TRUYỆN NGẮN ENDO SHUSAKU

 

VERONICA

(Beronika, 1958)

 

Nguyên tác: Endo Shusaku

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Shusaku Endo: How a Japanese Catholic found his faith - U.S. Catholic

 

 

Nhà văn sinh ngày 27/3/1923 và mất ngày 29/9/1996, đều tại Tokyo. Tốt nghiệp khoa văn chương Pháp tại Đại học Keiô. Khi c̣n nhỏ, nhân cha ông – một viên chức ngân hàng - phải thuyên chuyển nhiệm sở nên ông lớn lên ở thành phố Đại Liên (Măn châu), đến năm 1935, cha mẹ bất ḥa, mới theo mẹ trở về nước và học tiếp ở Kobe.Thời gian bậc trung học, ông đă chịu phép rửa tội và trở thành tín đồ Ki Tô Giáo. Ông bắt đầu viết b́nh luận văn học từ khi c̣n ở trên ghế trường Đại học. Sau đó ông gia nhập nhóm Văn học Mita (Mita Bungaku) của ĐH Keiô và thân thiết với nhà văn Hara Tamiki (1905-1951), tác giả của “Những đoá hoa mùa hạ” (Natsu no Hana, 1947) vv...Sau khi tốt nghiệp, ông sang Pháp du học tại Đại học Lyon (1950-53) và nghiên cứu về văn học Pháp đương đại, chủ yếu về vai tṛ của các nhà văn Ki Tô Giáo. Đến lúc về nước, ông ra mắt truyện đầu tay “Cho đến Aden” (Aden made, 1954), sau đó là tác phẩm “Người trắng” (Shiroi hito, 1955) và đoạt giải Akutagawa. Từ ấy, ông xác định được thế đứng trên văn đàn. Ông lại cho ra mắt “Biển và thuốc độc” (Umi to dokuyaku, 1957) kể lại việc Nhật Bản đă bắt tù binh Mỹ trong giai đoạn cuối Chiến tranh Thái B́nh Dương để làm vật thí nghiệm, “Im Lặng” (Chimmoku,1966) nói về những việc cấm đạo, tuẫn đạo và bội đạo dưới thời Tokugawa hay “Vụ bê bối” (Sukandaru, 1986), một trong những tác phẩm có tính cách tự truyện bàn về t́nh dục của người cao tuổi. Ông c̣n là một cây bút trào phúng có hạng với những mẩu văn nghị luận dưới bút hiệu Hồ Ly Am Sơn Nhân (Korian Sanjin) và được nhiều người yêu mến. Cuối đời, ông thường trầm tư về những xung khắc giữa tư tưởng Ki Tô Giáo đến từ Tây Phương và văn hóa bản xứ trong tâm thức những con chiên Nhật Bản ngoan đạo như ông.

Tác phẩm của ông c̣n có “Du học” (Ryuugaku, 1965), Người Vàng (Kiiroi Hito, 1955), “Quả nho xanh nho nhỏ” (Aoi chiisana budô, 1956), “Đời chúa Giê Su” (Yesu no isshô, 1973), “Bên bờ Biển Chết” (Shikai no hotori, 1973), “Người Samurai” (Samurai, 1981), “Phản nghịch” (Hangyaku, 1989), “Sông Thăm Thẳm” (Deep River, 1993) nếu chỉ kể có chừng đó. Ông đă nhận giải Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật Nhật Bản (Nihon Geijutsuin-shô, 1979) và Giải Công Lao Văn Hóa (Bunka Kunshô, 1995) của nhà nước. Được nhiều người, trong số đó có văn hào Graham Greene kính nể như một nhà văn Ki Tô Giáo quốc tế xuất sắc, ông nhiều lần được họ tiến cử cho Giải Nobel Văn Học.

 

  

Tác phẩm ra mắt bạn đọc trên Tạp chí phụ nữ Fujin Gahô số tháng 5/1958 và được chọn để đưa vào sách giáo khoa bậc trung học Nhật năm 1981.

