sâu trong ḷng người nhưng văn học Nhật Bản đă hồi phục ngay như đón nhận được một luồng sinh khí mới. Trước tiên, những nhà văn lăo thành nổi tiếng từ trước chiến tranh như Shiga Naoya (Chí Hạ, Trực Tai, 62 tuổi năm 1945) và Tanizaki Jun-ichirô (Cốc Kỳ, Nhuận Nhất Lang, 59 tuổi) đă hoạt động trở lại. Cùng lúc ấy, những nhà văn phái tả của phong trào văn học vô sản ngày trước như Miyamoto Yuriko (Cung Bản, Bách Hợp Tử) cũng t́m về con đường “đấu tranh đ̣i dân chủ”[1]. Tạp chí Kindai Bungaku (Cận Đại Văn Học) qui tụ được những nhà b́nh luận lại nhúng tay vào công việc lư luận văn học, nhóm các ông Noma Hiroshi (Dă Gian, Hoằng) Ôka Shôhei (Đại Cương, Thăng B́nh), những cây viết trẻ của trường phái hậu chiến lục tục đăng đàn. Ảnh hưởng của các ông Dazai Osamu (Thái Tể, Trị) với trường phái Shingesaku (Tân Hí Tác)[2] được lan rộng khắp nơi, rồi trường phái thơ hậu chiến với nhóm “Đất Hoang” tức Arechi (Hoang Địa) bắt đầu sáng tác…Tất cả những tư trào văn học ấy, được sự hỗ trợ của các ngành báo chí và ấn loát, đă phát triển rộng lớn ra, tuy đẻ thêm nhiều vấn đề mới nhưng đă không ngừng đào tạo biết bao cây viết trẻ cho đến ngày nay. 

Buổi đầu nghĩa là giai đoạn 1945 trở đi, người ta thấy có hai khuynh hướng chính, hầu như đối lập: kế tiếp và đoạn tuyệt với quá khứ. Kế tiếp để ǵn giữ một truyền thống đă có từ nhiều thế kỷ, đoạn tuyệt để xóa sạch tàn tích của thời quân phiệt và xây dựng một nền văn học thích nghi cho xă hội mới. Hiện tượng đáng lưu ư là khuynh hướng đ̣i hỏi những quyền cơ sở của người công dân tiếp nối với khuynh hướng đoạn tuyệt, đă ra đời trước khi xă hội thương nghiệp hóa, kinh tế quản lư giam người ta lại. Có thể xem như năm 1970 là cái mốc để chấm dứt thời hậu chiến trong văn học Nhật Bản và bước vào văn học hiện kim.

TIẾT I: VAI TR̉ CỦA LƯ LUẬN VÀ PHÊ B̀NH

Văn học hậu chiến Nhật Bản được xây đắp bởi các nhà văn chịu ảnh hưởng Âu Châu, nhất là trong thời gian 10 năm đầu. Tuy nhiên cũng không nên quên sự đóng góp của các nhà nghiên cứu và các nhà văn sở trường về văn học Trung Hoa. Dù họ không đông đảo nhưng có giá trị cao.

Nhà b́nh luận Takeuchi Yoshimi (Trúc Nội, Hảo, 1910-77), sinh ở Nagano gần Tôkyô, hoạt động nghiên cứu và dịch thuật. Ông đă cùng Takeda Taijun và văn hữu lập nên Chuugoku Kenkyuukai (Trung Quốc Nghiên Cứu Hội) từ năm 1934, với mục đích t́m hiểu nước Trung Hoa hiện đại, khác với khuynh hướng “thuộc địa” (xem Trung Quốc như thuộc địa) của các nhà nghiên cứu đi trước. Họ lập ra tờ Chuugoku Bungaku (Văn Học Trung Quốc) và từ chối tham dự Hội Nghị Đại Đông Á. Năm 1943, họ phải đ́nh bản tạp chí và ngưng hoạt động.

Takeuchi được gửi qua chiến trường Trung Quốc với tư cách một người lính thường. Trước khi đi, ông có viết một quyển sách nghiên cứu về Lỗ Tấn, in năm 1944. Ông đă nhận ra rằng Trung Quốc của Lỗ Tấn đă đổi mới theo một con đường khác với Nhật Bản v́ Trung Quốc, khác với Nhật, có khuynh hướng đề kháng văn hóa Tây Phương. Sau chiến tranh, ông c̣n viết Kokumin Bungakuron (Quốc dân văn học luận)…đề nghị một nền “văn học quốc dân” (1951). Ngày nay, nhiều nhà b́nh luận cho rằng, ở thời điểm đó, lập luận của Takeuchi rất đáng được mổ xẻ và khai thác.

Trong lănh vực phê b́nh văn học thời hậu chiến, hai tờ Shin Nihon Bungaku [3] (Tân Nhật Bản Văn Học) và Kindai Bungaku [4](Cận Đại Văn Học) đă đóng vai tṛ chủ chốt. Hai tạp chí đă đề ra và thảo luận chung quanh những vấn đề của văn học như việc tŕnh bày qua văn chương sự quốc tế hóa và đa dạng hóa của xă hội hiện đại.

Những tác phẩm về b́nh luận quan trọng của giai đoạn nầy cần được nhắc tới là Daini no Seishun “Tuổi trẻ thứ hai” (1946) của Ara Masahito, Daini  Geijutsu “Nghệ thuật thứ hai” (1946) của Kuwabara Takeo (Tang Nguyên, Vũ Phu, 1904-88), 1964 bungakuteki kôsatsu “ T́m hiểu về văn học năm 1946” (1947) của Katô Shuuichi[5] (Gia Đằng, Chu Nhất, sinh năm1919), Tôbô Dorei to Gamen Shinshi “Nô lệ bỏ trốn và kẻ sĩ mang mặt nạ” (1948) của Itô Sei, Gendaishi e no Kokoromi “Thử viết sử hiện đại” (1949) của Karaki Junzô, Geijutsu to Jisseikatsu “Nghệ thuật và thực tế cuộc sống ” (1949) của Hirano Ken, Fuuzoku Shôsetsu Riron “Bàn về tiểu thuyết phong tục” ( 1950) của Nakamura Mitsuo, Geijutsu to wa nani ka “Nghệ thuật là ǵ?” (1950) của Fukuda Tsuneari (Phước Điền Hằng Tồn, 1912-94), Mohaya sengo dewanai “Thời hậu chiến đă qua rồi!” (1956) của Nakano Yoshio (Trung Dă, Hảo Phu, 1903-85), Nihon no Autosaidaa “Những người Nhật đứng bên lề” (1958) của Kawakami Tetsutarô (Thượng Xuyên Triệt Thái Lang, 1902-80), Bungaku kenkyuu no shomondai “Những vấn đề của việc nghiên cứu văn học” (1958) của Takahashi Yoshitaka (Cao Kiều Nghĩa Hiếu, 1913-1995)…

Năm 1960, ở Nhật có phong trào chống đối việc phê chuẩn hiệp ước pḥng vệ hỗ tương của hai chính phủ Nhật Mỹ. Cao trào trong giới trẻ và sinh viên học sinh lên cao đến nỗi vào năm 1960 nó đă đưa đến việc quốc hội phải sửa đổi nội dung điều ước và nội các Kishi Nobusuke sau đó phải từ chức. V́ tiếng Nhật gọi là Nichibei Anzen Hoshô Jôyaku (Nhật Mỹ An Toàn Bảo Chương Điều Ước) nên hiệp ước nầy c̣n được gọi tắt là Anpo (An Bảo). Từ sự kiện lịch sử nầy, câu hỏi được đặt ra là cần phải hiểu ư nghĩa của thời hậu chiến như thế nào (từ chỗ đối đầu trong chiến tranh, bị chiếm đóng rồi trở thành đồng minh của Mỹ). Câu hỏi đó cũng là chủ đề thường thấy trong phê b́nh văn học. Hashikawa Bunzô (Kiều Xuyên, Văn Tam, 1922-83) viết Nihon Romanha Hihan Josetsu “Bước đầu phê phán chủ nghĩa lăng mạn Nhật Bản” (1960), Okuno Takeo (Áo Dă, Kiện Nam, 1926-97) viết Junbungaku wa kanô ka “Văn chương thuần túy có thể có hay không?” (1963), Akiyama Shun (Thu Sơn, Tuấn, sinh năm 1930), nhà b́nh luận tiêu biểu của thế hệ “nội hướng”, viết Naibu no ningen “Con người bên trong” (1967), Yoshimoto Takaaki (Cát Bản, Long Minh, sinh năm 1924) viết Kyôdô gensôron (Cộng Đồng Huyển Tưởng Luận) “Bàn về ảo giác tập thể”, Etô Jun (Giang Đằng, Thuần, 1933-1999) viết Sôseki to sonojidai “Natsume Sôseki và thời đại của ông”(1970) tŕnh bày nỗi cô đơn buổi giao thời của nhà văn Sôseki, Yamazaki Masakazu (Sơn Kỳ Chính Ḥa, 1934) viết Fukigen no jidai “Thời Khó Sống”(1974), Ôgai tatakau kachô “Chế độ gia trưởng mà Mori Ôgai chống đối” (1972)…

Bước qua hai thập niên cuối cùng của thời Shôwa, lúc Nhật Bản dần dần thoát ra khỏi thời hậu chiến th́ phê b́nh văn học tự nó cũng ghi lại chuyển biến của thời đại. Những nhà phê b́nh đáng chú ư hơn cả từ 1975 trở đi có Honda Shuugo[6] (Bản Đa, Thu Ngũ, 1908) với Mujôken kôfuku no imi “Đầu hàng vô điều kiện có nghĩa là ǵ?” (1978), Isoda Kôichi (Cơ Điền, Quang Nhất, 1931-87), tác giả Rokumeikan no keifu “Nhân vật trước sau ở Rokumeikan[7]” (1981-83), Katô Norihiro (Gia Đằng, Điển Dương, sinh năm 1948) với Amerika no Kage “Cái bóng của nước Mỹ” (1985) và Kawamura Minato (Xuyên Thôn, Tấu, sinh năm 1951), người có tham vọng “mở rộng biên giới” của văn học Nhật Bản đến tận những cơi xa xôi trong Nannyô, Karafuto no Nihon Bungaku  “Văn học Nhật Bản ở hai vùng cực Nam (các đảo Nam Dương) và cực Bắc (đảo Sakhalin)” (1994) là các địa vực mà vào thời ấy Nhật Bản xem như là lănh thổ của họ.

