TRUYỆN BÊN TÂY

(Furansu Monogatari, 1909)

Nguyên tác : Nagai Kafuu

Dịch : Nguyễn Nam Trân

 

( V ) CÚI ĐẦU TRƯỚC TƯỢNG MAUPASSANT

(Môpassan no sekizô wo haisu)

ヤフオク! - フレデリック・チャイルド・ハッサム ワシントン...

    Ảnh minh họa

 

Trước tiên, lư do khiến tôi đă cắm đầu học tiếng Pháp, ôi chao, thưa thầy Maupassant, là v́ tôi muốn thưởng thức hơi văn của thầy trong nguyên tác chứ không phải thông qua bản dịch tiếng Anh. Tôi thèm được đọc từng câu từng chữ tự tay thầy viết ra và bằng chính đầu lưỡi của tôi.

Khi tôi lên đường sang Mỹ th́ trước đó ở Nhật, tôi chỉ mới lướt qua một ṿng văn phạm tiếng Pháp. V́ thế, lúc rời tàu và đặt chân trên đất Mỹ, thay v́ luyện tiếng Anh, tôi đă đi kiếm ngay một ông thầy dạy tư để kèm Pháp văn cho ḿnh. Những người quen biết hồi đó đă bảo : « Quái, cậu sang bên Mỹ để học tiếng Pháp à ? Nếu thông thạo tiếng Anh, cậu sẽ được mướn đi làm ngay, chứ học tiếng Pháp, hỏi biết bao giờ mới có ! ». Nhưng tôi cứ mặc họ muốn nghĩ ǵ th́ nghĩ.

Đến nỗi sau khi đặt chân đến Mỹ cả hai năm rồi, tôi vẫn chưa nghe thủng một cuộc đối thoại giữa hai người Mỹ. Thế nhưng, dù có gặp khó khăn, với quyển từ điển trên tay, tôi đă bắt đầu lần ṃ để hiểu được nội dung một cuốn sách của thầy, nếu gặp loại dễ đọc.

Chính ra tôi có thể tự hào là so với một người Nhật b́nh thường, tôi biết nhiều hơn họ về việc dạy tiếng Pháp trong các trường đại học Mỹ, cuộc sống của kiều bào Pháp cũng như tất cả những ǵ liên quan đến nước Pháp trên đất Mỹ..

Thầy hay sử dụng tiếng lóng (argot) trong những mẩu đối thoại giữa các nhân vật cũng như trong thuật sự để mô tả các t́nh huống cho được sống động. Để thấu hiểu được điều đó, phải tiếp xúc thật gần gũi với nếp sống của người dân Pháp. Cho nên tôi rất lấy làm thích thú v́ trong khoảng gần hai năm trời, tôi đă có nhiều dịp ăn bánh ḿ và uống rượu vang với các bạn Pháp sống chung với tôi hồi tôi làm việc ở một ngân hàng New York. Các đồng nghiệp Mỹ cứ ngỡ là tôi không nói được tiếng Anh.

Bằng bất cứ giá nào, tôi muốn ḿnh sẽ thấy được tận mắt cái xă hội mà thầy mô tả, bằng cách đến  thăm nước Pháp. Nếu giấc mơ này không thực hiện được, tôi quyết tâm sẽ không về lại Nhật cho dù cha mẹ tôi có lâm bệnh bất ngờ. Đó là ư nghĩ duy nhất đă giữ chân tôi lại trong khu phố thương mại của thành phố New York nằm trước mặt bờ Đại Tây Dương.Tiếng máy đánh chữ vọng ra ồn ào từ những cánh cửa sổ của các ṭa nhà chọc trời - cao đến hai mươi mấy tầng - đang tụ lại thành chùm như đang chụm đầu bàn bạc với nhau. Đă bao nhiêu lần tôi đă phải khóc thầm khi nghe tiếng c̣i tàu thủy chạy bằng hơi nước mơ hồ vọng lại khi chúng bắt đầu rời bến để làm một chuyến viễn dương về hướng Âu châu. Một lần khác, suốt cả ngày ngồi dưới ngọn đèn thắp bằng khí đốt, tôi đă gục cái đầu đau khổ vào cánh cửa lạnh lẽo một tủ sắt to vĩ đại và đă muốn uống thuốc độc ḿnh để tức khắc được nằm ngủ yên trên một quyển sách của thầy thay cho chiếc gối. Khi đó, tôi đă nhớ về thầy, một thiên tài, từng làm việc tại Bộ Hải Quân khi hăy c̣n là một kẻ vô danh. Cũng thế, Edmond de Goncourt, người đă tưởng tượng ra cảnh tự sát của ḿnh, tuy không biết làm toán cộng 2 với 2 là mấy nhưng ông từng là nhân viên kế toán ở Bộ Tài Chánh trước khi được mẹ để lại một món tiền thừa tự.