 

  The Veil of Veronica by Georges Rouault on artnet

The Veil of Veronica (Georges Rouault) 

Buổi chiều cách đây hai ba hôm, sau khi mệt mỏi v́ công việc, tôi bất chợt nẩy ra ư định đến viếng thăm một pḥng triển lăm tranh. T́nh cờ là pḥng tranh ấy đang trưng bày các tác phẩm di cảo của Rouault[1], một danh họa Pháp chuyên về tranh Ki Tô Giáo và vừa mới mất hồi năm ngoái.

V́ đó là buổi chiều một ngày trong tuần, pḥng tranh càng thêm vắng lặng. Ngoài tôi ra chỉ có bốn, năm người khách dừng chân lại trong căn pḥng sâm sẩm tối, hoặc đứng một chỗ hoặc chậm răi bước qua bước lại. Ở góc pḥng, một thiếu nữ đầu đội mũ bê-rê màu đỏ đang đứng trước một bức tranh và chăm chú nh́n nó.

Từ xa vọng lại tạp âm của khu phố và những hồi c̣i xe hơi. Tôi bèn ngồi xuống chiếc ghế cho khách tạm nghỉ chân, lim dim đôi mắt suy nghĩ bâng quơ. Và trong khi nghe ngóng những tiếng động sinh hoạt của khu phố lúc chiều về, bỗng nhiên kư ức một buổi hoàng hôn từ nhiều năm trước ở Paris, lúc tôi cũng đi xem một cuộc triển lăm tranh của nhà danh họa Rouault, như sống lại trong kư ức.

Ừ, phải rồi...buổi chiều hôm đó, người đi xem cũng thưa thớt và gian pḥng cũng vắng lặng như hôm nay ấy nhỉ? Và một số bức tranh ḿnh xem hôm đó th́ ngày nay đă vượt qua mấy biển để về tới nước Nhật xa xôi này. Nhớ lại những chi tiết không đâu vào đâu như thế rồi mở mắt ra nh́n, tôi mới thấy cô gái đội bê-rê đỏ vẫn c̣n đứng nguyên chỗ đó, bị thu hút bởi bức tranh mà cô đă say sưa ngắm năy giờ.

(Không hiểu cô đang xem bức tranh nào vậy ta?)

Tôi bị thôi thúc bởi ḷng hiếu kỳ nên đă thử bước lại gần cô gái xem sao. Vẫn thấy thiếu nữ đứng lặng người, đăm đăm nh́n vào bức trang như kẻ bị thôi miên. 

Bức tranh cô đang ngắm nghía nhan đề Veronica vẽ h́nh ảnh của chúa Ki Tô đầu đội măo tết bằng gai, chịu đựng bao thương khó, với ánh mắt nh́n về phía người xem tranh như đang chực bày tỏ điều ǵ. Dĩ nhiên, không nói cũng hiểu, đó là vẻ mặt đầy cay đắng xót xa của Đức Chúa gánh trên vai cây thập tự giá, khi bị bắt leo lên ngọn đồi Golgotha giữa tiếng chửi bới và sỉ nhục đầy phẫn nộ của đám đông.Thế nhưng h́nh ảnh xanh xao và nhuốm đầy bi thương này lại là cái mà họa gia Rouault yêu thích v́ ông đă vẽ một loạt tranh với nhan đề “Veronica” hoặc là “Vuông khăn của Veronica”... 

*** 

Veronica là tên một phụ nữ. Bà được sinh ra trong hoàn cảnh như thế nào th́ ngày nay chúng ta không ai biết tới. Điều chúng ta có thể biết là Veronica vốn bắt nguồn từ Berenice, tên gọi của phụ nữ Hy Lạp và được đọc trại đi.