TIẾT II: CÁI NH̀N TỔNG QUÁT VỀ BỘ MÔN TIỂU THUYẾT:

Năm Shôwa 20 (1945), sau khi Nhật Bản đầu hàng lực lượng Đồng Minh vô điều kiện, những người t́m trở lại văn đàn sớm nhất là những tác gia lăo thành. Họ đă kiên tŕ viết trong thời chiến tranh dù không được phép đem in. Thứ đến là các nhà văn hệ phái văn học vô sản, họ bắt đầu t́m được không khí thích hợp để tiếp tục hoạt động. Các tạp chí nối tiếp nhau ra đời hoặc được tục bản, giúp cho các nhà văn thế hệ hậu chiến có chỗ đăng tải bài vở. Tục bản có Bungei Shunjuu (Văn Nghệ Xuân Thu), Chuuô Kôron (Trung Ương Công Luận), Kaizô (Cải Tạo), Nihon Hyôron (Nhật Bản B́nh Luận), Shinchô (Tân Trào), Bungei (Văn Nghệ) ... Mới xuất hiện lần đầu tiên là Sekai (Thế Giới), Ningen (Nhân Gian) “Con Người”, Tenpô (Triển Vọng), Kindai Bungaku (Cận Đại Văn Học), Gunzô (Quần Tượng) “Những Khuôn Mặt ”.

Nguồn sinh lực bị đè nén trong thời chiến tranh nay được bùng lên như hỏa sơn. Lớp nhà văn mới thời hậu chiến (Sengoha) chỉ tính từ năm Shôwa thứ 20 (1945) cho đến 40 (1965) thôi cũng đă có tất cả ba thế hệ.

 

Phát triển của tiểu thuyết (4).

Niên đại

Trường phái văn học

 

Shôwa 20 (1945)

 

 

 

 

 

 

 

 

Shôwa 30 (1955)

 

 

 

Shôwa 40 (1965)

 

- Phái Thông Tục (Đại Chúng) hay Shingesaku (Tân Hí Tác) , c̣n gọi là Buraiha (Vô Lại Phái): Oda Sakunosuke, Dazai Osamu, Sakaguchi Ango, Ishikawa Jun.

-Sengoha (Phái Hậu Chiến) I : Noma  Hiroshi, Shiina Rinzô, Umezaki Haruo, Shimao Toshio.

-Sengoha (Phái Hậu Chiến) II: Takeda  Taijun, Abe Kôbô, Ôoka Shôhei, Mishima Yukio.

-Các nhà văn lăo thành hồi sinh : Tanizaki Jun-ichirô, Kawabata Yasunari.

 

-Các nhà văn thế hệ Shôwa 30: Ishihara Shinntarô, Ôe Kenzaburô, Kaikô Takeshi

 

-Các nhà văn mới (Shinjin) thứ ba: Yasuoka Shôtarô, Endô Shuusaku, Yoshiyuki Junnosuke, Kojima Nobuo.

 

 

TIẾT III: CÁC NHÀ VĂN THÀNH DANH HỒI SINH:

Từ trái qua phải : Shiga Naoya, Tanizaki Jun.ichirô, Kawabata Yasunari và Nagai Kafuu
(Ảnh John Lewell, Modern Japanese Novelists (Kodansha, 1993)

Chẳng bao lâu sau khi Nhật Bản bước vào thời hậu chiến, Shiga Naoya đă cho ra mắt Haiiro no Tsuki “Trăng Xám”(1946), Nagai Kafuu quay lưng với chiến tranh, lại viết Odoriko “Người vũ công”, Gunshô (Huân Chương”, Ukishizumi (Phù trầm) “Ch́m nổi” (1946) …Về phần Tanizaki Jun.ichirô, ông hoàn thành Sasameyuki (Tế Tuyết, 1948) “Mong manh hoa tuyết” đă đăng dở dang trong thời chiến trước khi Pḥng Thông Tin Bộ Lục Quân bắt ngưng. Sau đó, ông c̣n cho ra đời Shôshô Shigemoto no Haha “ Người mẹ của tướng Shigemoto” (1949). Masamune Hakuchô (Chính Tôn, Bạch Điểu) viết Sensaisha no Kanashimi “Nỗi buồn của kẻ bị họa chiến tranh” (1946), Satomi Ton cũng đóng góp với Juunen (Thập niên, 1946). Mushanokôji Saneatsu viết Shinri sensei (Chân Lư tiên sinh) “Thầy Shinri”, (1949).

Kawabata Yasunari viết Yama no Oto “Tiếng núi rền” (1949-1954), ngoài ra ông c̣n có Senbazuru (Thiên vũ hạc) “Ngh́n cánh hạc”, tiếp tục cuộc hành tŕnh trên đường đi t́m nét đẹp Nhật Bản.Ibuse Masuji có Yôhai Buchô (Dao bái đội trưởng) “Thầy đội thích vái xa” [8] (1950) bày tỏ nỗi khổ tâm khi nh́n thấy cảnh tượng xă hội hậu chiến. Itô Sei viết Narumi Senkichi “Senkichi ở Narumi” miêu tả h́nh ảnh người trí thức sau chiến tranh.

1) Tanizaki Juniichirô hậu chiến :

Sasameyuki “ Mong manh hoa tuyết ” của Tanizaki Jun-ichirô bắt đầu đăng trên Chuôkôron (Trung Ương Công Luận) vào năm 1943 nhưng chính quyền (Pḥng Thông Tin của Bộ Lục Quân) cho rằng nội dung không phù hợp với thời cuộc nên ra lệnh đ́nh lại nữa chừng.Tanizaki tiếp tục viết và cho in quyển đầu vào năm 1944 nhưng quyển trung chỉ được phát hành sau chiến tranh (1947) và quyển hạ phải đợi đến 1948 mới được đăng xong trên tạp chí phụ nữ Fujin Kôron (Phụ Nhân Công Luận).

Truyện kể về đời 4 chị em gia đ́nh Makioka (Th́ Cương), con nhà buôn bán có truyền thống lâu đời ở Ashiya, thành phố nhỏ cổ kính gần Ôsaka-Kobe với chị cả Tsuruko (Hạc) giữ nghiệp nhà, chị hai Sachiko (Hạnh) ôn ḥa, cô ba Yukiko (Tuyết) kín đáo nhưng quá lứa lỡ thời, cô út Taeko (Diệu) phóng túng. Qua những diễn biến trong cuộc đời của bốn cô gái, Tanizaki làm sống lại không khí ngày thường và sinh hoạt hội hè thanh nhă của vùng Kansai như cho người đọc xem một cuốn tranh họa về phong tục địa phương. Tuy nhiên, qua tác phẩm, ta c̣n thấy vẻ đẹp “xế chiều” của một giai cấp thương nhân trưởng giả đang suy tàn (cô em gái đang tuổi kiếm chồng phải dần dần hạ giá v́ không ai lấy). Truớc những chuyển biến của một xă hội thời chiến càng ngày càng căng thẳng, họ chỉ biết sống vô tư, hưởng lạc như những kẻ bên lề .

2) Kawabata Yasunari hậu chiến :

Bước vào thời hậu chiến, ông c̣n cho ra đời Senbazuru (Thiên vũ hạc) “Ngh́n cánh hạc” (1949), tác phẩm đẹp nhưng buồn và trữ t́nh. Chim hạc tượng trưng cho “thiên niên quốc” Nhật Bản (như người ta nói “hạc sống ngh́n năm rùa sống vạn năm”). Người Nhật thường xếp một ngh́n con hạc giấy để chúc cho một lời nguyền được thực hiện. Anh chàng Kikuji, nhân vật chính trong truyện, trong dịp được giới thiệu một cô gái để dạm hỏi đi đến hôn nhân, đă nh́n thấy mẫu h́nh ngh́n chim hạc in trên chiếc khăn gói đồ của cô và bị thu thút bởi nàng ta. Sự “thanh khiết” của cô gái xinh đẹp đă cứu vớt tâm hồn tội lỗi của Kikuji, người đă từng yêu cả hai mẹ con người t́nh nhân cũ của cha anh ta. Người đàn bà kia muốn đi t́m h́nh ảnh của cha anh nơi anh và anh đi t́m bà mẹ trong thể xác người con gái bà ta[9]. Không thể nào không nhận ra cái ích kỷ của nam giới qua hành động của nhân vật Kikuji trong truyện cũng như trong hầu hết các tác phẩm khác của Kawabata..

Yama no Oto “Tiếng núi rền” (1949) là tiểu thuyết trường thiên, tác phẩm hậu chiến tiêu biểu của Kawabata Yasunari. Nhân vật chính, Shingo (Tín Ngô), 62 tuổi, tư chức hăng buôn b́nh thường. Cô con dâu ông ta, Kikuko (Cúc), là một phụ nữ hiền đức nhưng có khí phách của người đàn bà Nhật Bản cổ truyền.Shingo t́m được nguồn an ủi với sự có mặt của Kikuko.Tác giả miêu tả những khúc mắc của mối t́nh thầm lặng và thoáng nhẹ giữa ông bố chồng và cô con dâu.

Nhân vật nữ của tiểu thuyết Kawabata thường được miêu tả như một thứ “búp bê” hay “đồ sứ”.Đó cũng là trường hợp Nemureru Bijô “Người đẹp say ngủ” (1961) nói về một ông già lui tới một nhà chứa và chỉ nằm ghé bên cạnh để ngắm nghía một cô gái đẹp mà ông đă cho uống thuốc ngủ. Đó là một thứ t́nh yêu (hay ham muốn) thụ động, khép kín và đồi phế của tuổi già.

Năm 1968, Kawabata được trao tặng Giải Nobel Văn Học trước sự ngạc nhiên của mọi người. Ông là một nhà văn tài danh, không ai chối căi nhưng tinh hoa của văn chương ông chỉ giới hạn trong mỹ cảm thuần cá nhân. Có lẽ các giám khảo giải thưởng muốn vinh danh cho một tác giả đă có công bảo tồn cái mà họ nghĩ là “nét đẹp phương Đông”.

Tác phẩm đoạt giải (có lẽ là nhờ văn nghiệp hơn là một tác phẩm đơn lẻ) có tựa đề Koto (Cổ đô) “Kyôto” (10/1961-1/1962), theo Nishikawa Nagao[10] có tính cách một của một cuốn sách hướng dẫn du khách nhiều hơn là tiểu thuyết, kể lại cuộc gặp gỡ và chia tay của hai chị em sinh đôi. V́ hoàn cảnh, một người được nuôi ở một hiệu buôn áo kimono trong khu Muromachi giữa thành phố Kyôto, người kia lớn lên trong ngôi làng Kitayama kề bên.. Quyển truyện gợi nhớ về những cảnh đời cũ , sinh hoạt thành thị và nông thôn, hội hè đ́nh đám ở chốn cố đô mà ngày nay không c̣n t́m ra .Thêm một lần nữa Kawabata đă vẻ ra một cảnh mộng ảo mà ngay cả người dân Kyôto ngày nay cũng cảm thấy xa lạ và thần bí.

Sau 1945, ông có lần tuyên bố “Từ đây về sau, tôi sẽ không viết một ḍng chữ nào mà không nói về vẻ đẹp và nỗi buồn của Nhật Bản”. Ông đă giữ lời nhưng cái đẹp mà ông miêu tả vẫn chưa được ngay cả người Nhật đồng cảm được.

