|
Tắc số 8:
Hề Trọng chế xe (Hề Trọng tạo xa).
奚仲造車
Bản tắc:
Có bữa, ḥa thượng Nguyệt Am
hỏi một tăng sĩ:
- Hề Trọng
là người chế một trăm cỗ xe
nhưng ông lại đem tháo bánh lẫn trục xe ra mất. Thử hỏi, qua điều
đó, ông ta muốn chứng minh chân lư nào?
B́nh Xướng:
Vô Môn nói rằng:
Nếu ai hiểu rơ được chuyện này
cái một, th́ con mắt của hắn phải sáng như sao sa, cơ trí
của hắn phải nhanh như điện chớp.
Tụng:
Bèn có bài tụng:
Cơ luân chuyển xứ,
Đạt giả do mê.
Tứ duy
thượng hạ,
Nam bắc đông tê.
機 輪
轉
處
達 者
猶
迷
四 維
上
下
南 北
東
西
(Bánh máy chuyển động,
Kẻ đạt c̣n mê.
Bốn phương tám hướng,
Tưởng trúng, ai dè!)
Lược dịch lời bàn của
Giáo sư Akizuki Ryômin:
Thiền sư Nguyệt Am Thiện Quả
(1079-1152, học tṛ đàn cháu của ngũ tổ Pháp Diễn), tức là pháp tổ
ba đời trước của ḥa thượng Vô Môn đă đặt câu hỏi trên cho một tăng
sĩ vân du. Ư nói người chế tạo xe đời thượng cổ là Hề Trọng, đă từng
làm ra không biết bao nhiêu là cỗ xe thế nhưng lại đem phá bánh,
tháo trục xe thành từng bộ phận.Thế th́ ông ấy muốn chứng tỏ điều
chi vậy.
Công án là như thế. Nó có thể
hiểu như thế nào? Theo tôi, có thể nói đó là công án giúp cho người
tu hành thể nghiệm được một cách rơ ràng chữ Không (cũng có thể gọi
bằng chữ Vô), trung tâm tư tưởng của Phật Giáo Đại Thừa. Nếu mở
bánh, rút căm xe ra, th́ hỏi c̣n ǵ là xe nữa. Không c̣n ǵ cả, chỉ
c̣n cái Không. Lăo Tử có nói “Nếu đếm được xe th́ không có xe”.Cũng
như lời Nguyệt Am đă nói, tháo từng bộ phận của xe ra mà đếm đây là
bánh xe, đây là trục xe... th́ xe không tồn tại nữa. Rốt cuộc, tất
cả trở về thời điểm khi không có ǵ hết.
Cổ nhân có bài đạo ca ư nói:
“Đem mấy thanh củi kết lại th́ cất được cái am, c̣n gỡ chúng ra th́
chỉ c̣n cánh đồng không”. Chặt cây trên cánh đồng Musashino (Tôkyô
ngày nay, LND) làm trụ, trải tranh làm mái, trét bùn làm tường, tụ
họp đủ mọi thứ th́ sẽ dựng được một cái am. Cũng cái am đó, nếu
không c̣n ai ở, th́ với năm tháng, gió mưa, nó sẽ tan ră rồi không
biết lúc nào, chẳng c̣n thấy ǵ nữa, ngoài cánh đồng hoang từng có
trước đó.
“Chư hành vô thường”. Cuộc đời
này đâu có ǵ vĩnh viễn bất biến. Tất cả mọi sự vật đều trôi chảy,
không có ǵ đứng lại một chỗ. Kinh Thánh cũng thấy chép: “Ôi, hư
không lại trở thành hư không!” Cách nh́n cái không có tính phủ định
này, Phật Giáo Tiểu Thừa gọi là Tích Không Quán. Nó khác với Thể
Không Quán trong Đại Thừa.
Về điều nói trên, trong Bát Nhă
Tâm Kinh có viết “Sắc tức thị không” (Cái có h́nh tướng đều là hư
không), nhưng lại viết thêm ngay “Không tức thị sắc” (Cái Không tự
thể cũng có h́nh tướng). Nếu chỉ thấy cái không ở chỗ hoa rơi th́ đó
chỉ thấy cái “thiên không”, nghĩa là mang một cách nh́n
thiên lệch, thiếu sót. Cái “chân không” (cái Không thực sự) là
cái Không phải thấy được trong h́nh tướng của hoa khi nở rộ cũng như
khi hoa tàn rụng. Nhà thơ Ogasawara Nagao viết “Này xá lợi tử! Hăy
nh́n hoa chưng (bày). Không tức thị sắc”. Chuyện hoa nở cũng
là thường trụ mà hoa rơi rụng cũng là thường trụ.
Chấp nhận “Chư hành vô thường”
nhưng xin đừng t́m cách tách rời “vô thường” với “thường trụ”. Nói
cách khác, ngay chính giữa cái vô thường ấy đă có sự thường trụ,
không lưu chuyển, ở măi một chỗ rồi.Đó là quan điểm “thể không” của
Đại Thừa, khác với cái nh́n “tích
không” trong triết lư Tiểu Thừa đă nhắc đến.
Bảo rằng công án nào cũng chứa
một kiến giải riêng (nhất tắc nhất tắc biệt kiến giải), mỗi công án
nhất định có đưa ra một phương pháp, thế nhưng, phương pháp ấy mới
chỉ có dưới dạng tư tưởng, cho nên dù có nghiên cứu nó, vẫn chưa có
thể gọi là tham cứu. Thiền là tôn giáo của sự thể nghiệm.
Phải tự đem ḿnh làm vật thí nghiệm (thể nghiệm để). Thể hiện
nó trước mặt thầy như thế nào là vấn đề của người tu thiền.
Xin Phật xá tội để làm một
chuyện quấy là tiết lộ đôi chút những ǵ xăy ra trong mật thất:
Có công án gọi là: “Hăy thử làm
tắt ngọn đèn ở xa ngàn dặm bên kia” .
Khi nào c̣n phân biệt bản thân ḿnh (chủ quan) và ngọn đèn (khách
quan) như hai vật khác nhau, sẽ không bao giờ thành công.Thế nhưng
nếu đứng ở chỗ chưa sinh ra (bất sinh chi trường, theo Bankei) lúc
chủ thể và khách thể chưa phân biệt được (chủ khách vị phân, theo
Nishida Sunshin) th́ giải quyết được ngay. Ngặt lúc đó ông thầy nói:
“Hăy c̣n là tích không quán đấy nhé!”. Người tu thiền lại
nhập thất, ngồi xuống đất, chấp hai tay đặt trên đầu, biến ḿnh
thành “nhất đại đăng minh”, bừng bừng bốc cháy. Trời đất nhập một
thành ngọn lửa. Không c̣n cần phải dập tắt hay không dập tắt nữa.
Thầy lúc đó sẽ mỉm cười nhẹ nhàng.
|