Thời điểm đó là khoảng 11 giờ sáng ngày thứ sáu mùng 7 tháng 4 năm 30 sau kỷ nguyên. Chắc quí độc giả không cần phải nghe giải thích thêm chi nhiều về việc ngày hôm đó chúa Ki Tô và hai tù nhân đă được phán xử là sẽ bị hành quyết trên ngọn đồi Golgotha[2]. V́ cớ đó họ đă phải vác thập tự giá và đi bộ một đoạn đường khoảng nửa cây số phủ đầy sỏi đá, chạy ngoằn ngoèo từ dinh thự của quan Tổng trấn Pilate cho đến nơi ấy. Theo kư lục c̣n ghi lại th́ thập tự giá này được biết là vật kết hợp từ hai khúc gỗ, chiều dọc độ 10 shaku (hay 30, 3 cm x 10) và chiều ngang độ 7 shaku (hay 30, 3 cm x 7) và nặng khoảng 70 ki lô. Đương thời, mỗi kẻ thụ h́nh đều bị bắt buộc vác cây thập tự dành cho ḿnh đến địa điểm hành quyết.

Sau những đêm mất ngủ v́ phải chịu bao nhiêu thẩm vấn, mệt mỏi đến cùng cực, lại thêm roi vọt tàn nhẫn, mất nhiều máu, c̣n phải vác cái thập giá nặng 70 ki lô này trên vai mà bước đi th́ đó quả là một công việc quá tàn nhẫn đối với chúa Ki Tô.

Khác với Nhật Bản, tháng 4 ở xứ Giu Đê (Judea)[3] trời vô cùng nóng. Vả lại đoạn đường chúa đi – như người ta ghi lại - vốn “bắt đầu từ núi Moria xuống một vùng đất trũng rồi khi đến cửa Tây của kinh thành lại phải leo lên một con dốc rất gắt”. Đi đầu đoàn người là một kẻ mở đường, anh vừa rao cho đám người đến dự khán tên tuổi và tội trạng của những người bị hành quyết. Đằng sau anh ta là một toán lính La Mă xếp thành hàng. Phía sau họ, một nhóm vừa người lớn vừa con nít mang theo đinh, giây thừng và chùy sắt cùng tiến tới. Cuối cùng là hai tên tù cùng với chúa Ki Tô, đang lê lết với đôi bàn chân đẫm máu và những bước chân xiêu vẹo. Đầu chúa đội măo tết bằng gai, máu rịn xuống g̣ má và bộ râu làm cho cả mặt mày biến dạng không sao nh́n được rơ. Trong lúc Chúa đang liêu xiêu, mỗi lần quệt mồ hôi và thốt ra vài tiếng rên rỉ từ cái cố họng đă khô cháy v́ cơn khát, bọn lính kia đă vung cao ngọn roi.

Con đường bắt đầu từ chỗ dinh thự của Pilate, qua ngọn đồi nơi một ngôi đền thần được dựng lên, đổ xuống dốc và về hướng Tây. Được chừng 200 mét, nó gặp một con đường lớn. Rẽ qua đường này và đi thẳng chừng nửa cây số là đến ngọn đồi Golgotha. Trên đường, chúa Ki Tô đă ngă xuống không biết bao lần và điều này cho thấy sự thống khổ ông phải nếm trải là nhiều đến ngần nào.

Mỗi lần chúa Ki Tô ngă, dân chúng hai bên đường không ngớt buông lời thóa mạ. Đó là chuyện đáng buồn nhưng trong một trường hợp như thế này, quần chúng thường bộc lộ cái bản năng dă man nguyên thủy của họ. Mới đây khi lính Nazi tấn công những gia đ́nh Do Thái vốn chẳng có tội t́nh ǵ, quần chúng chẳng đă phụ họa trước những hành vi tàn khốc của chúng đấy sao? Ngày hôm đó, chúa Ki Tô càng rên rỉ bao nhiêu, càng ngă xuống chừng nào th́ như chúng ta có thể mường tượng, bản chất hung bạo của quần chúng càng bị kích thích thêm chừng nấy.

Khi lên được tới ngọn đồi, một lần nữa, chúa Ki Tô lại khuỵu đầu gối và coi bộ không c̣n đủ sức để đứng lên trở lại. Thấy thế, người ta bèn cho gọi một nông dân tên là Simon đến nhấc hộ một bên thập giá cho chúa. Simon không kháng cự mệnh lệnh. Có lẽ v́ ông sợ là nếu từ chối công việc khổ sở này, người ta sẽ đánh đập hay sát hại ḿnh cũng nên. Hoặc giả ánh mắt của một người không c̣n chút sức lực kia đang buồn bă hướng về ông như muốn nhờ ông giúp đỡ và cái dáng dấp đau khổ của chúa Ki Tô đă làm dậy lên trong tấm ḷng chất phác của ông một sự đồng t́nh. Nhờ có sự giúp sức đó mà cái thập giá bị đổ lăn măi rồi cũng được nhấc lên và chúa Ki Tô bắt đầu di chuyển trở lại với những bước chân chậm chạp.