TIẾT IV : BURAI-HA VÀ TIỂU THUYẾT THÔNG TỤC MỚI :

Nối tiếp truyền thống tiểu thuyết thông tục ( tức tiểu thuyết đại chúng) thời Edo, xem việc viết tiểu thuyết để giúp vui cho đại chúng. Những nhà văn trường phái này có khuynh hướng chống lại quan niệm văn học có màu sắc luân lư được h́nh thành sau thời chiến. Họ viết văn với t́nh cảm tự dằn vặt, thái độ sa đọa. Được mệnh danh là shingesaku-ha (Tân hí tác phái) hay buraiha[11] (Vô lại phái). Ishikawa Jun đă dùng từ tiếng Pháp libertins (những kẻ phóng đăng) để nói về nhóm người viết văn cùng chung khuynh hướng với ḿnh, trong đó những nhân vật tiếu biển nhất là chính ông , Ishikawa Jun (1899-?), Sakaguchi Ango (1906-1955) Dazai Osamu (1909-1948), Oda Sakunosuke (1913-1947), Tanaka Hidemitsu (1913-1949). Trừ Ishikawa, họ đều chết trẻ, hoặc v́ mệt mỏi, hoặc v́ dùng thuốc kích thích (Sakaguchi, Oda) hay tự sát (Dazai, Tanaka) . Nhà nghiên cứu Nishikawa, Nagao[12],  c̣n xếp Hayashi Fumiko và Tamura Taijirô vào nhóm nầy bởi v́ hai người có độ nhạy cảm tương đồng với các nhà văn trong nhóm và trên thực tế, có mối giao hảo tốt với họ. Những và văn vừa kể c̣n có một điểm chung là đứng dậy từ đống tro tàn của thời hậu chiến.Trong trường phái “bất chấp thiên hạ” nầy có những nhà văn như Oda Sakunosuke (Chức Điền, Tác Chi Trợ, 1913-1947), tác giả truyện Doyô Fujin “ Người đàn bà ngày thứ bảy” (1946) và tập b́nh luận Kanôsei no Bungaku (Loại văn chương có hiệu năng ” (1946) với chủ trương chống đối đường lối viết văn hiện có. Dazai Osamu (Thái Tể, Trị, 1909-1948) viết Bijion no Tsuma “Người Vợ Của Villon” (1947) để phản đối qui phạm đạo đức mà xă hội chấp nhận. Dazai c̣n viết Shayô (Tà Dương) “ Chiều Tàn”, tác phẩm nổi tiếng một thời nói về sự suy vi của quí tộc Nhật Bản, và Ningen Shikkaku (Nhân gian thất cách) “Hết đáng làm người” (1948) bày tỏ thái độ chống đối lối sinh hoạt của xă hội hậu chiến. Sakaguchi Ango (Phản Khẩu, An Ngô) viết Hakuchi (Bạch tri) “Nàng Ngố” (1946), Koi wo shini iku “Đi t́m t́nh yêu”(1947), tập b́nh luận Suirakuron (Trụy lạc luận) “Bàn về sa đọa” (1946) nói lên tinh thần phản kháng đối với những lề lối thường t́nh đang chi phối xă hội.

  
Từ trái sang phải : Masamune Hakuchô, Dazai Osamu, Hayahi Fumiko và Miyamoto Yuriko.
Ảnh John Lewell, Modern Japanese Novelists (Kodansha, 1993).

1)      Dazai Osamu (Thái Tể, Trị, 1909-1948) :

Dazai Osamu tên thật là Tsushima Shuuji (Tân Đảo, Tu Trị) sinh trong gia đ́nh đại điền chủ ở Tsugaru, vùng Aomori, miền bắc nước Nhật, Có lẽ v́ được dạy dỗ quá kỹ lưỡng, ông sinh ra có ác cảm với giáo dục cổ truyền. Từ hồi học trung học đă nổi tiếng về tài văn chương. Vào Đại Học Đông Kinh theo ban Pháp văn nhưng có những hoạt động bất hợp pháp và đi lại với một cô geisha, sống một chuỗi ngày đồi trụy đúng y tác phong bất chấp đạo đức và cười cợt người đời của ông. Ông bị nghiện ngập và phải điều trị, rốt cục kết hôn được và chỉ từ đó giọng văn sáng sủa lên một chút. Bắt đầu ra mắt văn đàn từ năm 1933 sau khi ly khai voơi chủ nghĩa Marx (1932) và t́m về Công Giáo. Trước chiến tranh, đă cho đăng những truyện ngắn có giá trị như “Cuối đời”[13] (Bannen, 1936), “Măn nguyện” (Mangan, 1938) Fugaku hyakkei (Phú nhạc bách cảnh, 1939), “Núi Phú Sĩ trăm vẻ” và Hashire Merosu “Chạy nhanh đi, Merose ơi!” (1940). Tuy nhiên hai lần không được giải Akutagawa và một lần vào nhà thương chữa bệnh tâm thần đă để lại vết thương trong ḷng ông.

Sau chiến tranh, tinh thần phản xă hội của ông c̣n mạnh hơn trước. Ông viết vở kịch Fuyu no Hanabi “Pháo bông mùa đông”(1946) Bijion no tsuma “ Người vợ của Villon” (1947), Ôtô (Anh Đào) “Hoa anh đào” (1948) đứng trên lập trường phê phán quan niệm đạo đức đă an bài. Trong Shayô (Tà dương) “Chiều tàn”, ông miêu tả cảnh sa sút của lớp quí tộc Nhật Bản, với Ningen Shikkaku (Nhân gian thất cách) “Hết đáng làm người” (1948), ông nói về nỗi sợ sệt đứng trước con người và ḷng tin đă đánh mất đối với họ. Sau đó, ông tự sát ở hồ chưa nước ngọt của sông Tamagawa, gần Tôkyô.

Ngoài những tác phẩm vừa kể, ông c̣n viết Tsugaru (Khinh Tân) (1944) nói về “Tsugaru”, vùng eo biển quê hương Aomori của ông, Otogizôshi (Già thảo tử) “Truyện giải buồn” (1945).

Dazai là một nhà văn nhiều người thích, nhất là lớp trẻ cho đến cả bây giờ. Ông bị coi như là một tâm hồn yếu đuối đứng trước sức ép của xă hội và thời thế. Ông nhiều lần tự tử hụt trước khi toại nguyện. Lúc trẻ đă vào đảng Cộng Sản trong bí mật rồi lại ra đầu thú với cảnh sát để xin “ chuyển hướng ” (tenko), bị bùa mê của chủ thuyết Đại Đông Á (1943), viết văn phục vụ cho nó như trong Sekibetsu (Tích biệt, 9/1945) “Cuộc chia tay đáng tiếc”, tác phẩm mang màu sắc quân phiệt, đả động đến thời sinh viên của Lỗ Tấn. Văn hào Trung Quốc là người mà ông cảm mến nhưng ông trong truyện, ông lại giải thích một lối khác sự chia tay giữa Lỗ Tấn và người thầy học cũ dạy ḿnh ở trường Y Khoa tỉnh Sendai, thầy Fujino[14], một “người Nhật tốt” mà nhà văn Trung Quốc nầy rất biết ơn. Dazai cũng tránh né không nhắc đến những việc làm tai hại gây ra bởi chính sách thuộc địa của Nhật trên quê hương Lỗ Tấn.

Tuy ông cộng tác với chính quyền nhưng quân phiệt Nhật trước đó và quân đội chiếm đóng Mỹ sau nầy đều từng cấm phát hành văn ông. Chuyện đó đă xảy đến cho Hanabi “Pháo bông” (1942) và Fuyu no Hanabi “Pháo bông mùa đông” (1946), chứng tỏ ông chẳng được ḷng ai cả. Hai phe đều coi ông là phần tử đồi trụy và nguy hiểm v́ quan điểm của ông có màu sắc của chủ nghĩa vô chính phủ. Tư tưởng có tính cách viễn mơ ấy là đi t́m một xă hội lư tưởng ở thế gian mà ông gọi là nguồn đào (Tôgenkyô = Đào nguyên hương), một cơi chỉ có trong truyền thuyết Trung Hoa.

Dazai không phải một nhà văn hậu chiến đích thực. Ông đă trưởng thành và hoạt động trong chiến tranh. Thế nhưng ông rất được hâm mộ từ sau 1945 v́ ông nói lên được nỗi tuyệt vọng và hổ thẹn của người Nhật chiến bại. Hổ thẹn có hai mặt trái ngược, một là v́ không đáp lại được ḷng mong mỏi của giới lănh đạo chiến tranh, hai v́ đă đi lầm đường.

Dazai để lại di cảo đang viết nửa chừng có nhan đề là …Good-bye. Và trong Ningen Shikkaku, tác phẩm cuối cùng được ra mắt, ông đă đặt vào miệng nhân vật chính câu nói như sau Đời tôi là một chuỗi hổ thẹn! Đó là kết luận về đời văn và đời người của chính Dazai.

Shayô (Tà Dương)

Tiểu thuyết dài c ủa Dazai, miêu tả cảnh sa sút của một gia đ́nh quí tộc ba người (bà mẹ, chị, em trai) và nhà văn. Truyện diễn biến theo ḍng nhật kư và thư tín của người chị tên Kazuko. Cậu em trai tự sát v́ đâm ra tuyệt vọng trước một xă hội mà con người phải cạnh tranh nhau để mà sinh tồn trong khi cô chị cam phận rời bỏ quan niệm đạo đức truyền thống để thích ứng với hoàn cảnh mới. Tác giả Dazai Osamu đă gửi gắm tâm sự của ḿnh qua lời phát biểu của các nhân vật, tŕnh bày t́nh cảm tuyệt vọng trước xă hội mới cũng như đưa ra tín điều luân lư của ông.

Trên đống gạch vụn, rác rưỡi và sự điêu tàn của ḷng người, văn học hậu chiến Nhật Bản đă đứng dậy với nhóm Buraiha. Chủ đề của họ là Nhật Bản lầm than của trộm cắp, đĩ điếm, chơ đen và nạn nhân chiến cuộc.

