VÔ MÔN QUAN  -  無門関

Chữ Vô của Phương Đông

Nguyên tác Vô Môn Quan: Vô Môn Huệ Khai
Dẫn nhập và chú giải: Nishimura Eshin
B́nh luận: Giáo sư Akizuki Ryômin

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Tắc số 30:  Tâm tức là Phật (Tức tâm tức Phật)[1].

即心即仏

Bản tắc:

Có một hôm, Ḥa Thượng Mă Tổ[2] nhân Đại Mai[3] hỏi:

-Phật là ǵ vậy?

Bèn trả lời:

-Tâm, ấy là Phật.

 

B́nh Xướng:

Vô Môn nói rằng:

Nếu có người nào lĩnh hội được ngay lời dạy của Mă Tổ th́ có thể mặc áo Phật, ăn cơm Phật, nói chuyện Phật, hành động như Phật và, cứ như thế ấy, anh ta là Phật. Dầu vậy, cái lăo Đại Mai Pháp Thường này khéo dẫn dắt mọi người đến chỗ ngộ nhận khi dạy họ những điều sai trái[4] như thế. (Đại Mai ơi,) có biết tại sao chỉ cần mở miệng nhắc tới chữ Phật là cả ba ngày phải súc miệng không? Người mà thông hiểu Phật Pháp, mới nghe giảng đến câu kiểu như “Tâm, ấy là Phật” (Tâm, tức thị Phật), đă phải bịt tai, nhanh chân chạy trốn ngay thôi. 

 

Tụng:

Bèn có bài tụng:

Thanh thiên bạch nhật,
Thiết kỵ tầm mịch.
Cánh vấn như hà,
Băo tang[5] khiếu khuất.

青 天 白 日 
切 忌 尋 覓 
更 問 如 何 
抱 臟 叫 屈

(Dưới trời thanh, nắng sáng trong,
Ngu ǵ của cấm mất công t́m hoài.
Lại đi hỏi Phật là ai,
Tay ôm tang vật, cổ dài kêu oan!)

 

Lược dịch lời bàn của Giáo sư Akizuki Ryômin:

Tương truyền trong đám môn hạ của Thiền Sư Mă Tổ Đạo Nhất có đến hơn 80 thiện trí thức (kẻ có năng lực chỉ đạo). Mă Tổ là một đại sư tiêu biểu cho thời Thiền học hưng thịnh nhất ở Trung Quốc. Về các cao đồ của ông, ta có thể kể tới những tên tuổi như Bách Trượng, Nam Tuyền, Diêm Quan, Ma Cốc và Đại Mai Pháp Thường.

Nhân một hôm, Đại Mai đưa ra câu hỏi: “Như hà thị Phật?” và tôn sư đă trả lời: “Tức tâm thị Phật!” Ta thấy có hai chữ “tức” trong cái tựa đề “Tức tâm tức Phật”của công án. Chữ “tức” thứ hai là một tiếng phó từ (chỉ trạng thái) có nghĩa “cứ như thế” . Nhân v́ “thị” là một hệ từ (để móc nối) được hiểu đơn thuần như “là” cho nên câu trả lời của Mă Tổ có thể hiểu: A cứ như thế là B (A tức thị B) (Tâm tức thị Phật). C̣n chữ “tức” thứ nhất là một tiếng để giới hạn và cường điệu chữ “tâm” theo sát đằng sau nó. “Tức tâm” hàm ư “không ǵ khác hơn cái tâm, chính cái tâm”. Mă Tổ muốn giải thích: “Chính cái tâm với tất cả tích, dục, tăng, ái là Phật đấy!”. Nó không khác mảy may với những kiểu nói: “Phiền năo tức bồ đề”, “Sinh Phật nhất như” (chúng sinh với Phật là một) hay “B́nh thường tâm thị đạo”. Sau khi nghe xong lời thầy, Đại Mai tức khắc nh́n thấy hiệu quả của bao năm khổ công tu hành. Giống như những ǵ đă xăy ra giữa thầy tṛ Sơ Tổ Đạt Ma và Nhị Tôn Thần Quang (xem tắc 41 Đạt Ma an tâm), thầy tṛ Mă Tổ và Đại Mai nơi đây cũng đă đạt đến chỗ an tâm, ư khí hợp nhất, tự giác được “diệu tâm”.

