TỤC ĐUỔI QUỶ  (Tsuina, 1909)

Nguyên tác: Mori Ôgai  - Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Khó lòng nói Tsuina là một truyện ngắn, chỉ có thể xem là một tùy bút hay tạp ghi của Mori Ôgai. Thế nhưng chúng ta gặp hình thức văn học này trong nhiều tác phẩm của ông và thấy rằng nó đã dọn đường cho việc ông tiến dần từ tự thuật hư cấu hóa sang thực chứng lịch sử. Bài viết sau đây không những trình bày quan điểm của ông về nhân sinh mà còn về mục đích của văn chương, về phong tục dân gian vv... tuy tản mạn nhưng hóm hỉnh, sâu sắc.

* * *

 

Ngạn ngữ Tây phương có câu: “Chỉ cần trao quỷ sứ một sợi tóc thì coi như mình đã bán trọn linh hồn cho nó”.

Bất luận đó là mẩu giấy chứng minh có hảo ý bảo rằng tên đó chưa từng viết lách hay một tờ giấy khác với ác ý đánh giá là tên đó không có năng lực viết, một khi nắm nó trong tay là anh đã được yên thân vì giá trị của hai tờ giấy này vốn chẳng có gì khác nhau.

Thế nhưng bởi lý do nào đó, anh chợt cầm bút viết, có khi chỉ vì một cái cớ đơn giản, con nít, ngô nghê hay sentimental (1) trong cuộc đời đã khơi dậy nguồn cảm hứng nơi anh thì kể từ đó, tin đồn là anh viết  được sẽ lan ra, rồi người ta cứ thúc giục anh viết mãi viết hoài.

Viết cách nào và viết cái gì bây giờ ? Từ công sở về nhà mình đã mệt đứ đừ. Mấy người khác rủ nhau đi nhậu rồi ngủ khì cho đến sáng hôm sau. Còn như tôi thì vặn nhỏ ngọn đèn, tạm lên giường nằm một lúc với ý nghĩ là chỉ ngủ xíu xiu và sẽ dậy ngay sau đó. Mười hai giờ tối, tôi mở mắt. Đầu óc tỉnh ra đôi chút, thế rồi ngồi lên và thức viết cho đến hai giờ sáng.

Cách suy nghĩ ban ngày và cách suy nghĩ ban đêm không dính dáng gì với nhau. Có những vấn đề mình ngại giải quyết ban ngày, định chờ đến đêm để giải quyết cho tốt hơn nhưng lắm khi sáng ra nhìn lại, có khi thấy nó vẫn nguyên xi hay chưa thành cái gì cả. Suy nghĩ về đêm thường là giải pháp không đáng tin cậy.

Trong số các nhà văn, có người quen sống về đêm như Balzac (2). Ông dặn Lassailly (3) hãy đi ngủ từ 6 giờ chiều để có thể thức giấc lúc 1 giờ sáng. Balzac trách người thư ký ấy: “Anh còn chưa bỏ được thói xấu là đi ngủ ban đêm. Ban đêm dùng để viết lách chứ! Có cà phê đây. Uống đi! Nó sẽ giúp anh tỉnh táo làm việc”.

Trên bàn là một đống giấy mới tinh. Balzac trong chiếc áo chùng trắng - kiểu thầy dòng – mặc đi ngủ, đã quá nổi tiếng của ông, đi đi lại lại trong phòng và đọc cho người thư ký. Lassailly có bổn phận ghi chép tất cả những điều ông nói tận 7 giờ sáng hôm sau.Thế nhưng ít nhất cái ông Balzac đâu phải làm việc từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều trong một văn phòng như tôi. Điều đó cho thấy những gì suy nghĩ về đêm của tôi hẳn còn khó tin cậy hơn một bậc.