2) Ishikawa Jun (Thạch Xuyên, Thuần, 1899-1987) :

Ishikawa Jun, nhà văn năng nổ, dịch thuật và sáng tác dồi dào, viết văn theo lối viết hết sức tiền vệ (avant-garde). Ông sinh ở xóm b́nh dân Asakusa thuộc Tôkyô, tốt nghiệp khoa tiếng Pháp ở Trường ngoại Ngữ Đông Kinh, chịu ảnh hưởng văn học Pháp (Anatole France, André Gide) và nhất là trường phái tượng trưng (symbolism). Ông cũng rành tác phẩm cổ điển Nhật Bản. Về mặt chính trị, ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa vô chính phủ và chủ nghĩa Marx nhưng đứng ngoài ṿng đảng phái. Fugen (Phổ Hiền) “ Đức Phật Phổ Hiền ”, quyển tiểu thuyết tự thuật của ông nói về sự đối lập giữa cái thánh thiện và cái trần tục trong cuộc đời. Năm 1938, cuốn Khúc hát tháng ba của ông bị kiểm duyệt cấm in v́ có nội dung chỉ trích độc tài quân phiệt đang kéo cả nước Nhật vào hiểm họa chiến tranh. Khi hoà b́nh lập lại, ông viết Truyền thuyết hoàng kim (1946) nói về một thằng tôi lang thang giữa cảnh tượng hoang tàn của thời hậu chiến với ba điều ước , t́m một người thợ nhờ chữa hộ cái đồng hồ chạy sai từ ngày chiến tranh, t́m người bán cho chiếc nón quả dưa để thế cái mũ lính và t́m người c̣n gái ḿnh thầm yêu nay đă trở thành goá bụa. Người con gái t́nh cờ gặp lại đă dịu dàng cắp tay dạo phố với anh ta nhưng khi nhác thấy một chàng lính Mỹ đen trong đám đông, cô ta đă xô đẩy anh ra để chạy theo hắn.

Giê-su trong đống gạch vụn ra đời 6 tháng sau Truyền thuyết hoàng kim , người kể truyện (nhân vật xưng tôi) gặp trong một Tôkyô kinh tế chợ đen, một thằng bé nhớp nháp và ghẻ lở, có lẽ là cô nhi thời chiến, quen ăn cắp, móc túi, thèm thuồng xác thịt và hung bạo, nhưng đối với tác giả , nó không ai khác hơn là chúa Giê-su ở Nazareth, đứa con của loài người, đang đi trên con đường thập tự thống khổ. Cái ngôi chợ bẩn thỉu vùng Ueno ở Tôkyô, theo tác giả là một cái hoa ác [15] (fleur du mal) đẻ ra từ những trận bom lửa tàn phá thành phố nhưng ngôi chợ đó cũng là mảnh đất đầy chất thơ mà trên đó những ước vọng tương lai của Nhật Bản sẽ sinh sôi. Trong cái ngôi chợ nầy, tất cả mọi giá trị đều bị đảo ngược.Và người kể chuyện xưng tôi cũng bị thằng bé ma cà bông kia làm cho té ngửa. Cái tôi ấy không là cái tôi thật mà chỉ là cái tôi giả tưởng, dụng cụ để khám phá đứa trẻ thánh-Chúa trong một thế giới lăng mạn.

3) Hayashi Fumiko (Lâm, Phù Mỹ Tử,1904-1951)

Hayashi Fumiko sống trôi dạt từ nhỏ. Con thứ tư trong gia đ́nh, các chị em mỗi người một bố. Bố của bà nhỏ hơn mẹ 14 tuổi và đă bỏ nhà theo t́nh nhân là một cô geisha cũ. Gia đ́nh bà sống rày đây mai đó với người cha dượng làm nghề bán hàng rong. Thời thơ ấu cực khổ như thế đă ảnh hưởng tới văn nghiệp của bà. Bà viết Hôrôki (Phóng lăng kư, in năm 1930) “ Đời trôi nổi”, dưới dạng nhật kư hơn là tiểu thuyết. Cuộc đời nghèo khổ, phải đánh bạn với thợ mỏ, đĩ điếm, dân nghiện ngập và hát rong, đêm đến ngủ trong cầu tiêu hay nhà bỏ hoang nên bà có tư tưởng xă hội nhưng không thích chính trị. Thế cũng đủ cho cảnh sát bắt giam năm 1933 trong một khoảng thời gian ngắn. Sau khi “ Đời trôi nổi ” đem đến thành công vật chất (bán được 600.000 cuốn năm 1930) và đi thăm Paris (1931-32) về, biết ḿnh được yêu chuộng, bà quyết định dồn sức viết để làm giàu. Đến lúc mất ở tuổi 48 (1951) bà đă để lại 270 đầu sách, phần lớn là tự truyện.

Trong thời chiến, bà lại dấn thân vào các hoạt động hỗ trợ chiến tranh, trước là đi Nam Kinh, Hán Khẩu, sau đến Việt Nam, Java rồi Borneo. Trở lại Nhật năm 1943 , bà im hơi lặng tiếng trong một ít lâu.

Chiến tranh chấm dứt, bà cho ra mắt Kawahaze “ Con cá bống ” (1947) thuật lại t́nh cảnh một phụ nữ xa chồng 4 năm trời, dan díu với bố chồng trong khi chồng ra tiền tuyến đến có mang, muốn tự tử chết mà không toại nguyện. Fumiko muốn nói lên tâm trạng trước những ràng buộc của xă hội đối với người phụ nữ trong thời chiến. Trong Hone “ Tro cốt ” (2/1949), bà tả một góa phụ chiến tranh phải bán trôn nuôi miệng, miệng ḿnh và miệng gia đ́nh gồm ông bố già, cậu em ho lao và hai đứa con mồ côi. Suốt nửa truyện, bà kể đêm đầu tiên Michiko, vai chính, nằm trong ṿng tay khách. Tro cốt nói đến trong truyện là tro của người chồng chết ở chiến trường và của đứa em, nhưng cũng dự báo đến tro của cha già sắp chết, như thể số phận đàn bà là vẫn phải sống c̣n dù có hay không có đàn ông. Shitamachi (7/1949) “ Xóm b́nh dân ” là câu chuyện của Riyo, một người đàn bà nạn nhân chiến cuộc, tạm thời làm nghề giao trà trong khi hai mẹ con đợi người chồng bị cầm tù ở Tây Bá Lợi Á từ 4 năm nay chưa được thả về. Cho đến ngày chị ta gặp và yêu Tsuruishi, cũng là lính vừa mới từ bên đó trở lại Nhật để chứng kiến vợ ḿnh đang sống với người khác. Ukigumo “Mây trôi dạt” (11/1949), tác phẩm cuối của Fumiko cũng chứa đựng một sự cam chịu của người đàn bà đứng trước thân phận như trong những tác phẩm Shitamachi nói trên hay Bangiku (Văn cúc ) “ Đóa cúc muộn ”, trong đó, Kin, một geisha luống tuổi, sau những nằm xa cách, chăm chút sửa soạn để gặp lại người t́nh cũ từ chiến trường trở về để rồi thất vọng tràn trề khi biết anh ta không đến thăm cô v́ cô mà chỉ đến để vay tiền :

“ Bức “thành đồng” ngăn cách hai người – thể hiện qua cái ḷ sưởi ở giữa – có vẻ vẫn không suy suyển bớt chút nào.  Bây giờ th́ Tabê đă say khướt, c̣n Kin th́ từ đầu chí cuối chỉ mới uống chưa được lấy nửa ly. Tabê cầm tách trà lạnh lên ực một hơi, rồi buông thỏng tấm h́nh xuống bàn một cách hờ hửng.

-         Coi chừng khuya quá hết tàu điện, không về được.

-         Bộ định đuổi về lúc tôi đang say thế này sao?

-         Phải, đuổi thẳng tay. Nhà này toàn đàn bà con gái, hàng xóm người ta bàn tán !

-         Hàng xóm? Người như cô mà thèm giữ ư với họ à?

-         Vâng, giữ ư chứ!

-         Tối nay ông ấy tới hả ?

-         Ôi, ngài Tabê này, quá sức rồi đó nghe!  Anh nói cái kiểu đó tôi ghét lắm đó !

-         Chả sao, kiếm không ra tiền th́ hai ba ngày cũng chưa về được. Hay là ở lại đây ?

Kin đưa hai tay lên ôm đầu, tṛn xoe hai mắt sửng sờ nh́n cái miệng vừa nói xong của Tabê. Cả một mối t́nh ấp ủ trăm năm bỗng vụt biến mất! Lặng nh́n người đàn ông trước mắt, Kin chả c̣n thấy đâu là cái đă gây cho ḿnh bao xao xuyến trong những ngày xưa, nơi con người này cũng chả c̣n chút ǵ là sự biết mắc cỡ của thời thanh niên lúc trước. Kin cũng muốn ch́a ra một ít tiền để tống đi cho xong, nhưng nghĩ lại, thấy có cho con người đang say sưa này một xu thôi cũng không đáng. Thà để tiền cho những người ngây thơ khờ khạo c̣n hơn. Đàn ông mà không biết tự trọng th́ chả ra ǵ.  Trong đời Kin đă có biết bao người ngây thơ t́m đến, và Kin yêu cái ngây thơ đó, xem như một cái ǵ quư giá cao thượng. Xưa nay Kin chỉ thích người đàn ông nào mà Kin cho là lư tưởng, cho nên với thực tế hôm nay, Tabê đă trụt xuống cái vị trí của những kẻ mà Kin xem là quá tầm thường. Khi Tabê không chết ngoài trận tuyến mà lại trở về được b́nh yên, Kin cho đó âu cũng là số mệnh. Giờ này nghĩ lại, lẽ ra với những vất vả khi xuống Hiroshima thuở đó, Kin đă có thể dứt t́nh với Tabê được rồi ”.

(Trích Đóa cúc muộn, bản dịch của Văn Lang Tôn Thất Phương)

Ukigumo “Mây trôi dạt” (11/1949), tác phẩm cuối của Fumiko lấy tư liệu từ những ngày sống ở Việt Nam cũng chứa đựng một sự cam chịu của người đàn bà đứng trước thân phận. Yukiko đến Đà Lạt làm cho Sở Lâm Nghiệp và yêu Tomioka, một người đă có vợ Nhật c̣n đèo bồng thêm nhân t́nh Việt Nam đến có con. Hai người t́m nhau v́ xác thịt nhiều hơn là tinh thần. Khi Yukiko trở về Nhật, cô nh́n thấy sự suy sụp của người xưa. Tuyệt vọng, Tomioka muốn đưa Yukiko lên suối nước nóng để giết nàng nhưng lại bị một người đàn bà khác quyến rũ và gây ra án mạng. Yukiko nằm trên giường bệnh mơ về Đà Lạt và về anh lính Mỹ mà đôi khi nàng có ăn nằm. Sau đó, nàng chết để Tomioka sống không mục đích như mây trôi dạt.

Nhà văn nữ Hirabayashi Taiko, một người bạn cũ của tác giả, cho rằng Hayashi qua tác phẩm này đă muốn đi t́m cho xă hội Nhật Bản hậu chiến một điểm tựa tinh thần nhưng đă thất bại với ước nguyện đó.