Vâng, một người đàn bà Mỹ đă đi kiếm thuốc độc cho tôi. Cô ta là nhân t́nh của tôi suốt ba năm trời. Không có một cuộc đời nào tàn nhẫn hơn là đời một người đàn bà và không có một cuộc đời nào ích kỷ và đáng ghét hơn là đời một gă đàn ông. Đó là điều mà thầy đă đề cập đến trong tác phẩm « Một cuộc đời » (Une vie) và những quyển sách khác. Cô bạn tôi đă dấu một lọ thủy tinh đựng «móc phin» vào sâu trong ngắn kéo bàn phấn của cô và hằng đêm, ngồi trước mặt nó để hy vọng đến một ngày nào đó, sẽ dám dùng để kết thúc cuộc đời đầy cay nghiệt của ḿnh, c̣n tôi, tôi đă t́m cách lấy được nó bằng cách đánh lừa nàng. Đột nhiên lúc đó, ngân hàng thuyên chuyển và gửi tôi qua một chi nhánh bên Pháp. Tôi th́nh ĺnh từ giă New York sau khi đă ru ngủ nàng bằng những lời đường mật cho dù tôi đă hứa hẹn sẽ cùng quyên sinh với nàng nếu hai đứa có  phải xa nhau. Thế mới biết đam mê nghệ thuật của tôi c̣n mạnh hơn cả t́nh yêu tôi có. Tôi đă nói với nàng rằng sự « Vĩnh biệt»(Adieu) đă nằm trong định mệnh của con người, không ai có thể tránh khỏi, cho dù là một cuộc sinh ly hay tử biệt. Nàng không đọc được tiếng Pháp nhưng đă mua lại từ tôi hầu hết các tác phẩm thầy viết khi chúng tôi phải xa nhau. Ôi, tôi nghĩ rằng không có một con thú nào lại có thể tàn nhẫn và đáng ghét cho bằng tôi trên cơi đời này. Tôi không thể nào trở thành một nghệ sĩ thực sự, ngay cả sau khi đi lại với giới văn nghệ sĩ Paris, bởi v́ tôi là một kẻ đáng ghét và đáng bị nguyền rủa bởi người đàn bà ấy. Nàng đă biến mất như một làn gió, cho dù nàng c̣n ở trong thế giới này hay đă đi về cơi khác.

Ôi, thầy Maupassant yêu quí !Khi tôi vừa đặt chân đến Paris, tôi đă gọi một chiếc xe ngựa và bảo họ đi theo lời ghi trong tập sách hướng dẫn, và giờ đây, tôi đang sụp người xuống trước pho tượng đá của thầy đây. Trong Công viên Monceau đầy cây xanh này, vào những buổi xế trưa như hôm nay, các bà vú em trong khu phố đang chăn mấy em bé chơi đùa trên băi cỏ, giống như cảnh tượng thầy vẫn thường miêu tả. Một người đàn bè trẻ, chắc đang lén đi thăm t́nh nhân, bước  cạnh một hồ nước lặng im và tối. Bức tượng của thầy được dựng lên trên thảm cỏ để ai nấy đều có thể nh́n thấy. Nó nằm cạnh tượng của Ambroise Thomas người đă làm nên tên tuổi trong giới kịch nghệ Opéra của Paris v́ đă soạn vở tuồng Mignon, phỏng theo tác phẩm Goethe viết ra. Đằng sau tượng của thầy là mấy mấy hàng thông rậm rạp, và ngay bên cạnh, lại có một cây cầu cũ bằng đá bắc ngang một ḍng nước chảy vào hồ.

Tượng bằng cẩm thạch trắng của thầy là pho tượng bán thân tạc một khuôn mặt đàn ông cương nghị ở độ tuổi 40. Trên trán thầy lúc ấy hăy c̣n chưa hằn những đường gân máu biểu lộ sự bất an và nóng nảy như tôi đă có dịp thấy trong những bức ảnh chân dung. Cách biểu hiện của khuôn mặt trên pho tượng cũng hiền ḥa hơn. Tượng của thầy được đặt trên một cái bệ cao và dưới chân nó là tượng một người đàn bà ngồi lệch qua một bên, khuỷu tay đặt trên một cánh tay, chân duỗi ra và ở đầu gối có đặt một quyển sách đang mở. Theo sách hướng dẫn cho biết th́ nàng tượng trưng cho h́nh ảnh các độc giả của thầy đấy. Khuôn mặt ấy thanh tú, tự tin, có hơi điệu đà đồng thời cũng đượm vẻ buồn rầu và bệnh năo, khó ḷng tả sao cho đúng. Có lẽ đây là dấu ấn của của nhà điêu khắc khi cố gắng tŕnh bày qua những đường nét trên khuôn mặt nàng, biểu tượng cho tất cả nội dung tác phẩm của thầy. Trên một mặt khác của cái bệ, tôi thấy có ghi mấy ḍng chữ « Để tưởng nhớ Guy de Maupssant » (Hommage à Guy de Maupassant).

