Lời người biên dịch:
Từ thời Minh Trị Duy Tân, cùng với phong trào văn minh khai sáng,
ảnh hưởng các nước Âu Mỹ trên mọi lănh vực của đời sống người Nhật
thật là to lớn. Nó kéo Nhật Bản ra khỏi sự khống chế của văn hóa
Trung Hoa vốn đă kéo dài từ nhiều thế kỷ. Bài viết dưới đây chỉ
tập trung vào văn học, một trọng điểm của cuộc di thực
(transplantation) văn hóa đó, qua công tŕnh nghiên cứu của một
học giả bản xứ, giáo sư Tomita Hitoshi. Tuy chỉ đề cập đến ảnh
hưởng của văn học Pháp đối với người Nhật đời Duy Tân, nó là một
tư liệu quí giá cho việc t́m hiểu và so sánh những hướng đi của
văn học Á châu cận đại, trong đó có Việt Nam.
Riêng về tác giả th́ giáo sư Tomita Hitoshi sinh năm 1933 tại
Tôkyô, tốt ngiệp đại học Waseda và đă xong bậc tiến sĩ. Ông từng
là giáo sư Đại học Nihon và Hội trưởng Hội nghiên cứu văn học Pháp
Nhật, giám đốc điều hành Hội nghiên cứu văn học đối chiếu Nhật Bản
và thành viên Hội nghiên cứu văn học Pháp ngữ của Nhật Bản.
Tiếp xúc Pháp Nhật
Cuộc tiếp xúc giữa hai nước Pháp Nhật đă bắt đầu từ những năm đầu
tiên của thế kỷ 17. Tháng 10 năm 1615 (năm Gen.na nguyên niên),
Date Masamune, lănh chúa vùng Sendai, đă gửi một phái đoàn
sang Âu châu để yết kiến Giáo hoàng Roma. Đoàn sứ giả này khi gần
đến nơi đă gặp băo, phải lên bộ và tạm trú 3 hôm ở Saint Tropez
thuộc miền Nam nước Pháp. Tài liệu nói về việc phu nhân của nhà
cai trị đất ấy đă tổ chức thù tiếp trưởng đoàn Hasekura Tsunenaga
và đoàn tùy tùng như thế nào hăy c̣n được lưu trữ trong thư viện
thành phố Carpentras.
Tuy nhiên phải đợi đến một vài năm sau (1619) mới có người Pháp
đầu tiên đến Nhật. Ông ta tên là Franccois Caron, tùng sự tại
Thương quán Hà Lan ở thành phố Hirado (thuộc tỉnh Nagasaki). Lư do
đưa đến sự có mặt của Caron là việc cha mẹ ông trước đó đă từ Pháp
sang Bỉ di trú. Rốt cuộc, ông đă đến Nhật với tư cách công dân Hà
Lan.
Ngày nay người ta lại nghĩ rằng người mang quốc tịch Pháp đến Nhật
đầu tiên phải là linh mục Guillaume Courtet. Linh mục đă từ Manila
(Philippines) đến Nhật vào tháng 6 năm 1636 với tư cách một nhà
truyền giáo Ḍng Dominico (Tây Ban Nha), thế nhưng lúc đó ông lại
mang tên Tây Ban Nha là sư huynh Thomas de Santo Domingo. Khi vừa
đổ bộ, ông đă bị chính quyền đảo Ryuukyuu khám phá, và v́ thời ấy
đang có luật cấm đạo nghiêm khắc, ông bị gửi về Nagasaki, chịu
nhục h́nh thảm khốc rồi tuẫn đạo vào ngày 29/89/1637. Như thế,
những cuộc tiếp xúc Pháp Nhật đầu tiên đều thông qua hoạt động của
đạo Ki-Tô nhưng những sự kiện đó chỉ được chép trong tư liệu ngoại
quốc chứ về phía Nhật th́ không thấy ǵ cả.
Sau đó, lúc Nhật Bản bước vào thời đại bế quan tỏa cảng (sakoku),
Hà Lan là nước Âu châu duy nhất được giao thương với họ nhưng khá
hạn chế. Sách vở Hà Lan được đem vào nhưng sách tiếng Pháp chỉ có
lưa thưa và hơn nữa, chúng đều là loại sách vở có giá trị thực
dụng cao như Cinq livres de la Chiurgie (Ngoại khoa học khái luận)
của Ambroise Paré hay Le Dictionnaire Universel (Bách khoa từ
điển) của Noel Chomel. Đến thế kỷ 18 th́ người Pháp cũng lần hồi
biết đến nước Nhật thông qua tri thức Hà Lan và bắt đầu chú ư đến
đảo quốc xa xôi này.
Qua thế kỷ 19, thái độ của Nhật Bản đối với quốc tế có thay đổi ít
nhiều. Người Nhật bắt đầu học tiếng Pháp. Dưới sự chỉ đạo của
Thương quán trưởng Hà Lan ở Nagasaki là Hendrix Doeff, nhóm các
ông thông ngôn Motoki Masashige đă thử soạn ra cuốn “Phất Lang
Sát
Từ Phạm” tức sách bàn về ngữ pháp tiếng Pháp. Một người khác không
ở trong nhóm đó là Murakami Hidetoshi, tuy chỉ tự học, đă viết
được quyển Sango Binran (Tam Ngữ Tiện Lăm) đối chiếu ngữ vựng 3
thứ tiếng Pháp, Anh và Nhật (theo cách nói của người Nhật phải là
Phật, Anh, Ḥa, NNT).
Cũng vào thời đó, nhà thơ Hán thi Rai San.yô (1780-1832) đă có
những bài thơ ca ngợi Hoàng đế Napoléon, chứng tỏ uy danh của
Napoléon đă chấn động cả đến Nhật Bản và đáng để ư hơn nữa là nó
xuất hiện trong những bài thơ làm bằng chữ Hán. Đó là những tác
phẩm văn chương đầu tiên của Nhật có nhắc đến nước Pháp.
Chẳng bao lâu sau (7/1853), hạm đội của Đề đốc Matthew Perry lại
đến đ̣i thông thương và Nhật đă phải kư kết những điều ước ḥa
hiếu, cho phép Mỹ và sau đó là các nước Âu châu, trong đó có Pháp,
đến buôn bán. Năm 1867 (Keiô thứ 3), vào dịp Hội Chợ Triển Lăm
(Đấu Xảo) ở Paris, công tử Tokugawa Akitake đă đại diện anh ḿnh
là Shôgun Yoshinobu đến dự và nhân dịp đó, đặt nền tảng ngoại giao
giữa hai nước. Hội Chợ này là một cơ hội để cho người Âu Châu t́m
hiểu nhiều hơn về mỹ thuật và văn hóa Nhật Bản. Trong gian hàng
Nhật có một trà thất thu nhỏ với sự hiện diện của các nàng geisha.
Nhân dịp này, văn nhân Pháp như anh em Goncourt và nhà thơ Prosper
Mérimée đă có cơ hội bày tỏ sự mến mộ nước Nhật trong các áng văn
thơ của họ. Anh em Goncourt có ấn tượng tốt về tranh Ukiyo-e, đặc
biệt tác phẩm của Katsushika Hokusai, Kitagawa Utamaro... trong
khi nhà thơ Mérimée lại chú ư đến giải thắt lưng obi của các
geisha giống như một “cái bướu”sau lưng như cách ông mô tả.
Khi chính quyền Tokugawa tan ră và nhà nước Meiji được dựng lên,
mối liên hệ Pháp - Nhật có một chuyển biến tế nhị. Trước kia, Mạc
Phủ và Pháp ăn ư với nhau, Pháp đă gửi cố vấn quân sự đến Nhật,
giúp Mạc phủ xây dựng xưởng chế thép ở Yokosuka và trường dạy
tiếng Pháp ở Yokohama. Khi công tử Tokugawa Akitake đến Paris dự
Hội Chợ Quốc Tế, ông cũng muốn thừa dịp đó cầu viện người Pháp về
mặt kinh tế để chiến thắng trong việc đối kháng với các lực lượng
cần vương như phiên Satsuma vốn được sự trợ lực của người Anh.
Trên thực chất, lúc đó Mạc phủ nắm chủ quyền ở Nhật nên hai bên
chính quyền đă lên khung nhiều kế hoạch hợp tác. Nào ngờ Mạc phủ
đại bại, nhà nước Minh Trị được dựng lên và mọi sự đều phải thay
đổi.
May mắn cho Pháp lúc đó là tân chính quyền Nhật Bản vẫn muốn tiếp
tục phát triển nhà máy thép Yokosuka và dựng thêm nhà máy tơ sợi
Tomioka nên cần đến chuyên viên kỹ thuật của họ. Người Nhật khi ấy
tính chuyện làm ăn lâu dài với Pháp để du nhập các kỹ thuật ưu tú
của phương Tây. Việc Franccois Covanier đổi mới cách khai thác mỏ
quặng, Henri Bregrand (phiên âm) tham gia xây dựng hệ thống đèn
khí đốt cho thành phố Yokohama...là những ví dụ cụ thể của cuộc
hợp tác mới mẻ này.
Thế nhưng một nhu cầu cấp thiết khác của nhà nước “thực sản hưng
quốc” Nhật Bản lúc đó là một hệ thống pháp luật có tính cận đại
cũng như các định chế văn hóa Tây phương, trong đó có việc giới
thiệu văn học. Đồng thời, t́nh h́nh của thập niên 1870 thời Minh
Trị đă cho phép họ có thể bước từ việc giới thiệu sách vở có tính
thực dụng sang việc giới thiệu các tác phẩm văn học. Chẳng phải
đợi lâu, việc phiên dịch văn học từ ngôn ngữ Tây phương đă được
xúc tiến ồ ạt.