4) Sakaguchi Ango (Phản Khẩu An Ngô, 1906-1955) :

Sakaguchi Ango có thái độ chống đối truyền thống (antitraditionalist). Ngay giữa thời chiến (1942) đă dám phát ngôn là nếu Hôryuuji (Pháp Long Tự) và Byôdôin (B́nh Đẳng Viện), hai quốc bảo về nghệ thuật kiến trúc của Nhật có cháy tiêu th́ ông cũng chả tiếc. Ông chỉ chú trọng đến cuộc sống thường nhật của hôm nay, bây giờ mà thôi.Trong Suirakuron (Trụy lạc luận) “Bàn về sa đọa” (4/1946) và Hakuchi (Bạch tri) “ Nàng Ngố ”, ông đă có thái độ vừa Phật giáo vừa Tây Phương, phản ứng lại ư thức hệ truyền thống được chính quyền quân phiệt Nhật Bản giương cao suốt thời chiến.

Hakuchi “ Nàng Ngố ” mượn bối cảnh một xóm nghèo trong thời chiến mà nàng ngố sống dưới mái nhà với một người mẹ, đợi ngày sinh nở một đứa con nó không biết của ai. Nàng ta tuyệt vọng, ngây thơ cùng cực, chỉ có hai bản năng là thích xác thịt và biết sợ hăi, không c̣n biết diễn tả được bằng ngôn ngữ của loài người nữa. Tất cả tượng trưng cho h́nh ảnh của Nhật Bản dưới những trận mưa bom lửa của Đồng Minh thời chiến tranh sắp kết thúc.

Sakaguchi sinh trong một gia đ́nh giàu có ở Niigata, sớm chán ghét chế độ giáo dục cứng nhắc, 17 tuổi đă bị đuổi cổ khỏi trường tỉnh nhưng thề một ngày nào đó sẽ đi vào lịch sử như một thằng hư hỏng lừng danh. Dù sao, năm 1926, ông đă vào được Đại Học Đông Kinh nổi tiếng để học triết Ấn Độ và Phật học. Ông học rất chăm, biết cả tiếng Phạn, Tây Tạng, La-Tinh và tiếng Pháp và sớm chọn đường văn học qua dịch thuật và sáng tác. Tác phẩm đầu tiên Kaze hakase “ Đốc tờ Gió ” (1931) được Shimazaki Tôson, Makino Shin-ichi là những nhà văn đàn anh khen ngợi. Tuy nhiên, nội tâm ông luôn luôn có sự dằn vặt v́ không lựa chọn được giữa cái thánh thiện và cái sa đọa, cấm dục và phóng đăng, tự tin và tuyệt vọng. Ông yêu nhà văn nữ Yata Tsuseko nhưng không thành. Ông mất nhiều thời gian để gượng dậy sau thất bại nầy.

Sau chiến tranh, ông viết thành công hơn trước nhưng xă hội hậu chiến đă thiêu cháy ông , một người đă có những triệu chứng tự diệt. Năm 1949, ông đă phải nhập viện nằm 2 tháng v́ ngộ độc. Ông chống đối hết, chẳng chừa ai, chế độ quân phiệt, chế độ thiên hoàng, đảng cộng sản Nhật, thuế má và gian lận trong tṛ chơi cá ngựa. Ông mất năm 1955 trong nghèo khó và cô độc.

5) Oda Sakunosuke (Chức Điền, Tác Chi Trợ, 1913-1947) :

Oda Sakunosuke có đặc điểm là nhà văn phái burai-ha miệt Ôsaka. Sinh trong một gia đ́nh nghèo làm nghề bán cá, ba lần thi hỏng không lên nổi Đại Học. Ông yêu thích “ Đỏ và đen ” (Le rouge et le noir) của nhà văn Pháp Stendhal và tiểu thuyết của Ihara Saikaku, tiểu thuyết gia lừng danh thời Edo, người mà ông có dành cho một tập luận đề năm 1942. Tác phẩm Doyô Fujin “ Người đàn bà ngày thứ bảy ” (1946) của ông chịu nhiều ảnh hưởng của Stendhal Nhân vật Kimonji Shôzô trong đó giống như Julien Sorel của Stendhal, sau chiến tranh đă đứng lên chống lại một xă hội công thức. Một tác phẩm khác, Osorubeki onna “ Người đàn bà đáng sợ ” mượn ư cái tựa Ichidai Onna “ Đời một người đàn bà ” của Saikaku. Oda c̣n là người đầu tiên giới thiệu Sartre với độc giả Nhật Bản qua L’intimité “ Sự thân mật ”, tác phẩm bàn về vai tṛ của thân xác mà ông đă dịch cùng với một số thầy học cũ. Ông mất đầu năm 1947, sống chỉ có 17 tháng sau ngày đ́nh chiến nhưng đă để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ.

TIẾT V : CÁC NHÀ VĂN TIỂU THUYẾT ĐẠI CHÚNG KHÁC:

Tiểu thuyết mang tên đại chúng ghi chép lại chuyển biến trong thế thái nhân t́nh từ khi xă hội Nhật Bản bước vào thời hậu chiến. Sự góp mặt của nó là một đặc điểm của văn học sau chiến tranh (xin xem phân tích chi tiết hơn trong một bài chuyên đề khác). Về ḍng văn học nầy, ngoài các tác giả burai-ha c̣n có thể đơn cử các tác giả và tác phẩm như sau:

1) Tamura Taijirô (Điền Thôn, Thái Thứ Lang, sinh năm 1911):

Cuộc đời các cô gái điếm[16] làm việc cho RAA (Recreation and Amusement Association) để mua vui cho lính Mỹ đồn trú là một đề tài khai thác bởi Tamura Taijirô. Nhiều nhà văn Nhật hậu chiến đă sử dụng đề tài gái điếm như Ishikawa Jun với Kayoi Komachi “ Người đẹp lượn qua lượn lại ” (1947), Yuki no Eve “ Eva trong tuyết ” (1947), Hayashi Fumiko với Hone  “ Tro Cốt ” (1949) nói về một quả phụ chiến tranh phải bán thân nuôi gia đ́nh, hay Nosaka Akiyuki qua tác phẩm Cô bé bán diêm (Mattchiuri no shôjo, 196) trong đó một cô gái điếm được tŕnh bày như nữ thánh. Loại tiểu thuyết này không giống tiểu thuyết phản ánh t́nh trạng của xă hội nhà đương thời nói về thế giới ăn chơi hoa nguyệt có cái tên là fuuzôku shôsetsu hay tiểu thuyết “ phong tục ”[17]. Thật ra sự liên hệ giữa nhà văn và gái đĩ đă có từ thời Edo và (cũng như từng xảy ra ở Pháp vào thế kỷ 18) có một ư nghĩa sâu sắc hơn v́ các nhà văn có cảm tưởng họ cũng là người “ cùng một lứa bên trời lận đận ”. Ở đây, các cô là nạn nhân chiến cuộc, tượng trưng cho sự giải phóng khỏi ách chiến tranh đồng thời cũng là sự nhục nhă của Nhật Bản hậu chiến.

Tamura sau khi học xong đại học Waseda đă bắt đầu viết văn. Ông chịu ảnh hưởng chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hành động của André Malraux như các nhà văn trẻ thời ấy. Ông đă cho in Nikutai no Akuma “ Con quỉ nhục thể ” (1946) mượn tên tác phẩm Le Diable au Corps của Raymond Radiguet nói về một cuộc t́nh oan trái giữa một chàng sĩ quan Nhật và một thiếu nữ cộng sản Trung Quốc. Qua năm 1947, ông viết Nikutai no Mon “ Lối vào nhục thể ”, dù được ăn khách nhưng bị hiểu lầm là tác phẩm nói về t́nh dục. Truyện nói về cô điếm tên Maya bị đồng bọn hành hạ đến chết v́ cô t́m được t́nh yêu và lạc thú thể xác với một người con trai, tức là đi ngược với qui luật xă hội của chúng. Theo Cécile Sakai[18], Tamura có chủ tâm phê phán giá trị cổ truyền Nhật Bản và lên án quân phiệt đă đưa nước Nhật vào ṿng chiến để gây ra thảm cảnh. Đồng thời, ông cũng nêu ra cho thấy trong chủ nghĩa cá nhân và sự tranh đấu cho sống c̣n của các cô gái điếm có một giá trị cơ bản.

2)      Những nhà văn viết “ tiểu thuyết trung gian ” sau 1945 :

Biên giới giữa văn học thuần túy và văn học đại chúng dần dần bị xóa bỏ. Hiện tượng đáng nêu ra về khuynh hướng văn học đại chúng sau chiến tranh có thể là sự ra đời của “tiểu thuyết trung gian” (chuukan shôsetsu). Chính ra cái tên “trung gian” đă có từ năm 1941 để chỉ một loại tiểu thuyết thực dụng (ôyô = ứng dụng), nói trắng ra là để phục vụ chính trị. Sau chiến tranh, nói đến “ tiểu thuyết trung gian” lại có nghĩa là nói đến thể loại đứng giữa tiểu thuyết thuần túy và tiểu thuyết đại chúng hay b́nh dân.

Ḍng chính của thể loại này có tên là “tiểu thuyết phong tục” (fuuzoku shôsetsu). Sau khi văn chương cánh tả (v́ bị đàn áp) và trào lưu tiểu thuyết tự thuật (v́ quá riêng tư nên hạn hẹp) đă thoái trào, các nhà văn xoay ra viết tiểu thuyết t́nh cảm. “Tiểu thuyết phong tục” được xem như là một phân nhánh của tiểu thuyết t́nh cảm, nó nhấn mạnh đến thực tế ngoài đời, mô tả phong tục, thế thái của thời đại, nhất là trong khu vực đô thị, môi trường sinh hoạt của đa số người Nhật. Những tên tuổi trong trào lưu nầy là là Yokomitsu Riichi, Niwa Fumio và Funahashi Seiichi. Tên tuổi Yokomitsu đă được nhắc tới cùng với Kawabata trong phong trào Tân Duy Cảm (Shin-kankakuha).

a) Niwa Fumio (Đan Vũ, Văn Hùng, 1904-?) :

Ông sinh ở thành phố Yokkaichi, gần Nagoya và được nuôi dạy trong một ngôi chùa. Điều đó giải thích ông hay viết về đề tài Phật giáo ví dụ như cuộc đời của các vị cao tăng. Tuy nhiên đề tại ông rất rộng và ông sản xuất rất nhiều. Đặc biệt là “ tiểu thuyết t́nh cảm ” đại chúng và kư sự chiến tranh. Những tác phẩm đáng nhớ của Niwa là Bodaiju “ Cội bồ đề ” (1955-56), Ayu “ Cá hương ” (1932), Zeiniku “ Khối thịt thừa ” (1934) và nhất là Iyagarase no Nenrei “ Lứa tuổi phiền hà ” (1947). Trong tác phẩm đầu tiên, ông ghi lại nỗi ḷng của một đứa trẻ khi mẹ bỏ nhà ra đi theo nhân t́nh và trong tác phẩm cuối kể trên, ông phê b́nh sự ngụy thiện và bất chính của xă hội cổ truyền Nhật Bản, kết tinh nơi Ume, một bà lăo 86 tuổi, nhân vật trưởng thượng trong một gia đ́nh. Sự bất kính đối với tuổi già được xem như nhu cầu muốn t́m tự do ở nơi ông.