Nhưng thôi, như mọi lần, trước tiên phải ngồi vào bàn cái đã, cầm lấy quản bút trên tay, xem mình có thể viết được gì đây. Tôi thường nghe người ta bảo tiểu thuyết thì phải viết như thế này thế nọ. Hình như những gì không thuộc phạm vi thi ca hay kịch nghệ đều được lồng cả vào trong khái niệm“tiểu thuyết”. Một vở kịch không có nhiều đòi hỏi như nó vì kịch không được đánh giá cao bằng. Lý thuyết cho rằng nếu viết tiểu thuyết phải viết theo một cách nào đó hình như chỉ là một phát minh mới mẻ gần đây thôi. Do đó, khi người ta bàn rằng ai đó viết như kiểu 10 năm về trước, có thể xem như họ đã gửi cho anh ta một bản án tử hình.

Ta có cần về hùa với lối suy nghĩ này không? Stendhal chết năm 1842. Tôi tự nhủ, những gì ông từng viết không biết có phù hợp với lý tưởng mà người ta đang đề cao vào thời đại này chăng? Một khi ta chấp nhận quan điểm là mọi sự trên đời này là biến dịch thì muôn vật sẽ không dừng tiến hóa từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Còn như ta chấp nhận quan điểm là mọi sự đều cố định, tất cả sẽ bất động. Mấy lúc sau này, những từ như “giam hãm” (4) hoặc “giải phóng” trở thành thời thượng. Tuy vậy, ý tưởng đòi hỏi phải viết tiểu thuyết theo lối này hay lối nọ chẳng phải là một chủ trương muốn “giam hãm” người ta hay sao? Do đó, khi trầm tư lúc đêm về, tôi quyết định rằng một cuốn tiểu thuyết phải được viết theo kiểu mà tác giả nó muốn. 

Làm như Carnaval (lễ hội giả trang) nghĩa là mỗi năm chọn một ông vua cho năm đó, bỏ lên kiệu và rước chạy lòng vòng rồi khi hội hè chấm dứt lại bỏ mặc, không thèm ngoáy đầu nhìn, có phải là chiều hướng tiến hóa đúng đắn của lịch sử văn học hay không? Ông vua năm ngoái là ai vậy? Còn năm nay, người nào sẽ được bầu làm vua? Nghĩ tới chuyện đó, người muốn khóc có thể tìm ra lý do để khóc nhưng cùng lúc, người muốn cười cũng có cớ mà cười.

Tôi nhận ra mình đang ăn nói với giọng điệu kẻ cả.Thực tình tôi nào có ý đó. Chỉ hơi lên gân một chút thôi. Nhưng điều đã nhỡ viết ra, xin phép được để nguyên không xóa.

Strindberg (5) đã viết kịch bản “Cuộc khiêu vũ của người chết” (Dodsdansen), trong đó anh chàng Edgar, nhân vật thủ vai chính, vừa mới mở màn đã bị nhồi máu cơ tim, tưởng đã đi luôn. Vợ anh ta hí hửng. Trước khi màn cuối mở ra, anh bị thêm cơn đau tim thứ hai và lúc ấy mới chết hẳn. Sau cái chết đầu tiên, anh đi tìm tiếng tăm và tận hưởng mọi thứ khoái lạc. Anh tiếp tục hành động như vậy cho đến khi chết thật sự. Đó là cuộc khiêu vũ của người chết. Bắt tôi viết thì có khác nào buộc một người chết phải múa may!

Nhân nhớ ra một chuyện, tôi bèn đặt bút viết mấy chữ Shinkiraku (Tân Hỷ Lạc) xuống mặt giấy, nghĩ rằng đề tài này sẽ ăn khách vì có vẻ hấp dẫn người đọc. Thời đại bây giờ, muốn gây sự chú ý với độc giả, phải làm cái gì scandal (gây sốc) một chút. Nhưng đồng thời, cảm  thấy cần giữ thể diện của tạp chí mình đang hợp tác nên tôi bèn gạch ngang 3 chữ Shinkiraku ấy và đổi thành Tsuina (Đuổi Quỷ) vì thấy nhan đề này nền nã hơn.