Ở thời điểm 1879 (Meiji 11) việc Oda Jun.ichirô xuất bản Karyuu
Shunwa (Hoa Liễu Xuân Thoại), bản dịch những chuyện lạ ở Âu châu
(Âu châu kỳ sự), được coi là cột mốc đáng ghi nhớ trong văn học sử
Nhật Bản bởi v́ cùng năm ấy đă có Le Tour du monde en
quatre-vingts jours của Jules Verne được Kawashima Tadanosuke dịch
thành Hachijuu nikkan sekai isshuu (Bát thập nhật gian thế giới
nhất chu). Đây có thể nói là bản dịch một tác phẩm văn học Pháp
đầu tiên sang tiếng Nhật.
Lúc ấy cũng là thời kỳ mà Saionji Kinmochi (1849-1940) một nhà quí
tộc có du học ở Pháp – với sự hợp tác của bà Judith Gauthier – đă
xuất bản Seirei-shuu Tinh Linh Tập (Poèmes de la libellule,1885)
tại Paris. Ông đă tuyển chọn thơ waka trong Kokin waka-shuu (Cổ
Kim Ḥa Ca Tập, 905? 914?) cũng như từ những tập khác để dịch ra
tiếng Pháp và sau đó bà Gauthier chuyển ra thể thơ. Có thể xem -
trong một chiều ngược lại – tập thơ này là tác phẩm văn học Nhật
Bản đầu tiên được chuyển ngữ sang Pháp văn.

Yano Ryuukei t́m cảm hứng từ tác phẩm của Jules Verne
Quyển sách của chúng tôi (Tomita Hitoshi) bàn về ảnh hưởng của tác
phẩm dịch thuật từ tiếng Pháp đến các tác phẩm do người Nhật sáng
tác. Chẳng hạn chúng tôi sẽ t́m hiểu bản dịch “Bát thập gian thế
giới nhất chu” của Kawashima (dịch Jules Verne) về sau đă ảnh
hưởng đến Ukishiro Monogatari (Phù thành vật ngữ, Truyện cái thành
nổi) của Yano Ryuukei như thế nào, “Hai vạn dặm dưới đáy biển”
(Vingt mille lieues sous les mers) cũng của Jules Verne đă liên hệ
đến Kaitei Gunkan (Hải để quân hạm, Chiến hạm dưới đáy biển), sáng
tác của Oshikawa Shunrô (1876-1914), đến mức độ nào. Cùng lúc,
chúng tôi sẽ khảo sát liên hệ giữa tác phẩm của Jean-Jacques
Rousseau với tư tưởng của Nakae Chômin và Shimazaki Tôson, ảnh
hưởng của Emile Zola đến Ozaki Kôyô, của Alphonse Daudet đến
Tokuda Shuusei, của Guy de Maupassant đến Sanyutei Enchô, của
Prosper Mérimée đến bộ ba Mori Ôgai, Izumi Kyôka và Akutagawa
Ryuunosuke. Chúng tôi sẽ b́nh luận cái nh́n về người Nhật, nhất là
về phụ nữ Nhật của nhà văn Pháp Piere Loti qua các nhật kư hành
tŕnh hải dương và tác phẩm khác của ông. Một trong những mục tiêu
khảo sát khác là các sáng tác của Fortuné du Boisgobey, của hai
cha con Alexandre Dumas và Victor Hugo. Chúng tôi muốn xem những
cuốn tiểu thuyết này đă đóng vai tṛ thế nào trong sự nghiệp của
các dịch giả Nhật Bản như Morita Shikan, Kuroiwa Reikô, Nagata
Shuutô khi họ đưa chúng đến với đông đảo độc giả tiếng Nhật. Ngoài
tiểu thuyết, chúng tôi sẽ không quên bàn về hai lănh vực kịch nghệ
và thi ca để giúp bạn đọc có một cái nh́n toàn thể về ảnh hưởng
của văn học cận đại Pháp đối với văn học Nhật.
Văn học Pháp và thời Minh Trị
Một
Việc dịch thuật văn học Tây phương đă bắt đầu có từ cuối thời
Ashikaga (tức Muromachi, 1392-1573) với những tác phẩm liên quan
đến Ki-Tô Giáo lúc đó mới được truyền vào. Nếu nói về tác phẩm có
tính văn học, phải kể đến Aesopos Fabulas (Truyện ngụ ngôn Aesop)
với nhan đề Isoppu Monogatari (“Y Tăng Bảo Vật Ngữ). Y Tăng Bảo
chẳng qua là phiên âm của Aesop theo âm Hán Ḥa.
Đến đời Edo th́ việc dịch đă bắt đầu với cuốn Kaitai Shinsho (Giải
Thể Tân Thư),
bởi v́ việc phiên dịch các tác phẩm thực dụng như y học, quân sự,
công nghệ rất thịnh hành. Lúc ấy, tác phẩm dịch về văn học hăy c̣n
rất hiếm. Cùng lắm là cuốn sử thi Odyssey của Homeros dưới cái tên
“Bách Hợp Nhược đại thần vật ngữ” ra đời vào cuối thời Ashikaga.
Nội dung của nó đă được đưa vào các h́nh thức như truyện giải
buồn, ca từ các vũ khúc gọi là Kôwakamai, bản tuồng sân khấu người
nộm Jôruri, các h́nh thức tiểu thuyết thông tục đương thời như
Hachimonjiya-bon, Tokuhon, Kusazôshi. Nhà văn Tsubouchi Shôyô
trong số báo Waseda Bungaku tháng 1 năm Meiji 39 (1906) đă có một
bài viết về nguồn gốc của bản “Bách Hợp Nhược đại thần vật ngữ” mà
theo ông “Bách Hợp Nhược đại thần” kia chẳng qua là chàng Ulysses
(Yurishi-zu) trong tác phẩm của Homeros c̣n tác phẩm là một phóng
tác (hon.an) thô sơ của truyện gốc.
Về văn dịch nói chung th́ ngoài cuốn “Công nghiệp của các thánh
tông đồ (santos)” ra đời năm 1550 (Tenbun 19), c̣n có “Truyện ngụ
ngôn của Aesop” ấn bản Amakusa
(1593). Để lôi cuốn độc giả, những người xuất bản c̣n dịch thêm
một bộ phận “Truyện Heike” (v́ rất lư thú, NNT) của Nhật Bản và in
chung với nó. Trong phần giới thiệu, họ c̣n nói rơ rằng đây là bản
phiên dịch từ tiếng La Tinh một quyển sách của tác giả cổ Hy Lạp.
Từ Hán “phiên dịch” (hon.yaku) như thế đă được người Nhật sử dụng
kể từ thời ấy.
Sau người “Nam Man” (tức Tây và Bồ), đến lượt người Hà Lan đến
Nhật. Hà Lan là một quốc gia phương Tây duy nhất được họ đón nhận
giữa thời phong tỏa các cửa biển ( tỏa quốc = sakoku). Dĩ nhiên
dịch thuật được dùng vào việc giới thiệu các sách vở thực dụng (y
học, binh học (quân sự), thiên văn học, số học, vật lư, hóa học
thế nhưng trong quyển sách nhan đề “Hậu Mộng Lược Kư” (1823),
Nakajima Kôku đă thu thập và giữ lại được một số bản dịch Nhật ngữ
các bài thơ tiếng Đức do một nhà thơ tên Mathias Claudius viết ra
vào năm 1770.
Đến cuối đời Edo th́ có được 2 bản dịch Robinson Crusoe (Robinson
Crusoe phiêu lưu kư) của Daniel Defoe. Bản đầu ra đời vào năm
1851, hai năm trước khi hạm đội Perry đến Nhật, với nhan đề là
“Phiêu lưu kư sự”, do một người sống bằng nghề dịch thuật là
Kuroda Kikuro dịch (nhưng ông này tưởng lầm sách là thiên tự
truyện của một nhân vật có thực tên là Robinson Crusoe). Bản thứ
hai được phát hành vào năm Ansei thứ 4 (1857) là công tŕnh dịch
thuật của Yokoyama Yusei, với nhan đề “Lỗ Mẫn Tốn
du hành kư lược”. Về nội dung, tuy ngắn hơn bản dịch của Kuroda
nhưng bản dịch này ít lầm lẫn (Yokoyama biết nó là tiểu thuyết chứ
không nhầm lẫn như Kuroda) và được làng văn giới thiệu với độc giả
một cách trang trọng hơn ông kia nhiều.
Thời Edo c̣n có những tác phẩm khác “Dương Nha Nhi kỳ ngục” và
“Ḥa Lan mỹ chính lục” của Kanda Kôhei là tiểu thuyết tiếng Hà Lan
(không rơ nguyên tác) được dịch ra. Đến năm Meiji thứ 10 (1877)
khi cuộc nội loạn ở vùng Tây Nam (với vị đại thần bất măn Saigô
Takamori) đă được b́nh định, cuộc sống dễ thở ra và văn hóa mở
mang hơn th́ hoạt động phiên dịch văn học cũng trở nên phát đạt.
