|
45. Hoa sơn trà (SAZANKA,
1946)

Chắc chúng nở vì đã đến mùa
chứ không có gì lạ
Chiến tranh chấm
dứt hơn một năm rồi. Mùa thu này, số các hộ có người sinh
đẻ tăng lên trong khu vực tôi ở. Mười hộ đã đến bốn.
Trong số bốn sản
phụ ấy, người lớn tuổi và cũng là người từng đẻ nhiều
nhất, lần này đã cho ra đời một cặp song sinh. Hai đứa bé
đều là gái nhưng một trong hai đã mất khi vừa mới lọt lòng
được nửa tháng. Vì lắm sữa nên bà mẹ đã đem số thặng dư
tặng trẻ con hàng xóm. Nhà bên cạnh đã có hai cậu con trai
lớn, lần đầu tiên mới có con gái đầu lòng. Họ nhờ đặt tên
và tôi đã đặt cho nó là Kazuko (Hòa tử). Thông thường, chữ
Hòa được phiên âm là Kazu và chẳng phải là một chữ có lối
đọc khó khăn gì. Khi chọn chữ này, một phần tôi đã cố ý
tránh dùng những chữ Hán có lối đọc phiền phức, phần
khác lo ngại rằng, khi đứa trẻ lớn lên, một cái tên khó
đọc có thể gây phiền hà cho sinh hoạt của nó. Vả lại, Hòa
có nghĩa là hòa bình cơ mà!
Trong số năm đứa trẻ
sơ sinh bên hàng xóm, đã có đến bốn bé gái. Dĩ nhiên đây
chỉ là một sự ngẫu nhiên. Nhiều người nói vui đó là kết
quả của việc Hiến Pháp mới (1) được ban hành. Điều này
cũng đem lại một cảm giác hòa bình. Việc trong 10 hộ đã
có 5 người sinh đẻ có thể là hơi mắn và khác thường nhưng
ít nhất các bà hàng xóm của tôi đã cho thấy rằng việc ấy
phù hợp với nhịp gia tăng nhanh chóng của sinh suất trên
toàn quốc mùa thu năm nay. Khỏi phải nói, ơn huệ này cũng
là do hòa bình mang lại.
Nếu trong thời
chiến sinh suất hạ thấp thì nay đã lên cao vùn vụt. Đông
đảo thanh niên đã được trở về với vợ nhà cho nên điều ấy
có xảy ra thì chẳng làm ai ngạc nhiên.Thế nhưng chuyện mắn
con không chỉ xảy ra trong những gia đình binh lính phục viên.
Đối với những bà mà chồng không phải xa nhà, con số sinh đẻ
vẫn cao. Ngay cả những gia đình không còn tính chuyện sinh
con, khuynh hướng ấy cũng thấy. Sự yên tâm vì chiến tranh đã
qua đi thúc đẩy các bà có bầu. Không có gì chứng tỏ rõ
ràng hơn điều đó sự có mặt của hòa bình.
Chuyện Nhật Bản
bại trận, sự lo âu về những khó khăn của cuộc sống và mối
ưu tư về nạn nhân mãn trong tương lai đều không làm cho các
gia đình này chùn bước. Hành động ấy có tính cá nhân và
do bản năng dẫn dắt. Như dòng suối nghẽn mạch nay được trào
tuôn, như nhánh cỏ khô nay lại đâm chồi. Nếu xem sự gia tăng
sinh đẻ đó như hình ảnh của một cuộc phục sinh hay một sự
giải tỏa để chào đón hòa bình thì đó quả là một điều
hạnh phúc. Dẫu hiện tượng đó bắt nguồn từ một bản năng
động vật nhưng qua đó, ta cũng hiểu được lòng mong mỏi
thiết tha của con người. Và sự hiện diện của những đứa trẻ
sơ sinh sẽ làm cho cha mẹ chúng quên đi bao nỗi lao khổ trong
thời chiến.