Về sau, Đại Mai vào ở ẩn trong Đại Mai Sơn, ra sức thánh thai trường dưỡng (tu hành sau khi liễu ngộ). Nhân lúc trong đám môn đệ (hội hạ) theo học Thiền Sư Diêm Quan Trai An có một tăng sĩ lạc lối trong núi, t́nh cờ bắt gặp một kẻ giống như người rừng đang tọa thiền. Sau đây là cuộc vấn đáp giữa hai bên:

Hỏi: Ḥa thượng vào núi này đă được mấy năm rồi?

Đáp: Ta chỉ nh́n thấy núi bốn bên lúc xanh, lúc ngă vàng thôi.

Hỏi: Từ nơi đây ra thôn xóm, phải đi đường nào?

Đáp: Cứ lần theo ḍng nước mà đi.

Tăng sĩ đó sau trở về kể chuyện với thầy. Diêm Quan biết ngay rằng người rừng hẳn là Pháp Thường, đồng môn với ḿnh ở cửa Mă Tổ mà từ khi vào ở ẩn trong Đại Mai Sơn, không có tin tức.Ông mới dặn học tṛ đi t́m một lần nữa, măi về sau, Đại Mai mới xuống núi, bắt đầu ra tay cứu độ chúng sinh.

Câu chuyện đến tai Mă Tổ. Ông mới gửi một ư chỉ qua người học tṛ và bảo anh ta đi gặp Đại Mai. Hỏi rằng:

-Tôi nghe ḥa thượng xưa tham thiền ở cửa Mă Tổ và đă ngộ đạo. Thế th́ ngày nay đă thể đắc ǵ rồi và nói cho kẻ khác nghe được chăng?

Đại Mai đáp:

- Xưa Mă tôn sư khi ta đặt câu hỏi, đă trả lời “Tức tâm tức Phật”. Bây giờ th́ ta sống trong núi này thôi.

Tăng lại hỏi:

-Thế nhưng gần đây Mă đại sư lại giảng pháp cách khác. Không dạy “Tức tâm tức Phật” nữa mà dạy “Phi tâm phi Phật (xem tắc 33 Phi tâm phi Phật) cơ đấy!

Nghe thấy thế, Đại Mai mới nói:

-Lăo già ấy bây giờ lại c̣n đặt điều như thế để lừa bịp thiên hạ đấy phỏng? Lăo muốn nói ǵ th́ mặc, ta chỉ một đường theo “Tức tâm tức Phật”!

Mă Tổ nghe thuật chuyện, bảo rằng:

-Thế sao? Hắn nói thế à? Quả mai (mơ) đă chín rồi đấy!

Câu nói đó là bằng chứng ấn khả mà Mă Tổ ban cho Đại Mai.

Câu chuyện thiền trên thật có ư nghĩa và chúng ta sẽ có dịp đào sâu sau. C̣n bây giờ, nếu không làm phiền quí vị, xin tŕnh bày một chuyện khác. Người góp mặt trong chuyện là Bàng Cư sĩ, kẻ về sau trở thành đại cư sĩ trong thiên hạ, vốn có duyên với cửa Mă Tổ, đă từ xa xôi đến gặp Đại Mai.

Bàng cư sĩ hỏi:

-Lâu năm ái mộ danh tiếng ḥa thượng Đại Mai. Dám hỏi quả mai (mơ) đă chín chưa?

Đại Mai:

-Vừa chín tới nơi. Thế ông ăn nó kiểu nào?.

-Cắn lấy rồi nhai cho nó nát nhừ ra.