Hai
Năm Meiji 11 (1878), quyển “Tám mươi ngày ṿng quanh thế giới” (Le
Tour du monde en quatre-vingts jours) của Jules Verne là quyển
tiểu thuyết Pháp đầu tiên được dịch từ nguyên tác (tuy có chỗ dịch
giả đă phải tham khảo bản dịch sang tiếng Anh nhan đề Around the
world in 80 days ra đời trước đó). Người dịch nó sang tiếng Nhật
là Kawashima Tadanosuke. Đây là một việc làm rất có ư nghĩa v́ nó
đánh dấu một bước ngoặt trong ngành dịch thuật bản xứ. Tuy các tác
phẩm của Jules Verne phản ánh chủ nghĩa thực dân của những quốc
gia tân hưng nhưng chúng là những quyển sách quan trọng dưới nhăn
quan của người Nhật và đă được họ dịch rất nhiều vào thời ấy. Ví
dụ De la terre à la lune (Gessekai ryokô, Cuộc du hành trên cung
trăng) do Inoue Tsutomu dịch (Meiji 13), Vingt mille lieues sous
les mers (Hai vạn dặm dưới đáy bể) do Suzuki Umetarô (Meiji 13),
Le Géant d’acier (Thế giới thép) do Morita Shikan (Meiji 20) nhưng
những quyển này đều được dịch từ bản dịch tiếng Anh chứ không phải
từ nguyên tác tiếng Pháp.
Cũng vào năm Meiji 11 tuy có thông tin là Nagasawa Masayoshi đă
dịch “Truyện kể Fénelon” tức Les Aventures de Télémaque nhưng nó
được phát hành hay không khi không ai rơ. Năm sau (Meiji 12) mới
thấy ấn bản “Những cuộc phiêu lưu của Télémaque” và lời chú
là trứ tác của Phật quốc đạo sĩ (Tu sĩ người Pháp) Bế Nhĩ Luận
(Fénelon) nhan đề “Âu châu tiểu thuyết Triết Liệt phúc họa
đàm”. Dịch giả của nó là Miyajiima Haruki, một người thông thạo cả
tiếng Anh lẫn tiếng Pháp. Cách dịch của ông là kiểu dịch bám sát
chữ (trục tự, trục ngữ dịch) nhưng đă biết nhuận sắc thành câu
7/5/5/7 như thơ (hay văn biền ngẫu, NNT) của Nhật. Tuy mục đích là
rao giảng tư tưởng chính trị nhưng dịch giả cũng không coi thường
tính cách mua vui của nội dung.
Ư hướng dịch để chuyển tải nội dung chính trị đă thấy trong các
dịch phẩm liên quan đến cuộc cách mạng Pháp 1789 như loại tiểu
thuyết lịch sử của Alexandre Dumas Père. Miyazaki Muryuu dịch
“Khúc ca chiến thắng của tự do” (Meiji 15), “Bách Hoa Viên chủ
nhân”(Meiji 15), “Tây Dương huyết triều tiểu bạo phong” (Meiji
15). Quyển thứ nhất dịch ư phân nửa đầu của một tác phẩm nhắc đến
việc phá nhà ngục Bastille, quyển thứ hai sao dịch “Hồi kư một
người thầy thuốc”. Điều cần chú ư là trong khi dịch, ông đă mạnh
tay biến các tác phẩm ấy thành công cụ vận động dân quyền bằng
cách gửi gắm tư tưởng của ḿnh vào đó qua những lời lẽ hùng hồn
đanh thép. Đó là đặc trưng của tác phong dịch thuật kiểu cổ động
đương thời. Dù sao, vào năm Meiji 16 (1883),với bản dịch “Những
cuộc phiêu lưu của Télémaque” (Fénelon) nhan đề “Thiết
liệt kỳ đàm”, một dịch giả khác là Izawa Shinsaburô đă tỏ ra
phản tỉnh trước khuynh hướng dịch như văn cổ động đó và chủ trương
rằng, trong khi phiên dịch, việc trung thành với nguyên tác là một
điều quan trọng.
Cùng năm ấy, tác phẩm L’Esthétique (Mỹ học) của Eugène Véron đă
được dịch ra thành “Duy thị Mỹ học” (Mỹ học của ông Eugène) và
được Bộ Giáo Dục chọn in. Người dịch nó là Nakae Tokusuke (tên
cúng cơm của Chômin) và Nomura Taikô. Nhân v́ Véron bàn về Mỹ học
và dẫn chứng bằng văn học Pháp nên khi đọc nó, người muốn học Mỹ
học lại tự động có thêm kiến thức về văn học Pháp. Cùng lúc, việc
dịch thuật lại có cái đẹp của nó v́ đă đóng góp cho cuộc vận động
khai sáng (khải mông chủ nghĩa mỹ học). Bản dịch Mỹ học này đă
được Bộ Giáo Dục Nhật chọn đăng trong Hiện đại khoa học tùng thư
và nằm trong bộ phận “thực chứng mỹ học” đối kháng với phần “quan
niệm luận mỹ học” có tính cách hàn lâm. H́nh như dịch giả Chômin -
một nhà vận động dân quyền – trong thời gian sống ở Pháp, đă quen
biết Véron, một học giả và nhà báo theo khuynh hướng chủ nghĩa tự
do và chủ nghĩa khoa học.
Sự bột phát của phong trào vận động dân quyền thời Meiji đă đẻ ra
loại tiểu thuyết gọi là “tiểu thuyết chính trị”. Khuynh hướng này
cũng phản ánh trong việc chọn lựa sách để dịch. Năm Meiji 17, tờ
Jiyuu Shimbun (Tự Do Tân Văn) đă đăng tải liên tục Shura no
Chimata (Lối rẽ địa ngục) của Sakazaki Shiran dịch
Quatre-vingt-treize (Năm 93) của Victor Hugo, tác phẩm nói về cuộc
Cách mạng Pháp. Quyển sau cũng là một trong số những cuốn tiểu
thuyết chính trị đă được Itagaki Taisuke
đem về sau một chuyến xuất dương sang Pháp. Đây là cuốn sách dịch
đầu tiên giới thiệu Victor Hugo. Về mặt h́nh thức th́ nó đă được
dịch theo lối trực (ngữ) dịch (chikugoyaku) tuy cũng có chút tu
sức nhưng không phải là lối dịch phóng túng chỉ giữ lấy đại ư và
bỏ qua tiểu tiết (gọi là gôketsuyaku = hào kiệt dịch) đang phổ
biến vào tḥi đó. So với Senketsu no hana (Hoa bằng máu tươi) mà
Sakazaki dịch từ “Hồi kư một người thầy thuốc” của Dumas được phát
hành cùng năm th́ bản dịch (Bách Hoa Viên chủ nhân) của Miyazaki
Muryuu rơ ràng có màu sắc chính trị v́ nhấn mạnh đến thảm trạng do
bạo lực cách mạng gây ra. V́ lư do đó, bản dịch của Miyazaki Muyuu
có thể coi như là một sáng tác chứ không phải dịch phẩm. Nó không
chỉ lấy đại ư mà c̣n là cải biên (cải biến bổ bút), hầu như sửa
đổi và giải thích cả nguyên tác một cách sỗ sàng.
Trong năm Meiji 17 (1884) này c̣n có một sự kiện đáng chú ư khác
là việc xuất bản tác phẩm dịch thuật của Inoue Tsutomu
(1850-1928). Đó là các bản dịch tác phẩm của Jules Verne như Jiyuu
no Soya (Mũi tên của tự do) và Kaitei Kikô (Chuyến du hành dưới
đáy bể). (Quyển đầu có thể xem như tiểu thuyết chính trị). Đồng
thời cũng có cuốn tiểu thuyết t́nh cảm La Dame aux camélias (Trà
Hoa Nữ, 1848) của Alexandre Dumas Fils nhan đề Tsubaki no Omokage
(Bóng hoa trà) do một kư giả bút hiệu Sôjuuko Shujin trực dịch từ
nguyên tác và đă ra mắt trên nhật báo Kanyuu Nippô. Chỉ tiếc là
truyện chỉ được đăng nửa chừng rồi bị bỏ ngang. Dịch giả đă viết
trong bài tựa là cuốn sách này “có mục đích khuyến thiện trừng ác,
khuyên răn lớp người trẻ về đường sắc dục”. Năm sau thời đă có
thêm Tasogare Nikki (Nhật kư lúc về chiều), một tác phẩm cũng liên
quan đến La Dame aux camélias.
Năm Meiji 18 (1885), một tác giả vô danh đă dịch
Quatre-vingt-treize của Dumas thành Shimoyo no tsuki (Sương dạ
nguyệt, Trăng đêm sương) dưới dạng tiểu thuyết chính trị. Như đă
nói sơ qua ở trên, La Dame aux camélias đă được Tenkô Dôjin và
Shôshô Koji phóng tác (hon.an) sang tiếng Nhật dưới nhan đề
Tasogare Nikki (Nhật kư lúc về chiều). Mặt khác, hai ông Futaaitei
Kajitsu và Tantantei Josui đă hiệp lực phóng tác “Bảy đại tội”
(Les sept péchés capitaux) của Eugène Sue
thành Hito nanakuse (Bảy tật xấu của người đời). Tuy bảy thứ tật
xấu đó là keo kiệt, ngạo mạn, ganh tỵ, tham lam, biếng nhác và cáu
giận nhưng bản ư của Sue là muốn viết một tiểu thuyết xă hội (và
đă đi trước Hugo trong thể loại này) chứ không phải tiểu thuyết
giáo dục như các dịch giả muốn tŕnh bày. Dù sao, họ chỉ dịch xong
phần nói về tính keo kiệt mà thôi.