Thế nhưng một người
đã 50 như tôi thì buổi hoàng hôn của cuộc đời đã xích lại
gần kề (2), chuyện có con là đã quá chậm. Cặp vợ chồng
già chúng tôi vốn đã hết thiết tha với chuyện gần gũi nên
nay hòa bình có trở về chăng nữa, tập quán ấy vẫn không
sao thay đổi. Choàng tỉnh khi chiến tranh chấm dứt thì cuộc
đời đà xế bóng. Tôi không thể tưởng tượng được nỗi buồn
chiến bại đã làm cho tâm hồn và thể xác của mình bị ảnh
hưởng nhiều đến thế. Làm như thể đất nước và thời đại
của mình đều đã sụp đổ.
Bị dồn vào một
trạng thái buồn thương và cô độc, tôi tự hỏi phải chăng
mình đang từ thế giới bên kia nhìn ngắm tia sáng tín hiệu
của sự sống thông qua những cuộc sinh đẻ bên hàng xóm.
Trong năm đứa trẻ sơ
sinh, chỉ có một bé trai duy nhất và người đẻ ra nó là
sản phụ cuối cùng trong số bốn bà. Tuy vẻ ngoài mập mạp
nhưng vì xương chậu quá hẹp nên khi lâm bồn đã phải mất
nhiều thời gian. Xóm giềng đã nhanh chóng tung tin là khi
nằm cữ, bụng đau quặn chị ta không sao đi tiểu được nên bước
qua ngày thứ hai là đã đứng dậy ra nhà vệ sinh. Tuy là lần
sinh nở đầu tiên nhưng trước đó chị đã có một lần hỏng
thai.
Cô con gái mới 16
tuổi của vợ chồng tôi có vẻ quan tâm đến mấy đứa trẻ mới
ra đời trong khu phố. Hễ nhà nào không tị hiềm là nó đến
thăm nom và kháo chuyện. Đang tự hỏi không biết đang làm gì
trong phòng thì thoắt cái đã thấy nó vùng chạy ra sang bên
hàng xóm để thăm mấy đứa bé. Có lẽ sự thèm muốn đó cũng
đã bất chợt đến với nó. Một hôm, con gái tôi về nhà, bước
vào phòng, đến ngồi trước mặt tôi và hỏi:
-Bố ơi, bố à! Bên
nhà dì Shimamura ấy mà, họ nói đứa bé trước đây nó đã trở
về đấy bố ạ! Có thật không hả bố?
Tôi vội vàng bác bỏ:
-Chuyện đó làm gì
có!
-Thế sao bố?
Mặt con gái tôi dịu
xuống nhưng không phải vì thất vọng. Có lẽ nó vừa đi một
mạch về nhà nên cần nghỉ lấy hơi. Thế nhưng điều nó nói
quả có làm tôi bối rối. Tuy phủ nhận một cách mạnh mẽ
nhưng tôi không biết làm vậy là có nên chăng!
Tôi mới hạ giọng
nói với cháu một cách nhỏ nhẹ:
-Con lại đi thăm em
bé nhà dì Shimamura à?
Con gái tôi chỉ gật
đầu.
-Em bé kháu lắm hả
con?
-Con không biết nó
có kháu hay không? Mới đẻ mà bố!
-À thế!
-Trong khi Yoshiko
đang chơi với em bé, có dì Shimamura đứng bên cạnh thì dì
ấy mới nói với con: “Này cháu Yoshiko, đứa bé này là đứa
trước kia trở về đấy!” . Có phải là dì ấy muốn nói đứa
bé này là đứa mà dì có mang hồi trước hay không hở bố?”.
-Ừ, có lẽ!
Lần này, tôi chọn
một câu trả lời mù mờ nhưng vẫn thiên về hướng phủ nhận:
-Có thể đó là cảm
nghĩ dì ấy mang trong lòng. Thế như làm cách nào dì ấy
dám đoan chắc như vậy? Đứa trước nào đã biết là gái hay
trai. Nó chưa sinh ra kia mà!
-Ừ nhỉ!
