|
Tắc số 41:
Đạt Ma làm yên ḷng (Đạt Ma an tâm).
達磨安心
Bản tắc:
Đạt Ma
quay mặt vào vách tọa thiền. Nhị Tổ Huệ Khả
cứ đứng măi trong tuyết. Tự chặt rụng cánh tay ḿnh và nói:
-Tâm đệ tử hăy c̣n bất an.
Xin thầy giúp cho được yên.
Đạt Ma mới bảo:
-Được, đem cái tâm đến đây
cho ta. Ta sẽ v́ ngươi giúp cho nó được yên.
Nhị Tổ Huệ Khả trả lời:
-Thưa đă cố t́m khắp mọi nơi
nhưng chẳng thấy cái tâm của ḿnh ở đâu cả.
Đạt Ma đáp:
-Như thế ta đă làm cho tâm
ngươi yên xong rồi đấy.
B́nh Xướng:
Vô Môn nói rằng:
Cái lăo Hồ móm mém (khuyết xỉ
lăo Hồ)
vượt vạn dặm đường biển lặn lội
đến đây, đúng là đă gây ra điều phiền phức như lúc không có gió mà
lại dậy sóng. Đến khi sắp chết rốt cuộc mới có được một mống đệ tử
để truyền nghề mà xem ra hắn là dân chưa có đủ căn cơ. Hỡi ôi, sao
giống như cái anh Tạ Tam Lang, đúng là dân mù chữ.
Tụng:
Bèn có bài tụng:
Tây lai trực chỉ,
Sự nhân chúc
khỉ.
Nạo quát
tùng lâm,
Nguyên lai thị nhĩ.
西 來 直 指
事 因 囑 起
撓
聒 叢 林
原 來 是 你
(Đi thẳng về Đông từ phương
Tây,
Dặn ḍ? Chỉ vẽ chuyện như ngây!
Giờ c̣n làm nhặng inh thiền tự,
Trăm sự đều do một chú mầy!)
Lược dịch lời bàn của
Giáo sư Akizuki Ryômin:
Tổ sư Đạt Ma chín năm trời quay
vào vách tọa thiền. Lúc đă về già, ông mới từ bên Thiên Trúc xa xôi
đến Trung Quốc để t́m người có đủ căn cơ mà truyền đạo pháp. Có lúc,
Thần Quang, sau này sẽ là Nhị Tổ Huệ Khả, đứng chờ trong tuyết mà
Đạt Ma vẫn không thèm quay lại. Cho đến khi người học tṛ kiên quyết
đi t́m lẽ đạo đến nổi tự chặt cả tay ḿnh th́ ông mới chịu quay lại
đối đáp về cái Tâm.
Câu trả lời của Nhị Tổ nguyên
văn: Mịch tâm liễu, bất khẳ đắc. Dịch thử: “Đă t́m cái Tâm xong,
nhưng hoàn toàn không lấy được”. “Liễu bất...” ở đây có nghĩa là
“rồi mà không...”, “rốt cục không...”. Thâu lượm một chữ “liễu” này,
Thần Quang đă tinh tiến để đủ sức thấy được sự an tâm, điều mà từ
bao lâu nay, ông vẫn chờ đợi. Các bậc tiền bối ở nước ta đă có
người giải thích như vậy.
Ngoài ra “bất khả đắc” dịch
“không lấy được” hàm ư “không nắm bắt được với tính cách một đối
tượng”. Cái gọi là Tâm, khi ở tư thế chủ thể th́ tác động, rồi
chính nó lại máy động để thử trở thành cái nó muốn là, cho nên
không thể nào coi như một khách thể để nắm bắt. Cho nên phải nói
rằng đặc tính “không thể nắm bắt được” (bất khả đắc) chẳng qua là
bản chất của Tâm mà thôi. Cụm từ này về sau sẽ được Phật giáo Đại
Thừa cô đọng lại trong một chữ thôi, đó là chữ “Không”, nó đồng
nghĩa với “phi thực thể”, “vô tự tính” và được xem như là thực tướng
của “chân như”.
Nhị Tổ bộc bạch: “Tâm đệ tử
chưa yên” và ông “muốn Tâm được yên”, đi cầu sự an tâm. Đạt Ma mới
đ̣i đưa cho ḿnh xem “Cái Tâm chưa được yên” đó. Dĩ nhiên đào đâu ra
một cái Tâm như thế. Có lẽ lúc đó phải là lúc phải nỗ lực “làm yên”
“cái Tâm chưa được yên” đó.
Thế nhưng việc “thử làm sao cho
Tâm ḿnh yên” tự thể đă “làm cho Tâm ḿnh bất an” chứ không có ǵ
khác. Nỗ lực “đừng làm động Tâm” ngược lại đă là nguyên nhân “động
cái Tâm”. Nói cách khác, nó giống như dùng máu để rửa vết máu. Cho
dù vệt máu trước có sạch nhưng vẫn bị ố v́ vệt máu sau.
Tuy hăy c̣n có thể giải quyết
bằng cách nhắm vào mục đích nào đó, đề ra một lư tưởng, rồi t́m cách
thực hiện lư tưởng đó. Ấy là một phương sách có tính cách lư tưởng
chủ nghĩa, nhưng nó lại đi ngược với con đường tu hành của nhà Phật.
Muốn có “an tâm”, muốn có “bất động tâm”, muốn có “vô tâm” ư ? Tất
cả tự thể là những lầm lẫn. Chỉ đến khi nói lên được câu: “Đă cố t́m
khắp mọi nơi nhưng chẳng thấy cái tâm của ḿnh ở đâu cả”, Nhị Tổ mới
tự nhiên đạt đến cảnh địa của sự vô tâm chân thực hay đạt cái đạo
gọi là “bất nghĩ chi đạo” (không mô phỏng, không nhắm tới mà thành
tựu). Lúc ấy, cả đại sư lẫn nhị tổ đều có cùng một tâm cảnh “diệu
tâm” hay “tâm vô tâm” như nhau. Không c̣n cần ngôn ngữ hay văn tự để
thuyết minh, tâm của cả hai đă hợp thành một. Đồng kính tương đối,
trung tâm vô ảnh tượng (Đặt hai cái kính đối xứng với nhau, ở giữa
sẽ không có h́nh ảnh). Câu nói cuối cùng của đại sư (Ta đă làm cho
tâm ngươi yên xong rồi đấy!) có nghĩa là: “Tâm cảnh ấy đấy!” Đúng nó
rồi!” và chứng minh được việc các thầy thiền đă “dĩ tâm truyền tâm”
cho học tṛ như thế nào.
Những lời dè bĩu trong lời b́nh xướng và tụng của Vô Môn (ông thầy
khuyết răng, học tṛ tự chặt tay không đủ lục căn, anh chàng mù chữ,
kẻ làm nhặng inh chùa chiền...) chỉ là cách ăn nói quặt quẹo của ông
để tán thán công đức và tỏ ḷng ngưỡng mộ đối với tổ sư chứ không ǵ
khác.
|