Th́ vào giữa lúc ấy....

Từ dưới bóng vài túp nhà bên vệ đường ở phía tay trái, có một bóng đàn bà đang vội vă chạy đến.

Trong cuốn “Truyện chúa Ki Tô” của P. Bert, ông đă mô tả cảnh tượng đó như sau đây:

“Người phụ nữ đó không đếm xỉa ǵ đến sự can thiệp của toán lính đang muốn chắn lối, tiến đến gần bên chúa Ki Tô, nh́n dáng dấp không c̣n nh́n ra nổi ấy một hồi rồi lấy vuông khăn ḿnh đang bịt trên trán để lau mồ hôi, nước dăi và vệt máu đang đầm đ́a trên khuôn mặt của ông. Từ đôi mắt Ki Tô đang nh́n bà thoáng hiện một ánh cám ơn”.

“Sau đó, người đàn bà ấy trở về nhà ḿnh và nh́n lại vuông khăn th́ nhận ra có khuôn mặt chúa Ki Tô trên đó và nó đă in nguyên vẹn cái dáng xanh xao, buồn rười rượi của ông. Khi các thánh tông đồ chép lại câu chuyện này để ghi nhớ, đă gọi tên người phụ nữ ấy là Veronica”.  

*** 

Đó là nàng Veronica mà chúng ta biết tới. Rouault cũng như nhiều họa sĩ khác đă vẽ y nguyên h́nh ảnh thống khổ của chúa Ki Tô như những điều họ thấy trên vuông khăn của người đàn bà.

Như đă tŕnh bày bên trên, ngày nay chúng ta không ai biết ǵ về thân thế và cảnh ngộ của người phụ nữ này. Ban đầu, bà ta xuất hiện trong sách của Thánh Lucas với cái tên là người đàn bà ở Bethania[4] và được phỏng đoán là nàng Martha? Tuy nhiên, có thuyết lại cho rằng bà là một phụ nữ đă được chúa Ki Tô chữa cho lành một chứng gọi là “bệnh xuất huyết” (chirô). Nếu đúng là người đàn bà được Chúa chữa lành bệnh xuất huyết th́ chúng ta hăy dựa vào sách của thánh Marco để thử t́m hiểu về quá khứ của nàng.

“Có người đàn bà bị bệnh xuất huyết dai dẳng 12 năm trời” – như sách của thánh Marco, chương 5 từ câu 25 cho đến 34) – đă đi gặp nhiều thầy thuốc và chịu bao điều cực khổ, tiêu phí hết tài sản nhưng bệnh chẳng những không thuyên giảm mà càng ngày càng nặng thêm lên. Người đàn bà này nghe tiếng chúa Ki Tô nên đă lẩn vào trong đám đông, đến từ sau lưng mà sờ vào vạt áo của Chúa. Lư do là bà nghĩ rằng chỉ cần sờ vào vạt áo của Chúa thôi th́ sẽ được lành bệnh....Tức thời huyết không c̣n chảy và người đàn bà cảm thấy thân thể ḿnh hoàn toàn sảng khoái. Chúa bèn phán với người đàn bà đó: “Này con gái ta! Chính đức tin của con đă cứu được con đấy! Hăy yên tâm và đi đi”.

Dĩ nhiên chúng ta không có bằng cớ chính xác để khẳng định rằng người đàn bà bị bệnh xuất huyết được chúa làm phép lạ chữa lành kia chính là Veronica. Nếu bạn muốn biết cảm tưởng của bản thân tôi th́ tôi xin thưa rằng dù người đàn bà đó là ai, tôi cũng không cần biết tới. Tôi chỉ biết người phụ nữ ấy đă trà trộn trong đám đông và chứng kiến cái dáng bước đi thống khổ của một tù nhân sắp bị đem ra xử tử. Có thể bà ta không hề biết chúa Ki Tô là người như thế nào cả. Và như thế là cũng đă đủ.