Con bé gật đầu,
không nói gì. Lòng tôi thì hãy còn đôi chút vướng mắc nhưng
vì thấy con mình có vẻ không muốn tìm hiểu gì thêm bèn
dừng cuộc đối thoại ở đó. Cái thai đã đến tháng thứ 6 thì
việc phân biệt nó là gái hay trai chắc cũng đã có thể. Tôi
chợt nhận ra điều đó, nhưng thôi, không trở lại chuyện ấy
làm chi.
Tuy nhiên, cái tin
cả hai vợ chồng nhà Shimamura cho rằng đứa con trước của
mình nay trở về qua đứa em đã lan ra khắp xóm giềng, trở
thành đề tài cho họ bàn tán và lọt vào cả tai tôi.
Cho là một lối suy
nghĩ bệnh hoạn, tôi đã phủ nhận nó trước mặt con gái mình
nhưng suy ra cho cùng thì chẳng thấy lý do gì để gọi điều
đó là thiếu lành mạnh. Đối với người đời xưa, đó không
phải là bệnh hoạn nhưng chỉ là lối suy nghĩ thông thường.
Hiện nay thói quen này cũng chưa hoàn toàn mất hẳn. Có thể
người ngoài không ai hiểu được là trong lòng vợ chồng nhà
Shimamura, họ tin tưởng một cách thực thà và chắc mẩm rằng
đứa con mình vừa sanh là đứa trẻ ngày xưa trở về. Cho dù
đó chỉ là một câu chuyện chỉ đáng cho người ta thương cảm
nhưng riêng với hai vợ chồng, chắc chắn là ý nghĩ đó đã
làm cho họ vui và an ủi họ rất nhiều.
Đứa con đầu là kết
quả của một lần về phép ba ngày của Shimamura nhân một
cuộc chuyển quân của phân đội anh. Vợ anh có thai nhưng cái
thai lại bị hỏng trong lúc anh trở về đơn vị.Thế rồi sau
khi anh phục viên được hơn một năm thì họ lại có đứa bé
này. Việc đánh mất đứa con trước không khỏi để lại đau xót
và nuối tiếc như thế trong lòng cặp vợ chồng.
Con gái của tôi
cũng gọi “đứa bé trước” bằng cái tên “thằng bé đó” như thể
là một nhân vật mà nó cảm thấy là có thực. Thế nhưng
người ngoài dĩ nhiên không một ai tỏ vẻ đồng tình. Chắc
trước sau chỉ có vợ chồng Shimamura là hai người ăn nói như
thể “đứa bé trước” có thực. Tôi không dám chắc là đứa bé
ấy từng có một sự sống. Nó chỉ đã có mặt trong bào thai
và chưa từng tiếp xúc với ánh sáng của cuộc đời. Có thể
nó hãy còn chưa có một cái gọi là linh hồn. Thế nhưng
biết đâu nó chẳng đã đi chung một đoạn đường với chúng ta
dù chỉ là năm mươi hay một trăm bước và đã sống trong một
trạng thái hết sức đơn thuần và hết sức hạnh phúc. Ít
nhất ở nơi nó đã đọng lại một niềm ao ước được sống còn
nào đó.
Dĩ nhiên không thể
chấp nhận là “đứa bé trước” và “đứa bé bây giờ” sinh ra từ
một trứng. Thế nhưng chúng ta cũng không thể nào hiểu hết
những tương quan sinh lý và tâm lý giữa lần hỏng thai kỳ
trước và đậu thai kỳ sau. Hơn nữa, chúng ta cũng không hề
nắm được việc thụ thai đã bắt nguồn từ đâu và vào lúc
nào cũng như về ước vọng tồn sinh của cái bào thai ấy.
Cũng có thể nói là chúng ta không biết sự sống của “đứa
bé trước” và sự sống của “đứa bé sau” có độc lập với
nhau hay bao hàm trong một khối hay không nữa. Chuyện xem “đứa
bé trước” tức là kẻ đã chết nay lại thác sinh để trở về
chỉ là một sự suy đoán xét về mặt tri thức thì hoàn toàn
phi khoa học. Có điều là chuyện thác sinh tuy không có căn cứ
khoa học nhưng việc đưa ra một chứng cớ để phủ nhận nó
cũng khó khăn không kém.