Năm Meiji 19 (1886), văn học phiên dịch tăng nhanh cấp kỳ, một
phần nhờ ở ư thức thời đại và những cuộc vận động văn học cũng như
ảnh hưởng của phong trào Âu hóa đang đến hồi toàn thịnh. Mặt
khác, nhờ hướng ra thế giới, Nhật Bản đă có thêm cơ hội tiếp xúc
với văn học nước ngoài. Chẳng hạn phong trào Âu hóa thúc đẩy phụ
nữ góp mặt vào giới xă giao đă tạo nguồn cảm hứng cho Tsubouchi
Shôyô - dưới bút hiệu Harunoya Oboro - dịch truyện kư về một
Madame Laurent sống vào thời Cách mệnh Pháp thành “Thái tây nữ
trượng phu Lăng Lan
phu nhân truyện”. Thế nhưng vào thời điểm này, ngoài tác phẩm
tiếng Pháp c̣n thấy có khuynh hướng dịch tác phẩm tiếng Đức nữa.
Đến năm Meiji 20 (1887) phong trào phiên dịch văn học càng thịnh.
Về sách Pháp th́ có quyển “Danh sĩ tao nạn / Chính giới chi bạo
phong” do Inoue Tsutomu dịch từ “Truyện một tội ác” (Histoire d’un
crime), sáng tác của Victor Hugo kể lại t́nh tiết cuộc đảo chánh
đă đưa Napoléon III lên ngôi hoàng đế vào năm 1851. Ngoài ra c̣n
có “Phật Mạn Nhị học sĩ chi đàm” (Truyện của học sĩ Pháp tên Mạn
Nhị) do Morita Shikan dịch từ Les Cinq cents millions de la Bégum
của Verne. Morita Shikan c̣n có nhiều tác phẩm khác nữa như “Đốc
sứ giả” dịch Thám tử Hubert (Hubert) của Hugo (Meiji 22), Kuraudo
(Claude Gueux, Meiji 23), “Đại phản khôi” (Thủ lănh phản loạn) của
Verne (Meiji 23), “Hoài cựu” từ Hugo (Meiji 25), “Thập ngũ thiếu
niên” (từ Deux ans en vacances) của Verne (Meiji 29), “Sáu tiếng
đồng hồ trước giờ tử h́nh” (Le dernier jour d’un condamné) của
Hugo (Meiji 29). Chúng là những tác phẩm có sắc thái khác nhau và
đă đem lại cho Shikan cái danh tiếng ông vua dịch thuật. Tuy không
dịch thẳng từ nguyên tác mà phải thông qua bản dịch tiếng Anh
(trùng dịch) nhưng ông đă dịch kỹ lưỡng, tôn trọng đến cả chi
tiết. Với những cống hiến đó, Shikan có thể được coi như người đă
đánh dấu một thời đại trong lịch sử văn học dịch Nhật Bản.
Nhân bàn về giai đoạn này, chúng ta không thể bỏ qua tên tuổi
Kuroiwa Ruikô (1862-1920), người đă ra công dịch nhiều tác phẩm
của (Fortuné de) Boisgobey. Chỉ riêng với Boisgobey thôi, ông đă
dịch “Phạm tội dưới đáy biển” (Meiji 22, 1889), “Chiếc nhẫn”
(Meiji 22), “Phạm tội trong kịch trường” (Meiji 22), Chàng tuổi
trẻ xinh trai” (Meiji 23), “Bàn tay người đẹp” (Meiji 23), Kẻ giả
mạo (Meiji 23), “Quyết tâm” (Meiji 23), “Địa ngục sống” (Meiji
23), “Kết quả một cuộc quyết đấu” (Meiji 24), “Mặt nạ sắt” (Meiji
26) vv...nghĩa là xấp xỉ một chục cuốn.
Kết cuộc, Nhật Bản, như một quốc gia trên đường phát triển để trở
thành nhà nước cận đại, đă được đánh thức bởi tư tưởng “khoa học
vạn năng” của Jules Verne. Cùng lúc, tuy người Nhật đồng cảm và
hoan nghênh viễn tượng đất nước họ sẽ trở thành một quốc gia tư
bản chủ nghĩa nhưng trên thực tế họ chưa có đủ tri thức và tư
tưởng khoa học xứng tầm tinh thần mà các tiểu thuyết khoa học đă
hun đúc cho. Hơn thế, trong thập niên đầu tiên của thời Minh Trị
(1868-78), các tác phẩm phiên dịch phần lớn đều nhắm việc cổ xúy
cho tư tưởng tự do dân quyền nghĩa là đậm đà màu màu sắc chính trị
mà mục đích chính là vận động cho việc thành lập một cơ quan lập
pháp (Quốc hội).
Bước qua thập niên thứ hai (1878-88), màu sắc khai sáng (khải
mông, keimô) trong văn học đă trở thành nḥa nhạt, khuynh hướng
“văn học phải được tiếp thu như văn học” càng ngày càng bộc lộ rơ
nét. Ta thấy được xu thế đó qua việc giới thiệu những tác phẩm văn
học Pháp như “Trà Hoa Nữ” (La Dame aux camélias) của Alexandre
Dumas Fils và “Những người cùng khổ” (Les Misérables) của Victor
Hugo. Nhờ đó mà kiến thức về văn học Pháp, trong một chừng mực nào
đó đă được phổ biến trong giới độc giả.
Văn học Pháp c̣n được giới thiệu qua những bài viết trong các tạp
chí chuyên văn đương thời như Kokumin no Tomo (Quốc dân chi hữu),
Teikoku Bungaku (Đế quốc văn học),, Waseda Bungaku (Waseda văn
học), Nihon Hyôron (Nhật Bản b́nh luận) ...dưới những nhan đề như
“Bảy ngôi sao sáng của văn học Pháp”, “ Các trào lưu của văn học
Pháp”, “Nghiên cứu văn học Pháp”. Trong các tạp chí chuyên môn về
văn học Pháp như Shirayuri (Hoa huệ, Meiji 29) và Shinobugusa (Cỏ
nhớ nhung, Meiji 31) đều đăng nhiều bài nghiên cứu trong lănh vực
này. Ngoài ra c̣n phải kể đến cuốn Futsu Bungakushi (Độc Phật Văn
Học Sử) (Meiji 25) của Shibue Tamotsu giới thiệu những bước tiến
của văn học của hai nước Đức (Độc) và Pháp (Phật). Có lẽ đây là
cuốn văn học sử đầu tiên về nước Pháp viết bằng tiếng Nhật.
Ba
Cơn sốt dịch Jules Verne đă tạo cơ hội để những tác phẩm như của
Yano Ryuukei (Truyện cái thành nổi,
Meiji 23), Oshikawa Shunrô (Chiến hạm dưới đáy bể, Meiji 33) có
dịp ra đời. Verne đă tạo ra một thế giới mộng tưởng lồng khung
trong bầu trời, mặt bể và những chuyến đi, gián tiếp hô hào dân
chúng đồng thời đáp ứng tinh thần quốc gia chủ nghĩa trong đầu
những nhà văn đầu đời Minh Trị vốn chịu ảnh hưởng hoàn cảnh chính
trị xă hội thời ấy.
Mặt khác, trong khi tác phẩm của Verne có công dụng kích thích để
các dịch giả loại tiểu thuyết có tính mạo hiểm và tưởng tượng đua
nhau xuất bản th́ những bản dịch Les Misérables, Notre Dame de
Paris...của Victor Hugo, Deux Merles de M. Saint Mars (Mặt nạ sắt
trong tiếng Nhật) của Fortuné de Boisgobey, Le Comte de
Monte-Christo của Dumas Père, La Dame aux camélias của Dumas Fils
đă làm say mê quần chúng độc giả. Những cuốn tiểu thuyết này về
sau c̣n đóng một vai tṛ quan trọng trong việc phát triển bộ môn
văn học đại chúng dưới thời Taishô (1912-26). Trong phong trào
tranh đấu đ̣i dân quyền, Contrat Social (Xă hội khế ước luận) của
Jean-Jacques Rousseau đă được Nakae Chômin giới thiệu cho đồng bào
ḿnh qua dịch phẩm Minyaku Yakukai (Dân Ước Dịch Giải) (Meiji 15,
1882). Đây là cơ hội đầu tiên để họ biết về J.J. Rousseau như một
nhà tư tưởng chính trị xă hội. Đến khi Shimazaki Tôson viết cuốn
Hakai (Phá giới = Giải cấm) th́ J.J Rousseau lại được biết thêm
dưới bộ mặt khác là tác giả văn chương của Confessions (Tự bạch).

Nakae Chômin đă dịch Contrat Social của J-J Rousseau
Thế nhưng phải nói là trong số những cây bút người Pháp đă để lại
ảnh hưởng đáng kể trên văn học Nhật Bản, không ai qua khỏi các nhà
văn chủ nghĩa hiện thực (realism), chủ nghĩa tự nhiên (naturalism)
người Pháp như Emile Zola, Alphonse Daudet và Guy de Maupassant.
