|
Tắc số 26:
Hai tăng cuốn rèm (Nhị tăng quyến liêm).
二僧巻簾
Bản tắc:
Ḥa Thượng Đại Pháp Nhăn
ở Thanh Lương Viện,
nhân lúc chúng tăng nhân tham thiền trước giờ thu trai
đến pḥng, không nói không rằng, trỏ tay ra chỗ rèm cửa. Lúc đó, hai
tăng sĩ đồng thời bước về phía rèm và cuộn lên.
Thấy vậy, Ḥa Thượng Pháp
Nhăn mới nói: “Một người được, một người mất!”.
B́nh Xướng:
Vô Môn nói rằng:
Nói nghe xem, người nào được,
người nào mất đây? Nếu lúc ấy mà có con mắt thứ ba nh́n thấu suốt sự
vật (nhất chích nhăn hay tâm nhăn) th́ có thể hiểu được chỗ thất bại
(bại khuyết xứ) của ông ḥa thượng Pháp Nhăn tôn quí (Thanh Lương
Quốc Sư) này trong sự phán đoán. Xin bỏ khuynh hướng t́m hiểu ai
được, ai không (ai đúng, ai sai, ai hơn ai kém) như thế cho tôi nhờ!
Tụng:
Bèn có bài tụng:
Quyển khởi minh minh triệt thái
không,
Thái không do vị hợp ngô tông.
Tranh tự tùng không đô phóng hạ,
Miên miên mật mật bất thông phong.
捲 起 明 明
徹 太 空
太 空 猶 未 合 吾 宗
爭 似 從 空 都 放 下
綿 綿 密 密 不 通 風
.
(Nếu cuốn rèm lên sẽ thấy trời,
Trời Thiền chưa chắc hợp tông tôi
Nh́n cao chi măi, thôi, buông xuống,
Buồng kín như bưng, sướng mớ đời!)
Lược dịch lời bàn của
Giáo sư Akizuki Ryômin:
Trước giờ trai ṭa, khi các
tăng tới vấn đạo, thiền sư Pháp Nhăn chỉ đưa tay trỏ cái rèm treo
ngoài cửa, không nói không rằng. Thấy hai tăng cùng ra cuốn rèm, ông
buông một câu gọn lỏn: “Nhất đắc, nhất thất!” Dịch theo từng chữ một
là: “Một được, một mất!”. Có nhà tu thiền suy diễn câu nói ấy ra là:
“Một người đă đắc đạo, người kia không!” nhưng như thế là lầm. Hai
chữ đắc/thất ở đây không nên hiểu theo nghĩa động từ “được” hay
“mất” mà phải hiểu theo nghĩa h́nh dung từ là “tốt” hay “không tốt”
và dùng nó với ư của thành ngữ “thị phi, đắc thất”. Nếu xét câu nói
đó như một tôn chỉ th́ lối hiểu này tương đương với nghĩa thứ hai
của tôn chỉ. Hán ngữ là một thứ tiếng nước ngoài cho nên kiến thức
về ngữ học rất cần khi đọc sách Thiền. Khi hiểu nghĩa thứ nhất
(đắc/thất = được/mất) xong rồi phải t́m hiểu nghĩa thứ hai nếu để
xem có sự đùa bỡn chơi chữ (niêm lộng) nào bên trong hay không.
Trai ṭa là một qui định ở các
tăng viện có từ bên Ấn Độ, ám chỉ bữa cơm chính trong ngày của các
tăng. Lắm lúc, trước giờ cơm, chư tăng có thể đến vấn đạo thầy ḿnh.
Đây không có ư nghĩa ǵ đặc biệt. Chỉ có câu nói “Nhất đắc, nhất
thất”, ngôn ngữ biểu hiện (ngôn thuyên) của Pháp Nhăn khi thấy hai
người học tṛ theo ngón tay trỏ của ḿnh ra cuộn rèm là đặt cho ta
vấn đề suy nghĩ mà thôi.
Lâm Tế Lục cũng chép lại một
câu chuyện tương tự như sau: Một hôm, hai vị đệ nhất ṭa của hai
tăng đường đông và tây gặp nhau, đồng thời cất tiếng quát. Chúng
tăng lấy đó làm vấn đề, đem hỏi Thiền sư Lâm Tế: Thưa, hai bên có
bên nào hơn bên nào kém không? Lâm Tế mới trả lời: Dĩ nhiên hơn kém
đă rơ. Nguyên văn lời của vị sư tổ được ghi lại là: Tân chủ lịch
nhiên (Chủ khách đă rơ ràng). Thử hỏi qua câu đó, Lâm Tế đă muốn nói
ǵ?
Hiểu công án này theo kiểu
được/mất, đúng /sai, hơn/kém th́ đang suy xét nó trong phạm vi tu
dưỡng đạo đức tinh thần chứ không phải nói chuyện tôn giáo. “Đức” mà
“được” rồi th́ mọi chuyện coi như đă xong tất. Do đó, Vô Môn mới đề
nghị dùng con mắt thứ ba (nhất chích nhăn) để hiểu. Đây là “tâm
nhăn” hay con mắt nh́n dọc nếu đem so với hai nhục nhăn nh́n ngang
của chúng ta. Nếu dùng tâm nhăn mà xem, theo Ḥa thượng Vô Môn, mới
thấy Thiền sư Pháp Nhăn đă lộ cái yếu kém, thất sách của ḿnh. Pháp
Nhăn “thất bại” ở chỗ nào thế? Có thể v́ thế giới của người tu thiền
không phải là thế giới của đắc thất, thiện ác, đồng dị. Phải làm cho
tự ngă trở thành trống rỗng (không), rồi ở trạng thái vô ngă, mở con
mắt thứ ba ra sống với sự “phân biệt bằng cái vô phân biệt” như một
con người chân thực (chân nhân). Lúc đó th́ mới hiểu cặn kẻ được thế
giới.
Trong bài tụng, Vô Môn nói
rằng: Khi cuốn rèm lên sẽ thấy bầu trời cao xanh không một gợn mây
(minh minh triệt thái không), nhưng tông môn của chúng ta chưa đạt
tới tâm cảnh trong sáng đó. Cái b́nh đẳng không có dị biệt là b́nh
đẳng không tốt (ác b́nh đẳng). V́ vậy, cần phải hạ rèm xuống, trở
lại tâm cảnh kín như bưng không thông gió (miên miên mật mật bất
thông phong) của tông môn ḿnh. Phủ nhận cái không của thái không,
tức là vượt qua được tâm cảnh của Phật (Phật hướng thượng). Thiền
thực sự (chân thiền) là sống b́nh thường như lời Mă Tổ Đạo Nhất
(b́nh thường tâm thị đạo) chứ cứ coi ḿnh đă ngộ tức là c̣n chưa ngộ
vậy (ngộ liễu đồng vị ngộ).
|
|