Khi tôi bắt đầu
thấy mình có một chút đồng cảm với vợ chồng nhà Shimamura
thì tự nhiên trong lòng tôi cũng dậy lên một sự đồng cảm
nào đó với đứa bé bị hỏng từ trong thai mà trước đây tôi
không hề để tâm. Tôi khởi sự nhận thức về nó như một người
đã có lần sống.
Chuyện chị vợ của
anh Shimamura đau bụng mà không chịu đi bô trên giường cữ, qua
ngày thứ hai đã đứng dậy, chứng tỏ chị là người ưa những
gì đẹp đẽ, tươm tất. Con gái của tôi khi khâu đan hay có bài
thủ công nộp cho nhà trường đôi khi vẫn thường qua vấn kế.
Có lẽ con gái tôi thấy nhà của chị là nơi dễ qua lại vì
cho đến khi thân tộc của họ vì mất hết của cải trong những
đám cháy ở Tôkyô (3) đến nương náu, chị ấy chỉ sống với
mỗi bà mẹ được gọi lên từ dưới quê. Với tư cách là người
chịu trách nhiệm phòng hỏa trong khu phố, tôi cũng có bổn
phận chăm sóc cho ngôi nhà của gia đình neo đơn vì có người
ra trận, vỏn vẹn mỗi cô vợ đang mang thai và người mẹ già.
Sở dĩ tôi được giao cho chức đội trưởng đội cứu hỏa vì cư
dân trong khu phố toàn là công nhân viên, chỉ có mình tôi là
có mặt ở nhà vào ban ngày. Tuy không hẳn là điều người ta
chờ đợi, có lẽ tôi là người thích hợp hơn hết với vai trò
này. Bản tính lười nhác, tôi không phải là người thích đẩy
thiên hạ vào những chuyện nguy hiểm cho bằng được nên việc
họ giao việc gác đêm cho tôi có thể xem như hợp lý. Là
người thức khuya để đọc và viết cho đến sáng, tôi xứng
đáng với vai trò canh gác này nhưng trước sau vẫn tìm đủ
mọi cách để khỏi phá rộn giấc ngủ của bạn hàng xóm. Tôi
có đi tuần để xem chừng củi lửa nhưng không đánh thức ai.
May thay là ở Kamakura (4), người ta chỉ đòi hỏi có chừng đó.
Một đêm vào độ hoa
mơ nở, vì thấy có ánh lửa leo lét từ phía bếp nhà
Shimamura, tôi mới bám tay vào cánh cửa hậu bằng gỗ của khu
vườn và nhón chân xem, chẳng ngờ để rớt cây gậy cầm tay bên
trong hàng rào. Định bụng là hôm sau sẽ trở lại lấy nhưng
lại lo rằng việc đánh rơi cây gậy giữa đêm hôm trong khuôn
viên một ngôi nhà chỉ có phụ nữ sẽ làm cho thiên hạ điều
tiếng. Thế nhưng, chiều hôm sau, phía họ đã đem gậy đến trả
lại cho tôi. Vợ anh Shimamura gọi đứa con gái tôi đến và nói:
-Cây gậy này là do
bố em hôm qua đi tuần đánh rơi đấy.
-Ôi dào! Rơi ở đâu
vậy hở dì?
-Ngay bên trong cánh
cửa gỗ sau vườn.
-Sao lạ vậy nhỉ?
Ông già cháu lơ đãng thật.
-Chắc tại trời tối
nên bác nhà mới ...
Tôi nghe tiếng hai
người nói với nhau như vậy.
Khu gia cư của chúng
tôi tôi tuy ở vùng Kamakura nhưng chỉ nằm ở một khu đất
trũng tựa lưng vào đồi núi. Mỗi lần máy bay ném bom, tôi
thuộc đám người nhanh nhẩu nhất chạy đi tìm chỗ trú. Sau
khi leo lên tận cửa vào hố trú ẩn đào theo hàng ngang trên
ngọn núi sau nhà là có thể phóng tầm mắt nhìn được cả
xóm nhà mình.
Ngày hôm đó, oanh
tạc cơ đến từ mẫu hạm đã đến tấn công, có lúc tôi nghe
những tiếng nổ lớn và tiếng súng réo dữ dội trên đầu.