Tên tuổi của Emile Zola được giới thiệu rất sớm bởi Nakae Chômin
trong dịch phẩm “Duy thị Mỹ học” (Meiji 16) nhưng độc giả chỉ biết
một cách cụ thể về ông vào thập niên thứ hai của thời Meiji
(1878-88) nhờ ảnh hưởng ông để lại trong các tác phẩm của Ozaki
Kôyô. Các tiểu phẩm như Koi no yamagatsu (Kẻ săn lùng t́nh yêu),
Ukizôsu (Ông từ lưu lạc) đă lấy cảm hứng từ “Lỗi lầm của tu viện
trưởng Mouret” (La Faute de l’Abbé Mouret), trong khi ấy, Tonari
no onna (Cô hàng xóm), Mukitamago (Quả trứng bóc vỏ) cũng đều
phóng tác theo các tiểu thuyết khác của Zola. C̣n như nhà văn
Yamada Bimyô, người cùng Kôyô đứng trong hàng ngũ của văn đoàn
Ken. yuusha (Nghiễn hữu xă = Bạn bút nghiên) th́ h́nh ảnh của nhân
vật chính trong Ichigo-hime (Tiểu thư quả dâu, Meiji 22) làm cho
ta nhớ được ngay đến nàng Nana trong tiểu thuyết cùng tên (1880)
của nhà văn Pháp ra đời trước đó không lâu.
Đến thập niên thứ 3 của thời Meiji (1888-1898) việc phiên dịch và
giới thiệu tác phẩm của Zola càng ngày càng gia tăng. Ta có thể
thấy h́nh bóng của một chủ nghĩa Zola (Zolaism) rơ nét trong tác
phẩm của các nhà văn như Kosugi Tengai hay Nagai Kafuu.

Kosugi Tengai từng gắn bó lâu năm với phong cách Emile Zola
Trong bài tựa của tác phẩm Hebiichigo (Quả dâu dại, Meiji 32),
Tengai đă cho biết khi đọc văn Zola, ông rất ngạc nhiên v́ bút lực
của nhà văn trong khi miêu tả sự vật. “Nó đă làm cho những mẫu mực
lư tưởng (về cách hành văn) tôi nuôi dưỡng trong đầu sụp đổ cả.
Tôi cảm thấy như có một cuộc cách mạng đang dấy lên bên trong”.
Trong lời dẫn nhập cho Hatsusugata (Bộ quần áo đầu năm, Meji 33),
Tengai lại chủ trương phải giữ một thái độ khách quan và một lối
viết tả thực.
Hatsusugata của Tengai chịu ảnh hưởng của Zola trong Nana đên nổi
nhân vật nữ trong đó, O-Toshi, khi nói lời mào đầu trước khi thử
diễn điệu hát cổ điển Kiyomotobushi đă bắt chước cảnh Nana xuất
hiện trên sân khấu nhà hát. Xưa kia O-Toshi từng được bao nhiêu
nhân viên ngân hàng, kư giả, tay cho vay lấy lăi bao lấy chung
quanh vv...Nay nàng đă rơi xuống hàng gái làng chơi nhưng vẫn tiếp
tục ôm ấp trong ḷng mối t́nh trong trắng đối với người bạn đẹp
trai quen nhau từ thời thơ ấu. Rơ ràng Tengai đă mượn chi tiết này
từ Nana của Zola. Khi muốn nhấn mạnh đến ảnh hưởng mạnh mẽ của
hoàn cảnh lên trên vận mạng con người, Tengai đă chứng tỏ rằng ông
đă học lối dàn dựng câu truyện theo phong cách Zola. Có điều là
Tengai đă không miêu tả O-Toshi với h́nh tượng của một Nana phóng
túng, táo bạo. Nhân vật của ông chỉ là một phụ nữ thụ động và
tiêu cực.
Hatsusugata được Tengai phối hợp với 2 tác phẩm đến sau của ông là
Koi to koi (T́nh yêu và t́nh yêu, Meiji 33) và Nise-murasaki (Hoa
tím giả, Meiji 37) để trở thành một chuỗi tác phẩm nói về cùng một
nhân vật. Đây cũng là một sự mô phỏng Zola (như bộ sách nói về mỗi
gia đ́nh họ Rougon Macquart của văn hào Pháp).
Tác phẩm để đời của Tengai có lẽ là Hayari Uta (Khúc hát lưu hành,
Meiji 35). Trong lời tựa ông đă viết đại ư: “Thiên nhiên là thiên
nhiên. Nó không thiện, không ác, không đẹp, không xấu. Chỉ v́
người ta đưa ra một nhân vật, một đất nước, một thời đại nào đó,
bảo đấy là một góc của thiên nhiên rồi tự ư gán cho nó cái tính
chất thiện ác xấu đẹp mà thôi. Cho nên khi đọc tác phẩm của nhà
văn, nếu độc giả cảm được một cách rơ ràng những ǵ thiên nhiên
bộc lộ ra là đă quá đủ”.
Vẫn biết nhà văn phải tŕnh bày một cơi tự nhiên như nó là và bỏ
qua một bên các khái niệm đẹp, xấu, đúng, sai nhưng vấn đề quan
trọng là cơi tự nhiên mà nhà văn ấy tŕnh bày có là một cơi tự
nhiên chân thực hay không. Tengai đă cho ta thấy rằng sự hiểu biết
của ông về Zolaism chưa được đầy đủ khi ông chỉ mô phỏng một phần
nào quan điểm của Zola như việc đem quan điểm của nhà văn người
Pháp về sự quan trọng của di truyền và hoàn cảnh đến tâm lư nhân
vật đặt vào tác phẩm Hayariuta nói trên hay vào truyện dài nhan đề
Kobushi (Nắm tay / Hoa tân di ?, Meiji 39). Trong phần đầu, cách
mô tả gia thế của nhân vật chính – Shinjô Masao –phảng phất lối
tŕnh bày về gia đ́nh Rougon Macquart trong tiểu thuyết của Zola.
Những hành động kỳ lạ của nhân vật Masao được Tengai giải thích là
bắt nguồn từ một người mẹ có máu dâm đăng cũng như từ bản tính
nghiện rượu của anh ta. Chủ trương thiên tính dâm đăng di truyền
từ người mẹ và hoàn cảnh nghiện ngập của cá nhân đă tác hại đến
nhân vật thấy ở đây có lẽ đến từ L’Assommoir (Quán cóc), tên một
cuốn truyện của Zola. Cùng lúc, Chôjaboshi (Ngôi sao nhà giàu,
Meiji 42-43) của ông chắc đă lấy cảm hứng từ L’Argent (Tiền bạc,
1891), c̣n như truyện dài Yami wo iku hito (Người đi trong bóng
tối, Meiji 44) cũng phải bắt nguồn từ La Bête Humaine (Con thú
người, 1890) của văn hào
Pháp.
Thế nhưng trong lúc sử dụng những kiến thức về di truyền và về
hoàn cảnh hăy c̣n hời hợt và thiếu thực chứng của ḿnh để giải
thích hành động dị thường của các nhân vật, Tengai đă gieo rắc sự
ngờ vực trong ḷng độc giả v́ ông tỏ ra thiếu tự nhiên trong khi
triển khai cốt truyện.
Tiếp nối Tengai, phải kể đến một nhà văn quan trọng khác, Nagai
Kafuu. Ông đă có nhiều cống hiến trong việc di thực văn học Pháp
vào văn học Nhật, nhất là đưa vào đó phong cách Duy Zola
(Zolaism). Ông đă sao dịch Nana của Zola thành “Cô đào hát Nana”
(Meiji 36) và phóng tác La Bête Humaine (Con Thú Người) thành
“T́nh yêu và lưỡi kiếm” (Meiji 36) rồi cho đăng nhiều kỳ trên nhật
báo Ôsaka Mainichi. Trước đó (Meiji 35), trong tác phẩm Yashin
(Tham vọng) của Tengai, ta đă thấy ảnh hưởng đến từ Zola qua Au
jardin de bonheur (Khu vườn hạnh phúc (của quí bà), 1883).
Trong Yami no sakebi (Tiếng gào trong đêm tối, Meiji 35), một tác
phẩm đem đến tiếng tăm cho nhà văn, Kafuu cũng mô tả những cái ác
trong xă hội theo phong cách Zola. Trong văn chương Kafuu, người
ta thấy ông thường dùng những chữ yami (bóng tối) hay ankoku (hắc
ám), từ ngữ tương đương đă được Zola thường xuyên trong các cuốn
tiểu thuyết xă hội bằng tiếng Pháp.
Với Jigoku no hana (Hoa Địa Ngục, Meiji 35), Kafuu đă thẳng thắn
đề cập đến lập trường Duy Zola của ḿnh. Ông cho là con người có
một phần thú tính đến từ bản năng động vật và chịu ảnh hưởng của
di truyền nhưng lại thường bị người chung quanh cáo buộc là đă cố
t́nh làm nên những “tội ác đen tối”. Vậy th́ muốn tạo ra h́nh ảnh
một con người lư tưởng, trước hết phải nghiên cứu về cái “đen tối”
(hắc ám) ấy. Phải mô tả không che đậy về những cảnh tượng hắc ám
như qua những hành vi chất chứa dục t́nh, quyền lực và bạo hành.
Tuy vậy, h́nh như Kafuu vẫn chưa thỏa măn về những điều ông viết
v́ ông nhận ra rằng ng̣i bút của ḿnh hăy c̣n bị ràng buộc khi
muốn mô tả những quang cảnh có tính “địa ngục” ấy.
Sonoko, nhân vật chính của tác phẩm Hoa Địa Ngục là hiện thân của
Pauline trong La joie de vivre (Niềm vui cuộc sống, 1884), một
người đàn bà gian dâm và biết dùng nhiều thủ đoạn bất chính để làm
giàu. Thế nhưng cách miêu tả và triển khai cốt truyện của Kafuu
trong đó vẫn có cái ǵ thiếu tự nhiên và giả tạo, điều mà chính
tác giả cũng phải nh́n nhận. Nó chỉ là một cuốn tiểu thuyết mô
phỏng Zola không hơn không kém.