Đại Mai ch́a tay ra:

-Nếu thế trả hạt lại ta nhé!

Bàng cư sĩ không biết đáp thế nào, đành lặng thinh. Lúc đó, mới biết người tầm cỡ như Bàng cư sĩ mà cũng chưa thực thấu triệt lẽ đạo[6].

Do đó, người như Ḥa Thượng Đại Mai, một khi thấu hiểu “Tâm, ấy là Phật” đă áp dụng điều đó ngay trong sinh hoạt thường nhật, và cứ thế mà là Phật. Thiền Sư Nhật Bản Dôgen (Đạo Nguyên) cũng nói: “Uy nghi tức Phật Pháp. Tác pháp thị tôn chỉ”, cho nên mặc áo, ăn cơm cũng là thiền. Rời Phật ngữ, làm những Phật hành trong cuộc sống là những “máy động” của Phật vậy.

Dầu nói thế, hăy c̣n một sự dị biệt, dù nó chỉ nhỏ bằng sợi lông thỏ. Ấy là, những ai hiểu được “tức tâm tức Phật”, “chúng sinh bản lai Phật”, có “quan niệm ngộ” rồi, vẫn không có quyền chễnh măng trong việc “thực tham thực cứu”. Như thiền sư Nhật Bản Hakuin (Bạch Ẩn) có đề cập đến, người ta thường mắc lầm lẫn rơi vào ṿng của cái gọi là “vô sự bất sinh thiền” (thiền theo lối vô sự bất sinh). Có lẽ trong ư nghĩa đó, Vô Môn mới phê b́nh Ḥa Thượng Đại Mai đă đưa người ta đến ngộ nhận. Tuy nhiên đây cũng là kiểu nói đùa bỡn (niêm lộng) của nhà thiền chứ thực ra ông xem lời chỉ bảo (thùy thị) ấy của Đại Mai hết sức quí giá.   


 

[1] Thoại này có chép trong Mă Tổ Ngữ Lục. Đối ứng với tắc thứ 33 Phi Tâm Phi Phật (Không phải tâm, chẳng phải Phật) cũng thấy chép ở đây.

[2] Mă Tổ Đạo Nhất (709-788), thiền tăng đời Đường. Học tṛ cháu (pháp tôn) ba đời của Lục Tổ. Khai tổ của tông Hồng Châu. Ông nhận pháp tự của Nam Nhạc Hoài Nhượng (677-744). Với những câu nói bất hủ “B́nh thường tâm thị đạo”, “Tức tâm thị Phật”, đă xác định được chỗ đứng của Thiền Trung Quốc. Để lại “Mă Tổ Đạo Nhất Thiền Sư Ngữ Lục” 1 quyển. Tiểu sử chép trong Đường Văn Túy quyển 64, Tổ Đường Lục quyển 14, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 6 và Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 3.

[3] Đại Mai Pháp Thường (752-839), người nhận pháp tự của Mă Tổ Đạo Nhất. Để lại “Đại Mai Pháp Thường Thiền Sư Ngữ Lục” 1 quyển. Tiểu sử chép trong Tổ Đường Lục quyển 15, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 7 và Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 3.

[4] Nguyên văn : thác nhận Định Bàn Tinh (nh́n lầm dấu của ngôi sao ở đầu cán của cḥm sao Thiên B́nh) nghĩa bóng: cố bám víu vào điều không cần thiết. Ở đây điều ấy ư nói câu hỏi “Phật là ǵ?”

[5] Băo tang: ôm lấy tang vật.

[6] Phải chăng Bàng cư sĩ không hiểu rằng đạo như quả mơ, dù có chín nhũn vẫn c̣n cái hột (không ai có thể tự phụ đạt đạo) và không phải dễ nuốt (truyền đạt) như thế. Xin thỉnh giáo! (LND).

 

 

 

.........................

< Bản bổ sung mới nhất : Feb 24th 2009 >

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của dịch giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com