--Chị Shimamura, coi
chừng, nhanh lên chút coi!
Tôi vừa gọi vừa
bước năm sau bước ra khỏi miệng hầm, nhưng:
-Chết chửa, coi kìa,
lũ chim nhỏ đang sợ đến cuống lên!
Lúc đó, trong tàng
cây mơ cổ thụ có vài ba con chim non. Chúng đang chuyền trên
cành nhưng tuy đập cánh liên tục mà không tiến xa được chút
nào. Những cái đập cánh kia giống như người kinh phong bị co
giật, không chỗ dựa trong khoảng không gian chật hẹp nằm
giữa tàng lá xanh. Cánh dù có đập nhưng chim tiến tới gần
cành mà vẫn không sao chụp lấy được vì khi hai chân vừa đưa
ra đằng trước thì người đã ngã xuống phía sau.
Từ bên miệng hầm,
chị Shimamura cũng đưa mắt nhìn mấy con chim non đang run rẩy.
Chị ngồi xổm, móng chân như bấu xuống mặt đất, hai tay ghìm
chặt lấy đầu gối và đầu ngẩng lên.
Thân của lùm trúc
bên cạnh như bị trúng một mảnh vỡ nào đó, phát ra một
tiếng động sắc nhọn.
Tình cảm đồng tình
với câu chuyện thác sinh trong nhà vợ chồng Shimamura lại
khiến hình ảnh những con chim non hoảng sợ hiện ra trong trí
tôi. Chắc lúc đó đứa bé bị hỏng đang nằm trong bụng của
mẹ nó.
Thế rồi đứa bé
lần này đã ra đời không có vấn đề.
Trong thời chiến,
chuyện đàn bà hỏng thai không phải là ít. Con số đậu thai
cũng hiếm. Chu kỳ sinh lý của phụ nữ cũng thường bị đảo
lộn. Thế mà mùa thu năm nay, trong khu dân cư mười hộ như ở
đây đã có đến bốn hộ có sản phụ.
Tôi dắt theo đứa con
gái đi ngang nhà Shimamura thì thấy bên bờ giậu, hoa sơn trà
(5) đã bắt đầu nở. Chắc chỉ vì chúng đã đến mùa chứ
không có gì lạ.
Một mặt, tôi đâm ra
thương cảm cho số phận những đứa bé đã vì chiến tranh mà
không hề được hưởng ánh sáng của cuộc đời. Mặt khác tôi
cũng xót xa cho một phần của cuộc đời mình đã bị chiến
tranh cướp mất. Và tôi tự hỏi không biết một mai khi lại
thác sanh, mình sẽ trở thành một cái gì nào!
(Dịch
ngày 29 tháng 9 năm 2018)
(1) Hiến Pháp hòa bình năm 1946 biên soạn dưới sự chỉ đạo
của Lực lượng chiếm đóng. Trong đó, do ảnh hưởng của dư
luận Mỹ, vai trò của phụ nữ Nhật đã được nâng cao.
(2) Lối suy nghĩ dựa trên tuổi thọ bình quân của người Nhật
thời xưa: “Nhân sinh ngũ thập niên”..
(3) Ý nói hỏa hoạn gây ra bởi những cuộc không kích của
máy bay Đồng Minh vào giai đoạn cuối chiến tranh.
(4) Thành phố nằm cạnh Yokohama, vào thế kỷ 12-13 là thủ
phủ của Mạc phủ nhưng không phải là địa điểm chiến lược
vào lúc tác giả sinh sống.
(5) Sơn trà tức Camellia Sasanqua, loài hoa thuộc họ Trà
(Camellia) vốn sinh nơi hoang dã trong núi nhưng được đem về
trồng trong vườn hay dùng làm rào giậu. Đặc biệt mọc nhiều
ở miền Nam và Tây Nam Nhật Bản. Hoa nhiều màu nhưng giống
hoa sắc đỏ tươi, cánh kép thường được yêu chuộng nhất.
(Mời xem tiếp
Tập IV)
|