Kafuu c̣n viết Shinnin Chiji (Ông thị trưởng mới bổ nhiệm, Meiji
35), câu chuyện một viên chức v́ chỉ nghĩ đến tham vọng cá nhân đă
trở thành thân bại danh liệt. Như thế, nó đă tŕnh bày một bề mặt
tối tăm của con người. Nhiều cảnh trong truyện này mang máng với
những ǵ Zola từng mô tả trong La Curée (Bữa đánh chén, 1872).
Kafuu đă dùng bối cảnh là những xóm lầu xanh để tŕnh bày những
mảng tối của xă hội Nhật Bản. Yume no Onna (Người đàn bà trong
mộng, Meiji 36) của ông cũng chịu ảnh hưởng của Nana và
L’Assommoir (Quán cóc). Nhân vật chính, O-Nami, là phiên bản Nhật
của nàng Gervaise, trong khi O-Kinu – em gái của O-Tane – mang
h́nh ảnh của một Nana thời thiếu nữ. Truyện mô tả cuộc đời của
người con gái, v́ hoàn cảnh xô đẩy, đă rơi xuống hố sa đọa. Chủ đề
“nửa đời hương phấn” này về sau cũng đước các cây bút trường phái
tự nhiên (naturalism) của Nhật như Tokuda Shusei, Tayama Katai
khai thác. Có thể Kafuu khác với Shuusei hay Katai ở chỗ ông sử
dụng nhiều chất liệu tưởng tượng trong khi hai nhà văn kia thường
dựa lên chất liệu có thực. Nhưng dù sao cũng phải công nhận là ảnh
hưởng của của Zola đối với những tác phẩm thời trẻ của Kafuu rất
quan trọng.

Mori Ôgai đă dịch Alphonse Daudet từ tiếng Đức
Cùng với Emile Zola, một văn hào Pháp khác là Alphonse Daudet đă
thành đối tượng của một cuộc di thực văn học vào đất Nhật.
Hồi Mori Ôgai du học bên Đức, ông đă biết đến Alphonse Daudet qua
các dịch phẩm từ tiếng Pháp sang tiếng Đức nên chi khi hồi hương,
ông bèn dịch từ Đức ngữ và giới thiệu Le Cabecilla (tức Der Pel
prediger tức Sensô), Un teneur de livres (tức Aus der Kanselei des
Todes tức Mikuzu) và L’Empereur Aveugle (tức Môtei no kyoku) cho
đồng bào ḿnh. (Tiếng Việt theo thứ tự : Thủ lĩnh, Người giữ sổ
sách, Hoàng đế mù).
Tokuda Shuusei đă giới thiệu Le Petit Chose (1868) của Daudet bằng
tác phẩm phóng tác nhan đề Kyômanji (Đứa trẻ ngạo mạn, Meiji 35).
Đó là một tác phẩm mà người Nhật rất yêu chuộng v́ thấy nó nói lên
một t́nh cảm gần gũi với t́nh huynh đệ trong thế giới Á Đông.
Tayama Katai đă thử dịch Sapho của Daudet cũng như mô phỏng Trente
ans de Paris (Ba mươi năm của Paris) để viết Tôkyô no sanjuunen
(Ba mươi năm của Tôkyô). Nói về dịch thuật không thôi th́ phải kể
tên Baba Kôchô, người được biết đến như kẻ có công dịch nhiều tác
phẩm của Daudet.
Lắm nhà nghiên cứu đă chú ư đến sự quan tâm không nhỏ của Natsume
Soseki đối với tác phẩm của Daudet, chẳng hạn khi Soseki đọc
Sapho, ông đă đặt bút khen ngợi thiên khiếu thẩm mỹ ( artistic
sense) đặc dị của người Pháp nói chung, và sau đó, đánh giá Daudet
như một văn hào.
Trong cao trào ngưỡng mộ trường phái tự nhiên của Pháp, nhiều tác
giả Nhật Bản đă học tập Guy de Maupasant. Chẳng hạn như Kafuu,
buổi đầu ông chịu ảnh hưởng của Zola nhưng sau đă tiến dần về phía
Maupassant. “Amerika Monogatari” (Truyện bên Mỹ, Meiji 41), tác
phẩm 21 chương ông viết thời du học Hoa Kỳ, đă nhiều lần tỏ ra
chúng có liên hệ với các đoản thiên của văn hào Pháp. Giữa Bokujô
no michi (Đường trong trại chăn nuôi) của ông và Fou (Người điên)
của Maupassant, giữa Yoi Bijin (Người đẹp say rượu) và Les soeurs
Rondoli (Chị em Rondoli) giữa Nagakami (Tóc dài) và La Moustache
(Râu mép), giữa Yoru no Onna (Người con gái về đêm) và Maison
Tellier (Quán Tellier) vốn là những cặp truyện đối xứng. Có cả một
chương nhan đề “Vái tượng Maupassant”. Nó đă nói lên được ḷng cảm
phục sâu sắc của ông đối với nhà văn tiền bối.

Maupassant và Nagai Kafuu, người ngưỡng mộ ông
Kafuu tâm sự là v́ muốn đọc Maupassant trong nguyên tác mà ông mới
t́m học tiếng Pháp. Ông t́m cách tiếp cận Maupassant bằng cách mô
phỏng văn phong của người viết đoản thiên bậc thầy này. V́ thế,
ông đă vay mượn cốt truyện của Maupassant để viết trong thời gian
vừa từ bỏ ông thầy cũ (Zola) để tiến về phía ông thày mới ấy.
Amerika Monogatari là chứng cớ của quá tŕnh đó. Ichigatsu
tsuitachi (Mồng một tháng giêng) vay mượn Garccon, un bock (Cậu
bồi, cho cốc nữa) cũng như Akuyuu (Người bạn xấu) vốn mượn ư L’ami
Patience (Ông bạn thân Patience), cả hai đều là tác phẩm của
Maupassant.
Mặt khác, trong tập bút kư Furansu Monogatari (Truyện bên Pháp)
ghi lại thời gian hơn một năm ông sống trên đất Pháp (Meiji 41 trở
đi), ông đă dành 12 chương để nói về hai nhà thơ phái tượng trưng
là Baudelaire và Verlaine nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy là
ông đă lạnh nhạt với Zola và Maupassant. Cuốn bút kư này về mặt
nội dung th́ có hơi kém so với tập bút kư ông viết bên Mỹ.
Tayama Katai cũng là nhà văn tiếp thu ảnh hưởng Maupassant và đưa
nó vào tác phẩm của ḿnh. Ông từng dịch (Hai người lính, Meiji 31)
của Maupassant để giới thiệu nhà văn với độc giả Nhật Bản.. Ông
xem Maupassant như người đă trực diện với cuộc sống, nắm bắt được
thực thể và biết tŕnh bày một cách mạnh dạn. Kobayashi Ichirô
trong một công tŕnh nghiên cứu về Tayama Katai đă thiết lập được
mối liên hệ giữa các tác phẩm của Katai và Maupassant. Trước tiên
là giữa Rônô (Lăo nông, Meiji 34)) của Katai và Le Père Amable
(Ông lăo Amable, 1886) của Maupassant, rồi tiếp đến là giữa Sonchô
(Ông trưởng thôn, Meiji 34) và La Petite Roque (Cô con gái của ông
Roque,1885), giữa Shigêmon no saigo (Cái chết của Shigêmon) với La
mère sauvage (Người mẹ hoang dại, 1884) và La garde (Bà canh núi,
1884), giữa Shinchiku no ie (Nhà mới cất, Meiji 35) và Une partie
de campagne (Một buổi chơi ngoài đồng,1881), giữa Umeya no ume
(Quả mơ của nhà bán mơ, Meiji 35) và Mademoiselle Perle (Cô Perle,
1886), giữa Rôshishaku (Vị tử tước già, Meiji 35) và Un soir (Một
buổi tối, 1889), giữa Ô-danna, Ko-danna (Ông lớn, ông nhỏ, Meiji
36) và Houtot père et fils (Cha con ông Houtot, 1889), giữa Nabari
Shôjo (Cô gái vùng Nabari (Meiji 38) và Le Pardon (Tha thứ, 1882),
giữa Hakuchô (Thiên nga, Meiji 39) và Monsieur Parent (Ông
Parent,1886) vv...
Nhà văn Shimazaki Tôson, một người bạn của Tayama Katai, cũng là
người ngưỡng mộ Maupassant. Các tác phẩm có tính chất hiện thực
của ông viết hồi ở Komoro (tỉnh Nagano) từ năm Meiji 32 (1899) cho
đến Meiji 38 (1905) như Kyuushujin (Người chủ cũ), Rôjo (Cô gái
già), Oyaji (ông già), Warazôri (Dép cỏ) đều có dấu ấn của văn hào
Pháp. Đó là chưa kể việc Maupassant đă ảnh hưởng lên những nhà văn
khác đương thời như Kunikida Doppo. Điều này đă được chứng minh
với hai tác phẩm của Doppo: Unmei ronsha (Kẻ chủ trương có số
mạng) hay Shôjiki mono (Kẻ ngay thẳng).