Trong cuộc đời văn sĩ khá dài, ông đă có hàng trăm truyện ngắn, truyện dài , tiểu luận, đoạt nhiều giải thưởng nhưng không có một tác phẩm lớn nào. Có lẽ bản chất ông chỉ là một nhà báo đă biết khéo léo kịch hóa những tài liệu mà ḿnh thu thập được.

b) Funahashi Seiichi (Chu Kiều, Thánh Nhất, 1904-1976) :

Ông người Tôkyô, tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh, viết văn ca ngợi tinh thần năng động và chủ nghĩa hành động. Bắt đầu được biết với tác phẩm Daibingu (Diving) “ Phóng xuống nước ”. Tuy trong chiến tranh đă xuất bản tiểu thuyết trường thiên nhưng vào thời hậu chiến, ông đă phát huy tài năng trong lănh vực tiểu thuyết nhục cảm. Sáng tác có Yuki fujin ezu “ Cuộc đời của phu nhân Yuki ” (1848-50) và Aru onna no enkei “ Tương lai một người đàn bà ”.

Dưới thể chế chiếm đóng vàng thau lẫn lộn và trong một thời buổi vật tư thiếu thốn, giá trị tinh thần hoàn toàn băng hoại, đô thị là sân khấu của trăm ngh́n tấn kịch đời. Nhà văn đă cố gắng cung cấp cho độc giả những thông tin kịp thời nhất. Nó trăi rộng như một nan quạt từ “tiểu thuyết nhục thể” (nikutai shôsetsu) với Tamura Taijirô (1911-?) đến “tiểu thuyết tuổi trẻ” (seishun shôsetsu), “tiểu thuyết hài hước”, “ tiểu thuyết giáo dục”, “tiểu thuyết kinh tế” vv…

c) Ishizaka Yôjirô (Thạch Phản, Dương Thứ Lang, 1900-86) :

Nhân vật cần khai triển thêm ở đây phải là Ishizaka Yôjirô, cây viết cho tuổi trẻ, đă có tiếng từ trước chiến tranh với tiểu thuyết trường thiên Wakai hito “Lớp người trẻ” (1935-37). Sau 1945, ông viết Aoi sanmyaku “Rặng núi xanh” (1947), Ishinaka sensei gyôjôki “Ghi chép về hành tung của ông giáo Ishinaka” (1948-49) và Hi no ataru sakamichi “Quăng dốc nắng tràn” (1956-57). Trước sau, nhân vật của Ishizaka bao giờ cũng là lớp người trẻ tuổi, những người công dân dễ thương, tốt bụng và dễ thông cảm mà ông đặt hết ḷng tin yêu vào sức sống của họ. Truyện của ông thường xuyên được dựng thành phim.

d) Ishikawa Tatsuzô (Thạch Xuyên, Đạt Tam, 1905-1985).

Một nhà văn tiêu biểu cho văn học b́nh dân của giai đoạn sau chiến tranh là Ishikawa Tatsuzô Ông theo học Đại Học Waseda nhưng ngưng nửa chừng. Khi viết văn, ông hay chọn chủ đề thời sự và sinh hoạt hằng ngày. Sôbô “Dân lành” được giải thưởng Akutagawa năm 1935. Trong thời gian tham dự chiến trường Trung Hoa, ông viết Ikiteiru heitai “Những người lính đang sống” kể về cảnh cơ cực đời lính. Kết quả là chính quyền quân sự không chấp nhận sự thực nên xử phạt tờ Chuô Kôron đă đăng tác phẩm và bỏ tù tác giả của nó. Ishikawa nhân đó sau chuyển sang hướng khác, viết các tác phẩm phong tục ăn khách hơn như Kekkon no seitai “Chuyện đời sống vợ chồng” (1939). Trong Nozomi naki ni arazu “Không thể không có hy vọng” (1947), Ishikawa mô tả xă hội tan hoang thời hậu chiến đang đi t́m lẽ sống, Shijuuhassai no teikô “Bốn mươi tám tuổi c̣n son” (1955) nói lên sự cố gắng t́m khoái lạc thể xác nơi một người đàn ông đứng tuổi. Trong Ningen no Kabe “Bức tường người” (1958-59), ông đề cập đến hiện trạng giáo dục đang cần cải tổ

TIẾT VI : NHỮNG NHÀ VĂN KHUYNH HƯỚNG VÔ SẢN :

Những nhà văn xông xáo nhất thời hậu chiến là những người thuộc hệ phái văn học vô sản có lẽ v́ đă chịu im hơi lặng tiếng trong thời chiến. Năm 1945, họ cùng nhau thành lập tổ chức Shin Nihon Bungakukai “ Hội Văn Học Nhật Bản Mới ” với ba nhân vật giữ vai tṛ chủ yếu là bà Miyamoto Yuriko (Cung Bản, Bách Hợp Tử,1899-1951), các ông Nakano Shigeharu (Trung Dă, Trọng Trị, 1902-79) và Kurahara Korehito (Tàng Nguyên, Duy Nhân, 1902-1988). Mục tiêu của họ là phát triển “ văn học dân chủ chủ nghĩa ”. C̣n Kurahara là một nhà lănh đạo và nhà lư luận. Ông đă ảnh hưởng nhiều đến Kobayashi Takiji, nhà văn vô sản tiêu biểu, đă chết dưới tay cảnh sát trong thời đàn áp. Ông c̣n để lại tập lư luận văn học Puroretaria Rearizumu (Proletariat Realism) “ Chủ nghĩa hiện thực vô sản ”. Nakano hoạt động trong nhiều lănh vực, từ tiểu thuyết, thơ đến b́nh luận. Sau chiến tranh, ông có Goshaku no sake “ Năm be rượu nhỏ[19] ”, (1947) và Muragimo  (1954). Ngoài ra c̣n phải nhắc đến Tokunaga Sunao (Đức Vĩnh, Trực, 1899-1958), một khuôn mặt đáng kể khác của phong trào văn học vô sản, xuất thân thợ nhà in, đă viết Tsuma yo, nemure “ Ḿnh ơi, hăy ngủ ! ” (1947-50). Đó là những thành quả của các nhà văn vô sản từ ngày trở lại văn đàn.

1) Miyamoto Yuriko (Cung Bản, Bách Hợp Tử, 1899-1951)

Bà sinh ở Tôkyô, tên con gái là Nakajô. Trong lúc c̣n đang đi học ở Đại Học Phụ Nữ Nhật Bản đă viết Mazushikibito no mure “ Một lũ nghèo đói ” (1916) và được xem như một tài năng đầy hứa hẹn. Nửa chừng bỏ học bà sang Mỹ, kết hôn nhưng thất bại. Từ kinh nghiệm đó bà viết Nobuko “ Cô Nobuko ”(1924-26), nội dung như sau :

Con gái một kiến trúc sư, Sasa Nobuko theo cha qua New York, quen Tsukada Ichirô, 25 tuổi, sinh viên ban cổ ngữ ở đại học C, năm mới 20 tuổi và lập gia đ́nh với anh ta. Về nước, hai vợ chồng lục đục v́ lư tưởng khác nhau: Nobuko là mẫu người chiến đấu, hướng thượng trong khi Tsukada chỉ muốn sống an phận.Tsukada chỉ c̣n có cách sử dụng khả năng làm t́nh để giữ Nobuko nên Nobuko phải t́m cách thoát thân. Câu truyện về Sasa Nobuko giống cảnh gia đ́nh của chính tác giả Miyamoto Yuriko (cha cũng là kiến trúc sư nổi tiếng) với người chồng trước của bà là Araki Shigeru. Họ đă thôi nhau sau 6 năm chung sống, một việc không dễ thực hiện trong khung cảnh xă hội Nhật Bản đời Taishô (1912-1926). Sau khi viết xong cuốn tiểu thuyết này th́ đời bà cũng rẽ qua một hướng khác.

Rời Nhật sang Liên-Xô du học xong, khi trở về Miyamoto Yuriko tham gia phong trào các nhà văn vô sản và vào đảng Cộng Sản. Bà tái hôn với Miyamoto Kenji (Cung Bản, Hiển Trị), một nhân vật lănh đạo đảng Cộng Sản Nhật. Sau khi bị bắt điều tra, bà vẫn không ngừng hoạt động và viết lách. Sau khi chiến tranh kết thúc, bà trở thành nhân vật chủ chốt của Hội Tân Văn Học Nhật Bản với cơ quan ngôn luận cùng tên. Bà có các tác phẩm Fuuchisô “ Cỏ bên đường ” (1947), Banshuu heiya “Đồng bằng Harima ” (1947), tục biên của NobukoFutatsu no niwa “Hai mảnh sân ”, và Dôhyô “ Mốc cây số ” (1948-1951).

Trong “ Đồng bằng Harima ”, Miyamoto Yuriko kể lại cuộc hành tŕnh đi thăm quê chồng ở Hiroshima ngay ngày chiến tranh vừa chấm dứt (15/08/1945), chứng kiến được khung cảnh điêu tàn gây ra bởi chiến tranh và tâm trạng của người dân thời đó, dĩ nhiên với nhăn quan của một người cộng sản. “ Cỏ bên đường ” tả lại giai đoạn đoàn tụ với chồng sau khi ông Kenji được Đồng Minh giải thoát từ nhà tù Abashiri ở đảo Hokkaidô (10/1945). Cuộc tái hợp sau 12 năm xa cách không được đằm thắm như đáng lẽ nó phải là, bởi v́ ông trách bà đă chịu ghi tên vào Nihon Bungaku Hôkokukai (Nhật Bản Văn Học Báo Quốc Hội), một tổ chức văn học tuyên truyền thành lập năm 1942 do kư giả và nhà văn Tokutomi Sohô (Đức Phú, Tô Phong, 1863-1957) làm hội trưởng. Tuy việc bất đắc dĩ phải đưa tên vào một tổ chức của chính quyền là một điểm hoen ố trong cuộc đời đảng viên trung kiên nhưng trong “ Mốc cây số ”, bà đă tŕnh bày một cách rơ ràng và thành thực đoạn đường mà cô Nobuko của những năm 1920 đă chọn lư tưởng cộng sản, tự hào đă đề kháng và cho biết v́ ḿnh không chấp nhận “ chuyển hướng ” nên đă bị bắt trên 10 lần trước khi lảnh án tù 3 năm.

