|
Tắc số 18:
Ba cân tơ của Động Sơn (Động Sơn tam cân).
洞山三斤
Bản tắc:
Ḥa thượng Động Sơn
nhân một hôm có tăng hỏi:
-Phật là cái có h́nh thù như
thế nào?
Mới trả lời:
-Ba cân tơ
.
B́nh Xướng:
Vô Môn nói rằng:
Cái lăo Động Sơn coi bộ học đâu
ra được ba thứ thiền ṣ,
mới vừa mở miệng ra, đă lộ hết gan ruột ra ngoài.Nói thế chứ bọn các
ông đă thấy rơ hết những ǵ lăo phơi bày
ra chưa? Nói thử nghe coi!
Tụng:
Bèn có bài tụng:
Đột xuất ma tam cân,
Ngôn thân ư cánh thân.
Lai thuyết thị phi giả
Tiện thị thị phi nhân
.
突 出 厤 三
斤
言 親 意 更 親
來 說
是 非 者
便 是 是 非 人
(Vọt miệng “Ba cân tơ!”,
Lời, ư gần gũi ta.
C̣n kẻ giảng kia nọ,
Chỉ là anh vẽ tṛ)
Lược dịch lời bàn của
Giáo sư Akizuki Ryômin:
Động Sơn ở đây là Động Sơn Thủ
Sơ (910-990) tông Vân Môn chứ không phải bậc tiền bối cùng tên Động
Sơn Lương Giới (807-869).
“Ba cân tơ (gai)” (Ma tam cân)
phải hiểu là “Tơ (gai) có ba cân!”. Trong đó tơ không phải là một
khách thể (cảnh) đứng trước chủ thể (nhân) Động Sơn. Nếu đem giải
thích “Phật là ba cân tơ!” th́ người Tây Phương khi đọc công án này
có thể sẽ xem Phật Giáo Thiền là một phàm thần luận.
Thực ra, hiện nay cũng có những nhà tư tưởng Phật giáo xem đạo Phật
là phàm thần luận đấy. Nhưng làm như thế, họ đă rơi vào sự sai lầm
khi dùng những khái niệm triết học phương Tây như hữu thần luận hay
phàm thần luận để đặt đạo Phật vào đó.
Hơn thế nữa, ở đây, cái mà
chúng ta cần để mắt tới không phải là ba cân tơ (cảnh, khách quan)
nhưng là Động Sơn (nhân, chủ quan). Phải để ư đến cái “máy động” như
là một vị Phật ở nơi con người đă thốt ra mấy chữ “Ba cân tơ!”,
nghĩa là thiền sư Động Sơn. Trong tắc 32 nhan đề Kẻ ngoại đạo (Bà la
môn) hỏi Phật (Ngoại đạo vấn Phật), khi kẻ ngoại đạo hỏi: “Có cái ǵ
mà nói ra không được, im cũng không được?” (Bất vấn hữu ngôn, bất
vấn vô ngôn) th́ Thế Tôn chỉ ngồi lặng thinh. Ở đây, Động Sơn trả
lời “Ba cân tơ!”. Cái ǵ cũng là máy động của Phật. Tôi xin phép
được hiểu công án này như một công án về “hoạt năng”, trong tiếng
Anh, nó tương xứng với từ dynamism. Như vậy, công án này dùng
để luyện cái máy động của pháp thân
tức là cái chân tướng tự kỷ. Khi có pháp thân rồi, sẽ có hoạt năng
để máy động. Nói theo ngôn ngữ thiền, điều kiện đầu tiên phải xác
định được cái chủ thể như một “ngă phi-ngă” (cái tôi không phải
tôi).
Trong thiền, có câu: “Chó điên
đuổi ḥn đất”, nghĩa là nếu ném ḥn đất về hướng con chó điên, nó sẽ
không nh́n về phía người ném mà chạy về phía ḥn đất. Nếu là sư tử
th́ khác, con này sẽ không phóng về phía ḥn đất mà về phía người
ném. Thiền dạy ta rằng, trong trường hợp như thế, phải hành động như
sư tử chứ không phải như chó điên.
Thường người ta xem mục đích
của công án này là bàn về pháp thân nhưng xin phép xem nó như một
công án bàn về “hoạt năng” để hiểu cách thiền sư Động Sơn Thủ Sơ đă
biểu thị bằng sự thần diệu của ngôn từ (diệu mật ngôn cú) cái “máy
động” kia như thế nào.
B́nh sinh, có lẽ đôi khi thiền
sư Động Sơn cũng cầm tơ gai trong tay dùng vào việc ǵ đó. Để trả
lời người tu học, ông đă xử sự theo một lối khác với cách chỉ dạy
(thị) bằng cách ngồi trơ ra đó (cứ ṭa) và im lặng (lương cửu) của
Thế Tôn trong tắc 32.
Nếu Thế Tôn có giải pháp “lương cửu” th́ Động Sơn có giải pháp “ma
tam cân”.
Phật Giáo có nghĩa là những lời
Phật dạy, hướng dẫn mỗi người trong chúng ta thành Phật. Phật là “kẻ
đă thức tỉnh”. Thức tỉnh cái ǵ chứ? Tức tỉnh cái “bản lai tự kỷ”.
Ai cũng có Phật tính tức là bản tính làm Phật. Cái quan trọng của
đạo Phật là thức tỉnh được cái “tự tính” (tự kỷ bản tính” ấy. Làm
sao để thức tỉnh tự tính à? Phải nhập vào cái cảnh giới phi ngă bằng
phương pháp thiền định. Khi đă vào chỗ thiền định vô ngă rồi th́ lạ
lùng lắm nghe, tất cả mọi thứ sẽ trở thành tự kỷ. Tơ gai ta đang
cầm trên tay cũng thành tự kỷ. Và như thế, nhân (chủ thể) và
cảnh (khách thể) hợp thành “vật ngă nhất như”. “Ba cân tơ!” mà thiền
sư Động Sơn nhắc đến cũng là “Ba cân tơ!” của “nhân cảnh bất nhị”.
Đó cũng là điều mà ta sẽ thấy lại trong tắc thứ 37 Cây bách trước
sân (Đ́nh tiền bách thụ). Ư nghĩa cả hai tắc hoàn toàn giống nhau.
V́ biết chỉ cho người một cách
thân ái con đường của thiền cho nên lời lẽ (ngôn) và tấm ḷng (ư)
của Động Sơn được Vô Môn đánh giá cao. Ông được Vô Môn xem là một
nhà tu thiền đứng đắn, khác với những người mang danh hiệu thiền gia
mà chỉ gieo rắc sự rối loạn trong tâm trí người ta.
|