|
Tắc số 21:
Que cứt của Vân Môn (Vân Môn thỉ quyết).
雲門屎橛
Bản tắc:
Ḥa Thượng Vân Môn,
nhân có tăng hỏi:
-Phật là ǵ nhỉ?
Bèn trả lời:
-Que cứt khô!
B́nh Xướng:
Vô Môn nói rằng :
Có thể nói Vân Môn là người nhà
cực nghèo, không dọn nổi một bữa cơm xoàng, công việc bận bịu chả
t́m ra giờ rảnh để viết lách.
Xoay xở vớ được cái que ngoáy cứt về chống đỡ cửa nhà
(môn hộ Thiền Tông) cho nên chuyện
Phật Pháp hưng phế thế nào th́ cũng đă bày trước mắt.
Tụng:
Bèn có lời tụng:
Thiểm điện quang,
Kích thạch hỏa.
Tráp
đắc nhăn,
Dĩ sa
quá.
閃 電 光
擊 石 火
眨 得 眼
已 蹉 過
(Chớp điện nháng,
Đá lóe sáng.
Trong nháy mắt,
Đă mất dạng)
Lược dịch lời bàn của
Giáo sư Akizuki Ryômin:
Khi có tăng hỏi:
- Phật là ǵ?
Thiền sư Vân Môn Văn Yển bèn
trả lời:
- Thanh (cục) cứt khô!
Đối với thiền sư lẫn thiền
sinh, cách xếp đặt công án Vân Môn Thỉ Quyết này vào loại nào chưa
được thống nhất. Kẻ chủ trương thiền là kiến tính xem nó thuộc loại
bàn về pháp thân (dharma-kaya).
Có sư gia xếp nó vào nhóm “ngôn thuyên” (verbal expression) v́ cho
rằng trong đó có đặc tính “ngôn cú mật diệu” (yếu quyết thể hiện qua
những câu nói bí ẩn) của tông phái Vân Môn. Ở một vài thất, người ta
dùng tắc này để giảng về tính “hướng thượng” (non-attachment)
nhưng chữ hướng thượng không với cái nghĩa “hướng lên cao hơn” mà là
“nằm ở hướng trên” như trong ngôn ngữ nôm na hằng ngày. Gọi chính
xác hơn, đấy là “Phật hướng thượng” (non attachment in Buddha) nghĩa
là “nằm ở phía trên Phật”. Trong giới thiền, hay nói câu: “Nghe một
tiếng Phật thôi đă là làm bẩn lỗ tai!”, hơn thế, “Mở miệng nói chữ
Phật, phải súc miệng ba ngày cho sạch”.
(Một thí dụ khác (về những sự
bất đồng ư kiến): thiền sư Hakuin (Bạch Ẩn) cho tắc 35 Thanh Nữ Ly
Hồn (Người đẹp ĺa hồn) thuộc loại “nan thấu” (khó thông suốt, those
difficult to pass through) nhưng tôi lại sắp nó vào nhóm “pháp
thân”. Nhân đây cũng nhắc thêm rằng trong lời biện luận về Bát Nan
Thấu (Tám cái khó thông suốt) của Hakuin, trong tắc Bạch Vân Vị Tại
(Bạch Vân chưa có),
thiền sư tỏ ra không phân biệt “nan thấu” với “hướng thượng”).
Tôi dịch nguyên văn “can thỉ
quyết” thành “ thanh (cục) cứt khô”. Theo các cổ chú th́ chữ này có
nghĩa là một dụng cụ như cái que dài, được vạt bằng và nhọn để ngoáy
cứt (có thể ngoáy sơn, ngoáy bột hồ nữa, LND), các chú mới th́ cho
là que để gạt sạch cứt khô. Ngày nay, giáo sư Iriya Yoshitaka sau
khi nghiên cứu kỹ lưỡng đă đi đến kết luận, đây không phải là que mà
chính là cứt đấy (nguồn: Tạp Chí Toshô, số tháng 7 năm 1985).
Có người bảo việc nghiên cứu về
tắc này giúp người ta đi đến chỗ giác ngộ như Phật v́ Phật là Đấng
Giác Ngộ, kẻ bảo nó dẫn thiền sinh tiến gần tới cảnh giới của “cái
nằm bên trên Phật” theo quan điểm “Phật hướng thượng”. Rồi lại có
người đinh ninh đây là ch́a khóa không thể thiếu được để mở cửa vào
Vân Môn Tông. Nhưng cách hiểu nào cũng thuộc loại “bệnh thiền” cả
(khi thiền hăy c̣n giới hạn “nhất sư nhất hữu” trong một thất). Vậy
mới thấy việc tham thiền rộng răi, giao lưu với các tông phái khác,
trong các thất khác (biến tham, lịch tham) là điều quan trọng hơn
cả.
|