Tuy không thuộc lănh vực tiểu thuyết nhưng nhà kể truyện tếu
Rakugo là San. Yuutei Enchô (1839-1900) khi soạn những câu chuyện
về nhân t́nh thế thái trong thế giới Tây phương làm thành những
mẩu Rakugo tân tiến để tŕnh diễn, cũng đă tham khảo Maupassant.
Thời các truyện dịch về Maupassant c̣n chưa ra đời, ông đă phóng
tác Un Parricide (Một chuyện giết cha,1884) ra Meijin Chôji (Cao
thủ Chôji) và cho đăng trong nhật báo Chuô Shimbun. Có thể coi đây
là tác phẩm đầu tiên viết theo tác phong Maupassant được thấy ở
Nhật.
Katai và Kafuu không bị bó buộc măi với Zola, Daudet và
Maupassant. Họ c̣n quan tâm đến nhiều người khác như Pierre Loti.
Trong Saika Yokô (Tây hoa dư hương = Làn hương sót của những đóa
hoa Tây phương), Katai đă bày tỏ sự trân trọng trước tính chủ
quan, óc tưởng tượng phong phú, tinh thần tự do, sự dạn dĩ trong
cách tŕnh bày của Loti qua Pêcheur d’Islande (Ngư ông trên Băng
Đảo) và ông xem đây là sự khác nhau giữa Loti và Maupassant,
Daudet, một sự khác nhau khiến ông phải đặt vấn đề suy nghĩ. Theo
Katai th́ Loti đứng độc lập bên ngoài ḍng chảy của văn đàn đương
thời và đă tỏ ra hoàn toàn tự do phóng khoáng, lối văn lữ hành
giàu tưởng tượng và trong sáng của ông rất đáng cho những nhà văn
Nhật viết Michiyuki-bun (Văn tả cảnh đi đường cổ điển) phải học
hỏi. C̣n Kafuu th́ trong bài báo nhan đề “Pierre Loti và khung
cảnh Nhật Bản” đăng trên tạp chí Mita Bungaku số tháng 5 năm Meiji
44 đă cho biết trong tác phẩm Reishô (Cười nhạt) ra đời trước đó
hai năm, ḿnh đă xây dựng nhân vật Tokui Shônosuke theo cách sáng
tạo nhân vật của Loti. Phải chăng Bokutô Kitan (Mặc đông kỳ đàm,
Truyện lạ bờ Đông), một giai tác của Kafuu đă nhận ảnh hưởng từ La
troisième jeunesse de Madame Prune (Tuổi xuân thứ ba của bà Prune)
trong đó Loti mô tả mối t́nh đẹp như thơ giữa ông và một người con
gái bản xứ.
Kafuu là một nhà văn cận đại Nhật hiểu rơ về thế giới phương Tây.
Ngoài Zola, Daudet, Maupassant, Loti, ông c̣n đánh giá cao Henri
de Régnier
nữa.
Đến đầu thời Taishô (1912-26), tác phẩm của Régnier đă được đọc
nhiều. Mori Ôgai đă cho truyện “Phục thù” vào trong sưu tập
Shokoku Monogatari (Truyện các nước, Taishô 4, 1919) của ḿnh và
nó đă ảnh hưởng đến Yabu no naka (Bốn bề bờ bụi) của Akutagawa
Ryuunosuke.

Akutagawa đă mô phỏng thành công Henri de Régnier?
Tuy Ôgai chỉ sử dụng các sách đă dịch sang tiếng Đức nhưng ông đọc
nhiều tiểu thuyết của Prosper Mérimée và nhận được từ đó không ít
gợi ư về phương pháp viết tiểu thuyết lịch sử. Một đặc điểm khác
của văn chương Mérimée là tính kỳ quái kinh dị cho nên nó đă ảnh
hưởng - ở một phương diện nào đó – đến những cây bút Nhật Bản như
Izumi Kyôka và Akutagawa Ryuunosuke. Riêng trường hợp Akutagawa,
ông c̣n được học hỏi rất nhiều từ Anatole France. Những bản dịch
từ Thais (Vũ nữ Thais) và Balthazar chẳng hạn đă ảnh hưởng sâu sắc
đến Akutagawa. C̣n như Aru shuju no kotoba (Phát ngôn của một
người nông nổi), tác phẩm mà nhà văn này sử dụng lối diễn tả bằng
h́nh thức cách ngôn (aphorisme), ta thấy nó đă khởi hứng từ
Maximes (Châm ngôn, 1665) của La Rochefoucauld và Le Jardin
d’Épicure (Khu vườn của Epicuros, 1895), một tác phẩm Pháp khác
của thế kỷ 19. Ảnh hưởng của Pháp c̣n đi ra ngoài lănh vực của nội
dung tiểu thuyết. Chẳng hạn trường hợp của Tayama Katai th́ ngoài
Daudet, Maupassant vv..ông đă học hỏi từ hai anh em Jules và
Edmond Goncourt lối hành văn gọi là Hyômen Byôsha (b́nh diện miêu
tả = chỉ viết về những điều nổi lên trên bề mặt) như văn phong của
trường phái tả thực.
Tuy vậy, phải nói là các nhà văn Nhật Bản không chỉ nhận ảnh hưởng
từ văn học Pháp. Khi viết Hakai (Giải cấm), Shimazaki Tôson đă
nhận cùng lúc ảnh hưởng từ nhà văn Pháp Jean-Jacques Rousseau và
nhà văn Nga Fedor M. Dostoevskii. Những ảnh hưởng “phức hợp” này
quả t́nh quá rắc rối để có thể phân tích dễ dàng. Nhất là có những
tác giả, tuy được dịch ra và được quần chúng thích đọc nhưng chưa
ảnh hưởng ngay tới các nhà văn. Chẳng hạn trường hợp Honoré de
Balzac mà nhà nghiên cứu Terada Tôru đă viết về điều đó với đại ư
như sau:
“Tuy Honoré de Balzac cũng được người Nhật thích nhưng ông không
qui tụ một sự quan tâm đồng loạt như trường hợp những Stendhal,
Tolstoy, Dostoievskii, Flaubert, Tchekhov...Người ta chỉ nhắc đến
ông một cách t́nh cờ thành thử tuy là một tác giả được đọc nhưng
ông không ảnh hưởng rơ ràng đến việc sáng tác của các nhà văn”.
Việc Balzac không ảnh hưởng nhiều đến văn học Nhật có lẽ v́ văn
chương ông không thích hợp với “phong thổ” văn học của Nhật.
Terada giải thích tiếp:
“Balzac coi mỗi con người là mô h́nh tiêu biểu cho một quan niệm,
ông đă tạo ra cả 3.000 thứ như vậy và tin rằng nếu góp nó lại, ông
có thể miêu tả tính chất của một thời đại. Thế rồi trong khi miêu
tả, ông đă định sẵn những mối tương quan nhân quả cho từng mô h́nh
một. C̣n như người Nhật th́ phong thổ văn học của họ là chủ nghĩa
tự nhiên, tự nhiên theo kiểu truyền thống xưa giờ nên lối viết của
Balzac không thể nào thích hợp với họ được. Dĩ nhiên ngoài Balzac
ra, hăy c̣n có nhiều nhà văn khác cũng có cùng khuynh hướng như
ông.
Bốn
Cuối cùng thử nói đôi chút về việc di thực thi ca và kịch nghệ của
Pháp.
Lần đầu tiên thơ Tây phương được di thực vào văn học Nhật là qua
tác phẩm nổi tiếng Shintaishi-shô (Tân thể thi sao, Mấy bài thơ
mới, Meiji 15, 1882).
Trong cuốn này có bản dịch “Thơ xuân của Charles d’Orléans”. Đây
là bản “trùng dịch” (dịch đè lên) v́ người tên Yatabe Ryôkichi đă
dịch lại bản dịch tiếng Anh (1830) của nhà thơ Mỹ Henry W.
Longfellow những bài thơ của Charles d’Orléans, một thi sĩ Pháp
thời trung cổ. Đây là bản Nhật dịch đầu tiên để giới thiệu thơ
tiếng Pháp.
Rốt cuộc th́ từ cuối thời Meiji sang đầu đời Taishô, đă có thêm 3
tập dịch thơ khác: (1) Kaichôon (Hải triều âm. Tiếng sóng biển,
Meiji 38) của Ueda Bin, (2) Sankoshuu (San hô tập, Taishô 2) của
Nagai Kafuu và (3) Gekka no ichigun (Nguyệt hạ nhất quần, Một đàn
dưới trăng, Taishô 14) của Horiguchi Daigaku. Nhờ có chúng mà từ
đó, thơ tiếng Pháp mới được dịch sang Nhật ngữ một cách chỉn chu.
Tập Kaichôon (1905) đă giới thiệu 57 bài của 29 nhà thơ, trong số
đó có 12 người là Pháp và 2 người là Bỉ. Leconte de Lisle,
José-Maria de Heredia, Sully Prudhomme, Charles Baudelaire, Victor
Hugo, Franccois Coppée, Stéphane Mallarmé, Verlaine, Henri de
Régnier, Albert Samain, Jean Moréas (phiên âm), Théodore Aubaner,
Emile Verharen, George Rodenbach (phiên âm) là những nhà thơ được
dịch. Phần lớn là các nhà thơ của phái Thi Sơn (Parnasse) hoặc
phái Tượng Trưng (Symbolism).