Tôi định viết về Mame.uchi tức tục lệ ném đậu trừ tà (6) mà tôi có lần được chứng kiến ở một nơi tên là Shinkiraku thuộc khu Tsukiji (7). Sở dĩ tôi có cơ hội bàn đến nó là nhờ anh M.F. (8) cho nên tôi đã hạ bút viết mấy dòng “Tặng anh M.F.” ngay đầu trang. Tôi thấy người ta thường dedicate (đề tặng) sách như vậy nên nghĩ rằng đem áp dụng cho cả loại bài viết đăng tạp chí chắc cũng không sao. Chẳng phải là trong tạp chí, có khi người ta còn ghi thêm “tác quyền thuộc về ...” hay “cấm mọi hình thức sao chép”...đó hay sao? Nhưng tôi không thể làm như vậy vì thấy tội nghiệp ban biên tập phải khó xử và nhất định họ sẽ đánh giá tôi như kẻ hay đòi hỏi quá trớn. Tôi có dịp gặp M.F. trong một vài cuộc thảo luận về kịch nghệ. Anh mời tôi đến cái quán Shinkiraku này ngày 3 tháng 2 vào lúc 6 giờ chiều. Anh đã ghi chú trên tấm thiệp mời là sẽ có một nhân vật X chưa nói tên đến dự bữa ăn tối đó nữa. Anh cho biết người đó không phải đàn bà, chắc chắn là như thế, chính anh là người gửi thiệp mời cơ mà.

Tôi rời văn phòng (9) khoảng 4 giờ chiều. Thu lại đống giấy tờ đang bày dở dang trên bàn làm việc vào trong chiếc cặp dùng lúc hữu sự, tôi khóa cửa. Đầu đội mũ, kiếm đeo ngang sườn, mặc áo đi mưa vào. Khác với mọi ngày, hôm nay tôi cảm thấy có gì phấn chấn. Thường thì tôi chả mấy khi được đi thẳng về nhà vì lúc nào cũng được mời ăn tiệc, nhiều khi phải từ chối hai đám để chỉ đi một. Chỗ tôi lui tới chính ra không nhiều. Chẳng hạn Câu Lạc Bộ Sĩ Quan, các quán Fujimiken, Yaokan, Kogetsu, Khách Sạn Đế Quốc, Seiyôken ... Hạng thấp hơn một chút thì có Takaratei, Fujimirô. Tuy vậy, trường hợp Shinkiraku thì thật hiếm hoi. Các quán Tokiwa, Kotokiwa và Hisagoya tôi đều có dịp nhưng phải nói đối với Shinkiraku đúng là lần đầu. Tôi có cảm tưởng như có một cánh cửa đang mở về một chốn mình chưa từng biết nên háo hức muốn khám phá nó, tuy không phải với hy vọng được gặp một người đẹp. Khi đọc những cuốn tiểu thuyết của trường phái tự nhiên (naturalism, NNT), người ta có cảm tưởng rằng trí tưởng tượng của tác giả thường bị chi phối bởi hình ảnh phụ nữ. Có thể vì các vị ấy là những người trẻ. Nay tôi đã sắp đến lứa tuổi năm mươi nên tính dục không còn là điều chính yếu trong cuộc sống. Tôi nói vậy không phải để làm bộ làm tịch. Hành động như thế đâu đem lại lợi lộc gì. Điều có thể kích thích tôi chỉ là cái thế giới mà mình chưa trải nghiệm. Chẳng hạn như khi dùng con dao rọc giấy để rọc một trang sách sắp đọc.