Thầy ơi, nếu ở trong ḷng đất mà thầy biết được người ta đă dựng cho thầy một bức tượng bằng đá đồ sộ cỡ này ở một nơi công cộng, chắc thầy bực ḿnh lắm nhỉ ? Khi tác phẩm buổi đầu có tên là « Tảng Mỡ » (Boule de Suif) có nghĩa là một người đàn bà tṛn trịa và phốp pháp được đăng vào phần đầu của « Những buổi tối ở Medan » (Soirées de Medan) tuyển tập truyện ngắn tập trung nhiều cây bút của trường phái tự nhiên do Zola chủ biên, hiệu sách đă sử dụng một bức chân dung của thầy mà không xin phép trước. Thầy đă nói với vẻ không bằng ḷng rằng « Tác phẩm của tôi thuộc về độc giả nhưng h́nh ảnh của tôi chỉ thuộc về tôi thôi ». Việc người ta đem ra cho công chúng những lá thư mà thầy gửi cho ân sư Gustave Flaubert cũng đă làm cho thầy buồn không ít. Những việc ấy khiến cho tôi thầm trách thế hệ tương lai đă không đếm xỉa ǵ tới di chí của người đă khuất nhưng đồng thời cũng phải nhận ra rằng có biết bao là người ngưỡng mộ thiên tài của thầy. Ngay cả tôi, một kẻ sinh ra ở vùng Cực Đông, đă không quản việc đánh mất cả t́nh yêu mà lặn lội từ phương xa tới đây chỉ để cúi đầu trước bức tượng của thầy. Tôi tin rằng nếu thầy hiểu được niềm hạnh phúc đang dâng lên trong ḷng tôi th́ chắc chắn thầy sẽ cười kh́ và tha thứ cho sự dại dột của đám con cháu.

Tôi không cần phải giới thiệu ǵ thêm về danh sách những sáng tác của thầy cho đồng bào của tôi bên Nhật, bởi v́ từ 10 năm này tác phẩm của thầy đă được dịch ra liên tục trong giới văn bút bên đó.

Tôi muốn sống một cuộc đời văn nhân đầy đau thương thống hận, để rồi lâm vào cảnh loạn trí và định kết liễu đời ḿnh, như thầy vậy. Khi tôi đọc tác phẩm thầy viết, tôi t́m ra được là về phương diện tư tưởng, giữa thầy và tôi đă có những điểm trùng hợp đến độ tôi phải kinh ngạc. Té ra th́ từ 30 hay 40 năm về trước, thầy đă cảm được những điều mà chúng tôi mới thấy bây giờ.

Dường như đối với thầy th́ cuộc đời này thật là đơn điệu và nhàm chán, không thể nào chịu nổi, có phải thế không ạ ? Người ta nói về t́nh yêu, về đam mê...nhưng rốt cuộc, tất cả chỉ là những ảo ảnh dối trá. Con người không biết rằng mỗi cá nhân đều đơn độc và sự cô độc ấy không một ai có thể chịu nổi, kể cả thầy. Thầy không muốn nh́n nó như sự khốn khổ do tuổi tác gây ra. Tôi cũng vậy, tôi không bằng ḷng tí nào về những lớp tế bào làm thành cơ quan của thân thể con người mà Thượng Đế đă tạo ra, như thầy đă nhắc đến trong « Vẻ đẹp vô ích » (L’Inutile Beauté). Tôi cũng vậy, một ngày nào nào đó, tôi sẽ ngồi xuống viết và đồng thời hít lấy hơi ê-te (éther) để mơ về cơi vĩnh cửu như điều mà thầy đă giải thích trong kư sự du hành có tên là « Trên mặt nước » (Sur l’eau).

Bây giờ tôi phải đi đến nghĩa trang Montparnase để viếng mộ thầy đây. Xin hăy vui ḷng nhận bó hoa tôi đem đến phúng. Ôi, thầy Maupassant thân mến ! Tôi kính yêu thầy biết bao!

 
Dịch vào tháng 6/2021

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com