2) Nakano Shigeharu (Trung Dă, Trọng Trị, 1902-79)

Ông người tỉnh Fukui, tốt nghiệp khoa tiếng Đức Đại Học Đế Quốc Đông Kinh. Đă từng cùng nhóm bạn bè trong đó có Hori Tatsuo ra mắt tạp chí Roba “Con lừa” và kết hợp với Hayama Yoshiki (Diệp Sơn, Gia Thụ) thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa nghệ thuật Mác-xít (Maru-gei) . Sau đó, ông có chân trong các đoàn thể văn học tiền vệ vô sản, trở thành nhân vật chính của văn học vô sản (Puro-gei). Tập thơ của ông do nhóm Liên minh các nhà văn cánh tả (NAPU) in ra bị cấm lưu hành (1931) nhưng bốn năm sau , một phần của tuyển tập đă được ra mắt độc giả. Ông c̣n viết cả tiểu thuyết. Trong thời chiến, ông đă trải qua một thời kỳ “ chuyển hướng” tức từ bỏ đường lối cách mạng mà ḿnh đeo đuổi nên mang một tâm sự dằn vặt đau khổ.

Lúc đầu quan hệ giữa các nhà văn cánh tả và lực lượng chiếm đóng Mỹ rất tốt đẹp, nhất là trong việc thanh lọc làng văn.Tháng 6 năm 1946. Odagiri Hideo đề nghị với nhà cầm quyền danh sách trên 20 nhà văn nhà thơ có dính líu đến chế độ cũ trong đó phải kể các tiểu thuyết gia Yokomitsu Riichi, Satô Haruo, Ozaki Shirô, các nhà thơ Saitô Môkichi, Takamura Kôtarô, các nhà phê b́nh Kobayashi Hideo, Kamei Katsuichirô và Kawakami Tetsutarô. Tuy nhiên mối giao hảo này càng ngày càng xấu đi. Ngay cả trong nội bộ các nhà văn phía tả kể từ thập niên 1950 trở đi cũng có nhiều phức tâm.

TIẾT VI: TRƯỜNG PHÁI HẬU CHIẾN (APRÈS-GUERE):

Vào năm 1946, một số nhà văn cùng chí hướng đă qui tụ chung quanh tờ Kindai Bungaku (Cận Đại văn Học). Đó là Yamamuro Shizuka (Sơn Thất, Tĩnh, 1906- ?), Hirano Ken (B́nh Dă, Khiêm, 1907-78), Honda Shuugo (Bản Điền, Thu Ngũ), Haniya Yutaka (Thực Cốc, Hùng Cao), Ara Masahito (Hoang, Chính Nhân, 1923-1979), Sasaki Kiichi (Tá Tá Mộc, Cơ Nhất, 1914- ?), Odagiri Hideo (Tiểu Điền Thiết, Tú Hùng, 1916- ?). Họ tập trung vào b́nh luận hơn sáng tác, chủ trương rằng chính là con người chứ không phải chính trị mới là cái đích nhắm của nhà văn. Những cây viết tụ họp chung quanh tờ Kindai Bungaku và trào lưu bắt nguồn từ khuynh hướng văn học nay đă được mệnh danh là “ trường phái hậu chiến ” (Sengô-ha) hay Apure.gêru, lấy từ chữ Pháp “ Après Guerre ”.

Các nhà văn khác có người viết lại kỷ niệm thời chiến của ḿnh như trường hợp Umazaki Haruo (Mai Kỳ, Xuân Sinh, 1915-65) trong Sakurajima (Anh Đảo) “ Đảo Sakurajima ” (1946). Riêng về Noma Hiroshi (Dă Gian, Hoằng, 1915-91) ông đến với làng văn với giọng văn sâu sắc trầm lắng khi viết Kurai e “ Bức tranh tối ” (1946). Ông c̣n kể lại cuộc sống không chút t́nh người trong quân đội qua Shinkuu Chitai (Chân không địa đới) “ Khoảng chân không ” (1952) và hoàn thành thiên tự truyện Seinen no Wa “ Ṿng tṛn của tuổi trẻ ” (1947-1970).

Nakamura Shin.ichirô (Trung Thôn, Chân Nhất Lang, 1918-1979), nhỏ hơn Noma ba tuổi, sau khi cho ra mắt Shi no kage no moto ni “Dưới bóng thần chết ” (1946-47) đă có một sự nghiệp phong phú với Sion no Musume-tô “ Những nàng con gái Sion ” (1948), Aishin to shishin “ Thần t́nh yêu và thần chết ” (1948-49), Nagai tabi no owari ” Cuối cuộc du hành dài ” (1952) và tứ bộ tác (quatrology) Shiki “ Tứ quư) “ Bốn mùa ” (1975-84). Shiina Rinzô (Truy Danh, Lân Tam, 1911-73) viết Shin-ya no Shuuen “ Tiệc rượu giữa đêm khuya ” (1947), Eien naru Yoshô “ Chương sách đầu không kết thúc ” (1948) trong đó ông đă thể hiện được phong cách hiện sinh của ḿnh. Takeda Taijun (Vũ Điền,Thái Thuần) có Mamushi no Sue ( Đuôi rắn hổ mang) (1947), Fuubaika (Phong môi hoa ) “ Hoa truyền theo gió ” (1952), tŕnh bày một nhận thức mới về con người. Ôoka Shôhei (Đại Cương Thăng B́nh) thu thập và ghi chép kinh nghiệm chiến trường Phi Luật Tân của ông

A) Những nhà văn nữ hậu chiến khác :

1) Sata Ineko (Tá Đa, Đạo Tử, 1904-1973) :

Bà người tỉnh Nagasaki, xuất thân gia đ́nh samurai nhưng v́ hoàn cảnh gia đ́nh, mới 11 tuổi phải vào làm việc ở xưởng chế kẹo ca-ra-men. Tuy học hành không được bao nhiêu nhưng ham đọc sách nên hiểu nhiều về các nhà văn Nhật thời Meiji cũng như các văn hào thế giới như Shakespeare và Hugo. Hết làm việc ở hiệu ăn (nhờ đó quen các ông Akutagawa Ryuunosuke, Kikuchi Kan và Uno Kôji) rồi hiệu sách nổi tiếng Maruzen. Bà lấy chồng nhưng không hạnh phúc nên bỏ ra đi, làm việc ở quán cà phê và quen với các nhà văn vô sản. Sau tham gia phong trào của họ, vào đảng Cộng Sản và cũng có lần bị bắt. Bà thường viết các tác phẩm có tính cách tự thuật như Kyaramen Kôba yori “Viết từ xưởng kẹo ca-ra-men” (1928) nói về kinh nghiệm sống thời trẻ, Kurenai “Màu đỏ” (1936) tường thuật cuộc hôn nhân không hạnh phúc với nhà văn phái tả Kubokawa Tsurujirô (Oa Xuyên, Hạc Thứ Lang, 1903-1974). Tuy nhiên, giống như đa số nhà văn tả khuynh thời đó, bà lại bị chủ thuyết Đại Đông Á cho vào tṛng và chấp nhận đi ủy lạo binh lính ở Măn Châu, Trung Quốc, Mă Lai, Java và Sumatra cũng như trở thành đại biểu trong Đại Hội Các Nhà Văn Khối Thịnh Vượng Đại Đông Á tổ chức vào tháng 8 năm 1943.

Hoạt động thời chiến của bà sẽ có một ảnh hưởng tiêu cực đến những năm tháng sau chiến tranh và bị cả hai bên tả hữu tấn công, ngay cả Miyamoto Yuriko, người bạn cũ. Bà phải chống đở không ngừng và nói lên t́nh cảm hổ thẹn của ḿnh trong Hômatsu no Kiroku “Ghi chép về bèo bọt” (1948), Kyogi “Lầm lẫn” (1948), Keiryuu “Gịng nước khe” (1964)…Dù vẫn muốn xem đảng cộng sản là mái nhà của ḿnh, bà đă bị khai trừ năm 1951 v́ có chân trong một tổ chức không chính thống.

Niềm an ủi của bà có lẽ là sự chung thủy của Tsuboi Sakae, người bạn gái trong làng văn, tuy có tư tưởng xă hội nhưng chỉ đứng bên lề đảng phái.

2) Tsuboi Sakae (Hồ Tỉnh, Vinh, 1899-1967):

Vốn tên Iwai Sakae, Tsuboi là họ chồng. Bà chào đời vào năm 1899, con gái thứ năm trong một gia đ́nh mười người con ở tỉnh Kagawa, phía bắc đảo Shikoku, một dải đất nghèo. Cha làm nghề đóng thùng để nuôi một gia đ́nh chen chúc hai mươi miệng ăn, kể cả hai đứa cháu và mẹ già. Lúc chỗ cha bỏ mối bị phá sản, cảnh nhà sa sút hẳn, ở trường về bà phải chạy đi giữ em cho người ta. Sau lại theo cha làm nghề chở củi thuê kiếm sống. Mười lăm tuổi, làm công ở Sở Bưu Điện, cực nhọc quá, mang hết bệnh này bệnh nọ. Có lẽ v́ sớm biết đời khó khăn nên bà thông cảm với người cùng khổ và đă chọn con đường văn học dấn thân.

Thuở nhỏ v́ yêu thích văn chương, bà thường lén đọc các tạp chí phụ nữ và sau đó, qua báo chương, biết đến tác phẩm của các nhà văn đương thời. Năm 25 tuổi, bà lên Tokyo, kết hôn với Tsuboi Shigeji, một nhà thơ đồng hương, sáng lập viên của Liên Minh Các Nhà Văn Cánh Tả. Chồng thường xuyên bị bắt bớ v́ hoạt động chính trị của ông nên bà lại chịu thêm nhiều điêu đứng.

Bà bắt đầu viết văn từ năm 1934 và sáng tác rất đều tay. Tác phẩm dù tùy bút, truyện ngắn hay truyện nhi đồng đều mang màu sắc xă hội, trong đó có Gekkyuu no Hi “Ngày phát lương,” (1935), Daikon no Ha “Lá củ cải trắng” (1936), Tsuma no za “Địa vị Người Vợ” (1947), Amayo no hoshi “Ánh sao giữa đêm mưa” (1959)…., được đăng tải thường xuyên trên các tạp chí đương thời. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là Nijuushi no Hitomi “Mười hai đôi mắt” (1952), trong đó bà kể lại cuộc trùng phùng giữa một cô giáo trường làng trên ḥn đảo quê với đám học tṛ cũ ngày xưa thơ ngây, nay từ chiến tranh trở về, kẻ mất người c̣n mà có sống th́ cũng chịu hậu quả đau thương của giấc mộng bá quyền không nghĩa lư.

Sau một đời mượn ng̣i bút để thực hiện hoài băo xă hội, bà mất v́ một cơn suyển nặng năm 68 tuổi (1967).

Tên tuổi của bà được đặt bên cạnh những nhà văn phụ nữ cánh tả đầu đàn của phong trào văn học vô sản Nhật Bản. Tuy nhiên, riêng về lối viết, bà giữ được thế quân b́nh giữa lư tưởng cá nhân và thực tế cuộc sống, không cường điệu mà chỉ bằng ḷng diễn tả sinh hoạt và suy tư thường nhật của một phụ nữ b́nh thường, người mẹ trong gia đ́nh, cũng như bày tỏ t́nh cảm nhân đạo trước những cảnh ngộ thương tâm.