Điều đáng chú ư nhất có lẽ là tính chất tượng trưng của những bài
thơ dịch đăng trong Kaichôon. Về h́nh thức, các dịch giả đă thử sử
dụng những h́nh thức thơ, khổ thơ định h́nh phù hợp với người
Nhật, chẳng hạn khổ 5 âm tiết, khổ 5/ 7. khổ 22 hay 24 âm
tiết.(Chẳng hạn mấy câu đầu của bài Feuilles Mortes (Lá rụng) của
Verlaine được dịch theo khổ 5 âm tiết thành Aki no hi no / Violon
no / Tameiki no / Mi ni shimite / Hitaburu ni / Urakanashi /
v...đă gợi lên được cái không khi u buồn và da diết của mùa thu).
Chủ biên Ueda Bin đă có dụng ư giới thiệu tập thơ dịch này để giúp
thi đàn Nhật Bản tiếp cận với thơ mới các nước.
Mặt khác, Nagai Kafuu đă dùng Sankoshuu để trau giồi t́nh cảm và
thi ngữ của chính ḿnh. Tập thơ gồm 37 bài và toàn là thơ Pháp cận
đại, trong đó, 3 nhà thơ Baudelaire, Henri de Régnier và Verlaine,
mỗi người đă có đến 7 bài.

Horiguchi Daigaku (1892-1981) đă đem thơ Cocteau đến với người
Nhật
Trong Gekka no ichigun, Horiguchi đă chọn dịch 340 bài của 67 nhà
thơ, từ các nhà thơ tượng trưng đến các nhà thơ khuynh hướng
Esprit Nouveau (Tinh thần Mới), Ông “không có mục đích đặc biệt và
cho biết chỉ dịch để thỏa măn niềm vui được chuyển ngữ một bài thơ
sang tiếng nước ḿnh” và “lựa chọn các bài dịch theo cách đánh giá
về thơ theo tiêu chuẩn cá nhân”. Việc chỉ chọn các nhà thơ ḿnh
thích cho thấy Daigaku có lối làm việc khác với Bin và Kafuu. Ông
bắt đầu với Cocteau, Radiguet, Apollinaire, sau đến các nhà thơ
phái Vị lai (Futurisme), phái Đa đa (Dadaisme), Siêu thực
(Surréalisme). Việc ông làm hết sức có ích đối với các thế hệ thi
nhân Nhật Bản đến sau, đặc biệt bản thân Daigaku là người thấu
hiểu ngôn ngữ nước ḿnh cũng như tiếng ngoại quốc ngay trong văn
mạch của nguyên tác và biết sử dụng kiến thức ấy vào dịch thuật
một cách trôi chảy. Nó đem đến cho việc dịch thơ một hương vị mới.
Ngày nay, nếu so sánh th́ có thể xem thi tập Kaichôon tương đương
với thi ca cổ kính hoa lệ của thời vương triều, đẹp th́ đẹp nhưng
cổ lổ, không gần gũi với độc giả bằng Sankoshuu và Gekka no
ichigun. Dù sao nó vẫn là vật kỷ niệm đáng nhớ của việc dịch thơ
dưới thời Minh Trị.

Nhân vật của Sardou và Dumas Fils cũng từng lên sân khấu Tôkyô
Việc du nhập các bản kịch Pháp vào đất Nhật qua phiên dịch và
phóng tác đă bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 1880 tuy lúc
đó chúng chưa được đưa lên sân khấu. Đến năm Meiji 24 (1891) mới
thấy Fukuchi Ouchi (1841-1906)
cho tŕnh diễn Mai aogi urami no yaiba “Vũ phiến hận chi nhận” (Lá
quạt múa, lưỡi dao thù) ở Kabukiza. Vở này chỉ là phóng tác La
Tosca (1887)
của kịch tác gia người Pháp Victorien Sardou (1831-1908). Fukuchi
có cơ hội sang Âu Mỹ tất cả 4 lần, trên thực tế đă được xem kịch ở
bên đó. Có thể nói phóng tác của La Tosca là công tŕnh di thực
bản tuồng của Tây phương đầu tiên ở Nhật. Qua năm Meiji 30 (1897)
th́ Les Misérables (1862) của Victor Hugo cũng đă được phóng tác
thành kịch bản nhan đề Aware Ukiyo (Cuộc thế bi thương).
Năm Meiji 25 (1892), nhà văn Ozaki Kôyô cho in kịch bản Natsu
kosode (Hạ tiểu tụ, Áo mát mùa hè). Kỳ thực đây là một phóng tác
từ L’Avare (Người keo bẩn, 1668) kịch bản nổi tiếng của Molière
(1622-73). Theo nhà nghiên cứu Saitô Hironobu, h́nh như Kôyô đă sử
dụng bản dịch tiếng Anh của vở này do một người tên Charles Heron
Wall (phiên âm) đăng trong 3 tập văn dịch sáng tác của Molière ra
đời vào giai đoạn 1883-87.
Việc Kôyô cắt bỏ màn thứ 5 trong đó có cuộc đối đầu giữa cha con
Anselme cho thấy ông không hẳn trung thành với nguyên tác. Tuy
vậy, ông vẫn giữ lại đầy đủ các nhân vật chủ yếu của vở tuồng và
chỉ muốn đơn giản hóa một kết cuộc mà ông cho là quá rắc rối.
Phóng tác của ông trông giống như bản thu gọn của nguyên tác, lời
đối thoại cũng theo cùng một khuynh hướng nhưng trong vở tuồng
phóng tác của ông, không t́m đâu ra chất hài của nguyên tác và
nhiều khi ta c̣n nhận ra vài chỗ ngộ nhận buồn cười.
Cũng vào cuối năm 1892, Kôyô đă cho đăng Koi no yamai (Bệnh tương
tư) trên mặt báo Yomiuri. Vở này phỏng theo Le médecin malgré lui
(Bác sĩ bất đắc dĩ, 1666), một kịch bản khác của Molière. Trong
phóng tác của ḿnh, Kôyô đă sửa đổi cốt truyện chút đỉnh, cùng
lúc, mô phỏng kiểu đối thoại chải chuốt của Molière bằng phương
thức của ḿnh.
Dù sao, cả trong Natsu kosode và Koi no yamai, Kôyô đều không làm
toát ra được tính hài hước và phúng thích trong lối miêu tả nhân
vật, cũng như không bộc lộ được tinh thần phê phán vốn có trong
nguyên tác. Thay vào đó, độc giả chỉ thấy trong các phóng tác ấy
màu sắc Kyôgen (Cuồng ngôn)
kiểu Nhật từng xuất hiện nhiều lần trên các sân khấu Edo.
Năm Meiji 29 (1896), Nagata Shuutô đă phóng tác kịch bản La Dame
aux camélias (Trà Hoa Nữ, văn: 1848, kịch: 1852) của Dumas Fils
thành Shirayuri (Hoa huệ trắng). Năm sau (1897), vở Tám mươi ngày
ṿng quanh thế giới (Le Tour du Monde en quatre-vingts jours)
phỏng theo Jules Verne đă được tŕnh diễn ở rạp Mizakiza. Năm
1898, đến lượt “Đăi tắc cam lồ” (Hạnh phúc rồi sẽ đến) của Takeshi
Hyôzô được tŕnh diễn ở Kabukiza. Vở kịch này vốn đến từ Le Comte
de Monte-Christo (Bá tước Monte-Christo) của Dumas Père. Riêng về
công việc dịch các kịch bản th́ đă có công tŕnh của Nagata Shuutô
dịch Pour la Couronne (V́ vương miện / v́ hoàng gia) của Franccois
Coppée thành ra “Ôkan” (Vương miện, Meiji 32), Iida Kikan dịch Le
Cid của Corneille thành “Aiai no ki” (Định mệnh thương tâm) và
đăng nhiều kỳ trên nhật báo Yomiuri.
Tuy vậy, vào thời Minh Trị, nói đến việc dịch Molière là phải nói
đến Kusano Saiji. Kusano đă lần lượt đăng các bản dịch của ḿnh
lên tạp chí Myôjô (Ngôi Sao). Tất cả là 15 vở và sau này đă được
qui tụ trong quyển thứ 3 của tác phẩm 3 quyển có tên là “Molière
Toàn Tập” (Morieru Zenshuu (Meiji 41). Tuy dịch phẩm của Kusano có
nhiều màu sắc phóng tác nhưng phải nói là ông đă có thiện chí đem
Molière đến với độc giả và khán giả Nhật Bản.
Vào đời Taishô có thêm Tsubouchi Shikô, tuy ông cũng dịch Molière
từ bản “trùng dịch” tiếng Anh nhưng ngôn từ đă có phần chính xác
và hiện đại hơn. Sáu vở kịch đă được dịch và đăng trong tập 1 của
một toàn tập về Molière ra đời vào năm Taishô thứ 9 (1920). C̣n
như việc dịch thẳng từ nguyên tác tiếng Pháp th́ phải đợi đến năm
Shôwa thứ 9 (1934) với bộ Molière Toàn Tập gồm 3 quyển gồm 33
thiên do Yoshie Takaki (Kyôshô) chủ biên và Chuô Kôron xuất bản.
Dịch xong ngày 26/07/2020
Thư mục tham khảo:
1-
Nguyên tác bài biên khảo trên đây là phần mở đầu của quyển Furansu
shôsetsu inyuukô (Khảo về cuộc di thực của tiểu thuyết Pháp) do
Tôkyô Shoseki xuất bản năm 1981, ấn bản lần thứ 3 năm 1989 của tác
giả Tomita Hiroshi (1933-nay).
2-
H́nh ảnh vay mượn từ Internet