Duy có một điều là lúc đó trong lồng ngực của bà, một t́nh cảm trắc ẩn (renbin) đang trào lên mănh liệt. Cảm t́nh đó đă vượt lên trên những lời thóa mạ của đám đông cũng như bạo lực ngăn trở của đám lính canh khiến bà có thể ch́a bàn tay ḿnh về phía người đàn ông đang gặp khổ nạn. Và như thế thôi cũng đă đủ rồi.

V́ lẽ đó mà đọc những kư lục ghi lại cảnh tượng ngày chúa Ki Tô tuẫn nạn, chúng ta đă cảm thấy đau khổ đến nghẹn ngào khi nhận ra rằng loài người chúng ta cũng như quần chúng đều mang trong ḷng một t́nh cảm hung bạo và sự yếu đuối không sao hiểu nổi. Nó làm cho chúng ta liên tưởng đến tâm lư con người trong thời đại chiến tranh vừa qua. Lúc ấy, trong bầu không khí sợ hăi bao trùm lên tất cả, chỉ có một người đàn bà duy nhất dám đứng ra để che chở cho đồng loại. Điều đó đă khiến cho chúng ta cất được một tiếng thở phào. H́nh như nó dạy rằng cho dù xă hội và quần chúng có sa đọa đến mức nào, chi cần sự tồn tại nhỏ bé của Veronica thôi, đă đủ giúp cho chúng ta vững ḷng tin là trên đời này, hăy c̣n có một tấm ḷng nhân ái.  

Năm năm về trước, trong khi đang du học ở Pháp, tôi đă được kể cho nghe về một câu chuyện đă xảy ra trong một vùng núi non phía Nam nước Pháp, không xa Ardèche là bao nhiêu.

Vào một hôm, có anh lính Đức nọ, sau khi giao chiến với những thành viên của lực lượng kháng chiến Pháp đă bị trọng thương. Thoát thân được nhưng không biết trốn ở đâu, anh vào nấp bên trong kho lúa của một nông dân người Pháp. 

Người khám phá ra sự hiện diện của anh là một nội trợ nhà quê. Bà khổ sở v́ đang lưỡng lự giữa việc bắt kẻ địch giao cho phe ta hay cứ để anh trốn ở đây đến khi vết thương được lành. Cho anh ta nấp có nghĩa là phản bội làng nước và đồng bào của ḿnh. Và lúc đó, bà sẽ có nguy cơ bị đem ra phán xử như một kẻ đă tiếp tay cho giặc.

Thế nhưng cảnh người lính Đức trẻ máu me bê bết đang cất tiếng rên rĩ đă khơi dậy trong ḷng bà một t́nh cảm trắc ẩn. Bà bèn cho thuốc, mang thức ăn tới và trong suốt một tuần lễ, tiếp tục che dấu người lính đó.

Khổ là một ngày kia, bí mật của bà đă bị những thanh niên trong làng phát hiện. Bọn thanh niên không những đem anh tù binh Đức ra giết không cần xét xử mà lại giết luôn bà nội trợ kia trong khi họ không ngớt lời thóa mạ  là “con đàn bà phản quốc”. Thi thể của bà bị ném xuống một cái giếng cũ ở ngoài đồng, cách xa xóm làng.

Veronica cũng có ở đây nữa. Tấm ḷng của người đàn bà trong cuộc đă vượt cao hơn cái đạo lư (moral) xă hội và đạo lư chính trị do bọn đàn ông đặt ra. Nó đẹp đẽ và rực rỡ xiết bao! H́nh như bức tượng đầy vẻ sầu muộn của bà ngày nay hăy c̣n được dựng lên để tô điểm lối vào ngôi làng nhỏ đó. Thế rồi, phía bên dưới bức tượng, người ta đă khắc một ḍng chữ với nội dung như sau: “Hơn cả chúng tôi, bà mới là một người Pháp đúng nghĩa. Bà là một con người...” 

Dịch ngày 17/7/2022

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com