Ra khỏi công sở, tôi lấy xe điện đường. Đó là một ngày trời âm u,  thỉnh thoảng có những cơn mưa nhẹ kéo đến. Tôi đã sửa soạn một cuốn sách để đọc trên xe nhưng sau 4 giờ chiều, thật khó tập trung đầu óc khi ngồi trên xe điện. Tôi xuống trạm trước chùa Honganji và đi về hướng bờ kênh, lòng thầm nghĩ chắc quán ấy nằm đâu đây nên để ý nhìn từng ngôi nhà một.Tôi thấy hiện ra trước mặt một ngôi nhà nhỏ nhắn và đẹp với tấm biển đề tên chủ nhân là Horigoshi (10). Nhân vật đó tôi đã có dịp gặp hai ba lần. Có lẽ đây là nhà ông chăng? Vừa nghĩ thế, tôi vừa nhảy vài bước để nước khỏi làm bẩn đôi ủng.

Rốt cuộc tôi đã tìm ra quán Shinkiraku. Tòa nhà nằm ngay góc đường và nhìn xuống dòng kênh. Khi đứng trước cánh cửa kính đan mắt cáo, tôi liếc mắt nhìn đồng hồ và nhận ra mình đến quá sớm. Mới 4 giờ rưỡi! So với giờ hẹn, tôi hãy còn một tiếng rưỡi nữa không biết dùng làm gì. Tôi đẩy cánh cửa mắt cáo qua một bên. Đằng sau là một khoảng sân đất nện được dọn dẹp sạch sẽ ngăn nắp. Thấy đôi ủng của mình lấm bùn nên tôi hơi ngượng. Tôi bước vào trong, lên tiếng xin lỗi người ta vì đến trước giờ hẹn và được họ hướng dẫn lên lầu.

Đó là một đại sảnh không có tiền đường, thông ra hướng đông và hướng nam. Hốc phòng để đặt đồ trang trí (tokonoma) nằm phía tây còn hướng bắc là lối cầu thang đưa xuống nhà bếp. Tôi vắt chân chữ ngũ ngồi đợi ở phía đông nam và tự nhủ sẽ cố kiên nhẫn cho đến giờ hẹn.

Ngôi nhà vừa được hoàn thành gần đây thôi. Chiếu tatami lót sàn hãy còn mới. Không có một vệt ố nám nào, khiến tôi thầm nghĩ khách đến đây đều là dân sang trọng. Dù sao thấy cũng thoải mái. Một cô hầu gái mang trà và bánh ngọt đến. Xong, cô lẳng lặng đi ra, không mỉm cười và chẳng nói câu gì thừa thãi khiến tôi thật bằng lòng. Kimono cô mặc màu sắc cũng trang nhã. Tôi uống cạn ly trà và ăn hết miếng bánh. Lật mấy trang sách mình mới cầm lên một cách máy móc và chỉ đọc một cách chểnh mảng. Rút xì gà ra, tôi đưa răng cắt đầu điếu và tiến về cái lò lửa (hibachi) (11) cời than châm thuốc. Chung quanh tôi là một sự im lặng hoàn toàn. Tôi chỉ nghe tiếng guốc gỗ ai đó đang bước trên con đường dọc theo con kênh. Nơi mấy cánh cửa sổ kéo, cao và massif (chắc nịch), có trổ ra những khung thông hơi nhỏ có thể đóng hay mở. Tôi mở một khung như thế nhưng không nhìn thấy ai bên dưới vì người bộ hành đã đi khuất vào một con đường ngang. Tất cả đều một màu xám ngay cả ngôi dinh thự mới và sặc sỡ dùng làm Bảo Tàng Viện của Hải Quân cũng thấy như được tô xám. Một chiếc xe hơi phóng ra từ phía Học Viện Quân Sự và đi về phía tây. Tôi đóng khung cửa sổ lại. Đèn bật lên. Tôi vừa hút thuốc vừa quan sát gian phòng và đi đến một số nhận xét. Đây là một gian đại sảnh rộng, đèn đuốc sáng trưng và sạch sẽ li lai, không có gì cản trở tầm nhìn của tôi. Không có cả mấy bức thư đạo hoành tráng mà người ta cố treo lên tường cho được.Tuy không tránh khỏi việc phải bày đồ trang trí trong cái hốc tokonoma nhưng hoa cắm và mấy bức liễn (kakemono) đều khá kín đáo. Nơi đây đúng là chỗ lý tưởng để vắt chân chữ ngũ mà ngồi xơi cơm và ngắm nghía các cô geisha. Kiến trúc Nhật Bản của thời đại văn minh vật chất này nên học theo gương đó.