3) Hirabayashi Taiko (B́nh Lâm, Taiko, 1905-1972):

Bà sinh trong một gia đ́nh địa chủ tỉnh Nagano có truyền thống Nho học nhưng đă sớm chịu ảnh hưởng tư tưởng xă hội. Ra trường năm 1922, lên Tôkyô và sinh hoạt cùng với những đoàn thể vô chính phủ. Bà kết hôn với nhà văn vô sản và cũng là nhà phê b́nh Kobori Shinji (1901-59). Bà có tham gia Liên Đoàn Nghệ Thuật Vô Sản vào năm 1927 nhưng đă sớm tách ra và đi theo hướng riêng của ḿnh. Tác phẩm buổi đầu đáng chú ư có Naguru “Đánh đập” (1928) nói về việc một anh chồng hay đánh vợ. Ở sở làm, anh bị cấp trên đánh đập, về đến nhà, khi vợ bất b́nh muốn phản đối th́ anh ta lại đánh vợ để chứng tỏ anh cũng có người để đánh đập.

Tư tưởng chống quân phiệt có lần thấy trong truyện ngắn Sakura “Anh đào” (1935) đă làm cho vợ chồng bà bị bắt vào năm 1937 và suốt thời gian 1938-45, bà hầu như không viết lách, một phần v́ đau ốm.

Danh tiếng của bà nổi lên chỉ từ khi chiến tranh chấm dứt.Tác phẩm của bà lúc đó phần nhiều nói về kinh nghiệm thời chiến như Shuusen Nikki “Nhật kư thời chiến tranh chấm dứt” (1945), Kô iu onna “Người đàn bà như thế này” (1947), Hitori Iku “Đi một ḿnh” (1947), Watashi wa ikiru “Tôi đang sống đây” (1947). Ngoài ra bà c̣n khai thác chủ đề băng đảng yakuza như trong Chitei no uta “Tiếng hát tự ḷng đất” (1948) v́ cũng như các nhà văn cánh tả, bà thường chú ư đến đời sống của những người thuộc giai cấp thấp trong xă hội.

Bà bổng rẽ quặt năm 1949 khi biểu lộ thái độ phê phán đảng Cộng Sản Nhật trên mặt báo Shinchô và mang tiếng là người chống Cộng đối với những văn hữu cũ. Tác phẩm quan trọng cuối cùng của bà là Fumô “Khô cằn” (1961-62) kể lại những ǵ xảy ra trong thời kỳ thành lập nội các xă hội đầu tiên vào năm 1947 lồng trong một câu chuyện gia đ́nh có ông chồng vô tích sự .Bà cũng dành thời giờ để nghiên cứu “đối thủ” lâu năm của ḿnh, Miyamoto Yuriko, và xuất bản một tập luận thuyết về bà này năm 1972. Chẳng bao lâu, Hirabayashi Taiko sưng phổi và chết v́ suy tim.

Nh́n lại hoạt động của các nhà văn nữ nói trên, ta thấy văn học thời hậu chiến Nhật Bản đă khai hoa với nhiều cây bút phụ nữ đảm nhận một vai tṛ rất đáng kể hay nói hơn đă làm sống lại một truyền thống văn học phụ nữ đă vốn có tự ngh́n xưa.

B) Phái hậu chiến (đợt I):

1)      Hara Tamiki (Nguyên, Dân Hỉ, 1905-1951) và ḍng văn học “ chống bom nguyên tử ”:

Hara sinh năm 1905 ở Hiroshima, thành phố của định mệnh. Thời trung học, ông ham mê đọc thơ Verlaine, Murou Saisei, Hagiwara Sakutarô và văn chương Nga cũng như văn xuôi Uno Kôji. Vào Đại Học Keiô năm 1924 để học văn chương Anh, ông bắt đầu làm thơ haiku và viết truyện ngắn. Ông chịu ảnh hưởng Mác-xít, trường phái Đa-đa và có lần tham gia hoạt động cánh tả trong một thời gian ngắn. Vợ ông mất năm 1944, ông về ở vùng Hiroshima để chứng kiến thảm cảnh sau ngày 6 tháng 8 năm 1945, khi bom nguyên tử rơi xuống quê hương ông. Ông viết Natsu no Hana “Những đóa hoa mùa hạ”, tác phẩm đầu tiên của ḍng văn học mà người Nhật gọi là Genbaku bungaku (văn học liên quan đến cuộc dội bom nguyên tử).

Ḍng văn học nầy miêu tả thảm trạng gây ra bởi quả bom nguyên tử trên thành phố và trên thân xác những nạn nhân bị bom (hibakusha) cũng như bày tỏ sự phẫn nộ đối với quân phiệt Nhật, chính phủ Mỹ…. và niềm khao khát ḥa b́nh của họ. Những tác phẩm thuộc ḍng văn học nầy đă bị nhà cầm quyền chiếm đóng Mỹ kiểm duyệt. Bốn mươi năm sau cuộc dội bom, nhà văn Ôe Kenzaburô đă cho thu thập lại các tác phẩm này trong 15 quyển với “ Những đóa hoa mùa hạ”, Shikabane no machi “Thành phố của những xác người” của Ôta Yôko, Kuroi ame “Mưa đen” (1965) của Ibuse Masuji là những tác phẩm vừa có giá trị văn chương vừa có giá trị tài liệu. Bộ ba tác phẩm “ Những đóa hoa mùa hạ”, “Nhạc mở màn cho một cuộc tiêu diệt,” “Từ giữa đổ nát”, của Hara Tamiki cùng đăng năm 1947 trên mặt báo, có cái dữ dội mà người ta có thể t́m thấy trong cảnh tả địa ngục của Dante bên trời Tây. 

Cái chết của người vợ và cảnh tượng thảm khốc ngày 6 tháng 8 năm 1945 đă để lại một dấu vết quá sâu đậm nơi nhà văn nhưng ngược lại, nó cũng là động cơ giúp ông cố sống thêm vài năm để kể lại bi kịch có một không hai ấy. Ông lao xuống đường rầy xe điện tự sát ngày 13 tháng 3 năm 1951, mười tháng sau khi trận chiến tranh Triều Tiên mở màn.

2) Ibuse Masuji hậu chiến :

Tác phẩm “ Thành phố những xác người ” nói về Hiroshima của Ôta Yôko ghi lại những điều mắt thấy tai nghe hoàn thành vào tháng 11/1945 và chỉ được chính quyền chiếm đóng cho in một phần năm 1948, và sau đó được đăng trọn năm 1950. Bà Ôta c̣n viết thêm nhiều tác phẩm về sau , tập trung vào việc kể lại những nỗi khổ đau của nạn nhân di chứng bom nguyên tử trong đó có Hanningen “ Con người phân nửa” viết vào giai đoạn chiến tranh Triều Tiên.

Trong khi đó, Ibuse Masuji viết Kuroi Ame “ Mưa đen ” dưới dạng cuốn nhật kư của một ông lăo tên Shigematsu, vốn có cô cháu gái Yasuko tuy thoát được trận bom nhưng sau bị nhiễm nước mưa có chất phóng xạ nên mang bệnh. Trong nhật kư, ông già ghi lại những vết cháy phỏng và da thịt mục ră từ từ hiện ra trên một thân thể trước đây lành lặn của cô cháu. Điều đó tương phản với hy vọng muốn sống c̣n của con bệnh, đang t́m cách chắp vá mảnh đời vỡ nát của ḿnh và nỗ lực của những người tận tụy giúp họ hàn gắn. Yasuko không cách nào có được một tấm chồng. Kẻ mai mối đều lăng xa khi biết đến bệnh t́nh của cô. Sau đó Yasuko yếu dần, răng long, tóc rụng và chết.

Tuy văn chương chống bom nguyên tử mở đường cho văn học chống chiến tranh nhưng sự chống đối chiến tranh nầy chỉ dựa trên kinh nghiệm đau thương mà họ là nạn nhân chứ không phải là chống chiến tranh bằng cách tố cáo những sự tàn nhẫn mà chính họ là chủ phạm trên các chiến trường Á Châu.Nếu có tố cáo chăng nữa họ cũng chỉ dừng lại ở thái độ tàn ngược của cấp chỉ huy Nhật Bản đối với quân nhân Nhật Bản, trừ vài ngoại lệ như cuốn Umi to Dokuyaku “ Biển và thuốc độc ” trong đó Endô Shusaku nói về việc quân Nhật đă sử dụng tù binh Mỹ làm vật thí nghiệm phản ứng y học trên con người. Có lẽ tư thế tín đồ Công Giáo của Endô Shuusaku làm ông có một thái độ khác hẳn đồng bào của ông vốn có ư thức phạm tội tập đoàn nên muốn quên những mẩu chuyện không vui ấy đi.

3) Noma Hiroshi (Dă Gian, Hoằng, 1915-1991) và tiểu thuyết “toàn thể”

Noma Hiroshi người tỉnh Hyogo, gần Kobe. Ông tốt nghiệp Đại Học Kyôto năm 1938 với một luận văn viết về Madame Bovary của Gustave Flaubert, và là trung tâm của lớp văn sĩ thuộc đợt thứ nhất thời hậu chiến. Ông vào làm việc ở ṭa thị chính Osaka, phụ trách vấn đề burakumin là lớp người bị kỳ thị. Có lẽ v́ thế ông phát ngôn nhiều về các vấn đề xă hội. Như đă nói ở trên, tác phẩm tiêu biểu có Kurai e “ Bức tranh tối ” và Shinkuu Chitai “ Khoảng chân không”.

Nishikawa Nagao cho rằng Kurai e đă có tầm cỡ của tiểu thuyết mới (nouveau roman) của các nhà văn Pháp Nathalie Saraute hay của Alain Robbe-Grillet. Phần đầu đă được đăng vào năm 1946 trên một trong những tạp chí đă đóng cửa mấy ngay mấy tháng sau. Giới phê b́nh tỏ ra lưỡng lự khi đánh giá hiện tượng văn học mới mẽ nầy nhưng nó đă  được tiếp đón với tất cả sự nồng nhiệt từ phía độc giả. Qua lối viết có phần nặng nề, nhừa nhựa, tác giả đă diễn tả được một số điều mà người ta không diễn tả được với lời văn thông thường.

Trong tác phẩm kể trên, tác giả tŕnh bày những kỷ niệm chia sẻ trong một ngày đi chơi chung với chúng bạn ở Đại Học Kyôto, khoảng năm 1937 hay 38. Đó là thời quân phiệt đang sửa soạn tấn công Trung Quốc và truy lùng các tổ chức cánh tả đang để đập cho tan. Trong trường Kyôto lúc ấy có một tổ đảng Cộng Sản bí mật chống lại chủ nghĩa đế quốc và Noma là một cảm