Vừa vặn lúc ấy, cánh cửa hướng tây bắc, nghĩa là phía nằm diagonal (chéo góc) đối với chỗ tôi chợt mở ra và có một người bước vào phòng. Đó là một bà lão thấp bé lụ khụ với mái tóc búi củ hành buộc bằng một giải giây. Bà mặc một cái áo chẽn dùng trong nhà màu đỏ.Trên bàn tay trái là một cái hộp gỗ hình vuông. Bà ra tới giữa nhà, không ngồi mà sụp xuống chào tôi, mấy ngón tay phải vừa đủ đụng phớt lên mặt chiếu. Bị bất ngờ, tôi nhìn bà, chưng hửng.

Bà già bắt đầu bốc đậu ném:

- Phúc vào trong, quỷ ra ngoài!

Lúc đó thì cánh cửa kéo phía bắc bỗng mở ra và hai ba cô giúp việc cùng bước vào để nhặt những hạt đậu vương văi.

Cử chỉ của bà lão trông thật nhanh nhẹn làm tôi thấy vui vui. Không cần hỏi ai tôi cũng biết bà là người quản lý cái quán Shinkiraku này.

 

Nietzche từng viết một tác phẩm nhan đề “Hoàng hôn của nghệ thuật” (Abendrote der Kunst) trong đó có đoạn đại ý nói:

Con người khi về già hay nhớ lại thời trẻ và tổ chức sinh nhật cho mình, nghệ thuật cũng vậy. Nghệ thuật chỉ được cảm nhận một cách sâu sắc khi bị ma thuật của cái chết lung lạc. Ở miền nam nước Ý, có một sắc dân gốc Hy Lạp mỗi năm một lần cử hành một lễ hội tôn giáo của quê hương cũ. Có thể nói những gì tốt đẹp nhất nằm trong chúng ta chỉ rập khuôn theo những cảm xúc truyền lại từ thời xa xưa. Mặt trời đã lặn. Bầu trời sinh hoạt của chúng ta có sáng lên cũng là nhờ những tia nắng rớt đến từ nó. Trong lãnh vực tôn giáo hay đạo đức, tất cả đều như thế cả.

Được một chốc thì anh M.F. xuất hiện. Như mọi ngày, anh lúc nào cũng quần tây áo vét. Anh chống bằng bàn tay trái đặt đằng sau lưng để ngồi xuống chiếu rồi bắt đầu tán gẫu với tôi. Nhìn anh, không thể nào nghĩ anh có thể tránh được tiếng đời đồn đại là người chỉ yêu thích những cái đẹp trần tục.

Tôi kể cho anh nghe chuyện ném đậu đuổi quỷ.

-Ừ, hay đấy. Lúc nào mọi người đông đủ, mình nhờ bà ấy ném lại lần nữa đi...

Chính lúc đó thì khách khứa đã đến cả. Trông bọn họ ai nấy đều béo tốt bệ vệ. Các cô geisha được tuyển lựa kỹ càng cũng đã có mặt và nhân số còn đông hơn cả đám khách chúng tôi.

Không nói cũng hiểu, việc ném đậu lần thứ hai chẳng được mấy ai chú ý. 

Câu chuyện chỉ có chừng đó. Tôi xin nói thêm vài điều để cho các nhà phê bình được cơ hội trách móc một tật xấu của tôi là hay tỏ ra rằng ta đây cái gì cũng biết.

Tục lệ đuổi quỷ trừ tà đã có từ lâu lắm nhưng việc ném đậu (mame.uchi) thì chỉ mới bắt đầu sau thời Kamakura (12). Điều đáng lưu ý là ở Roma (La Mã) cũng có một phong tục tương tự. Dân La Mã gọi các hồn ma là lemures và họ cử hành nghi thức đuổi chúng đi vào một đêm tháng 5 (13). Trong cuộc lễ này, người ta ném một loại đậu to (soramame) màu đen ra sau lưng. Ở Nhật thì hình như khi xưa, người ta cũng ném chúng từ đằng trước ra sau lưng nhưng về sau, họ lại đổi hướng đi mà ném về phía trước.

Tháng 5 / 1909

M.O.

Dịch xong ngày 13 tháng 3 năm 2018

 

Chú thích:

(1)   Như trong nguyên văn ( = tình cảm)

(2)   Honoré de Balzac (1799-1850), tiểu thuyết gia người Pháp.

(3)   Charles Lassailly 1806-1843), nhà thơ và thư ký riêng của Balzac từ 1839. Chết vì bệnh thần kinh.

(4)   Ám chỉ Shimamura Hôgetsu (1871-1918), giáo sư Đại học Waseda, còn là đạo diễn sân khấu và nhà văn trường phái tự nhiên (naturalism), người đã đưa ra khái niệm “văn chương bị trói buộc”

(5)   Strindberg (1849-1912), nhà viết kịch người Thụy Điển. Đã viết vở “Cuộc khiêu vũ của người chết” (Dodsdansen) “khoảng năm 1901-1902.

(6)   Còn được gọi là Mamemaki, phong tục ném đậu để đuổi quỷ và rước phúc lộc vào nhà, được cử hành hàng năm vào dịp lễ Setsubun, nhằm ngày mùng 3 tháng 2 ở Nhật.

(7)   Tsukiji là tên khu chợ cá bán sỉ ở Tokyo. Quán ăn Shinkiraku là nơi họp hội đồng chấm Giải thưởng Akutagawa. Quán ấy hiện vẫn còn.

(8)   MF là tên viết tắt kiểu Tây phương (tên trước họ sau) của Fukuzawa Momosuke (1868-1938), doanh nhân tên tuổi, con rễ và dưởng tử của nhà văn hóa đồng thời sáng lập viên Đại học Keiô là Fukuzawa Yukichi (1834-1901). Ông thành công vượt bực trong thương trường nhưng ăn chơi cũng ra trò, có nhiều tai tiếng về đường tình ái với giới diễn viên kịch trường.

(9)   Lúc này, Ôgai đang giữ một vai trò chỉ huy trong ngành quân y của lục quân Nhật.

(10) Có lẽ là tên thật của kép Kabuki Ichikawa Danjurô IX (1838-1903).

(11) Vật dụng cổ truyền dùng trong phòng khách, giống như lò than để nấu nước sôi hay sưởi tay cho ấm.

(12) Thời Kamakura bắt đầu từ 1185 và chấm dứt vào năm 1330 với sự sụp đổ của chính quyền mạc phủ đóng đô ở Kamakura.

(13) Đêm 9, 11 và 13 tháng 5.

 

Tư liệu tham khảo:

1)      Mori Ôgai, Tsuina (Tục đuổi quỷ), 1909, Aozora Bunko (Thư viện trên không), nguyên tác Nhật ngữ.

2)      Mori Ôgai, Exorcisme (Tsuina), 2012, do Ryôji Nakamura và René de Ceccatty dịch sang tiếng Pháp và chú thích trong tuyển tập về Ôgai nhan đề Chimères (Môsô) do Rivages poche, Petite Bibliothèque xuất bản, 2013, Paris.

3)      Hình ảnh minh họa từ Internet.

 

 

 

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com