TRĂNG LỒNG BÓNG NƯỚC

(Suigetsu, 1953)

Nguyên tác: Kawabata Yasunari

Dịch: Nguyễn Nam Trân

Một hôm, thiếu phụ nẩy ra ư tưởng dùng cái gương tay (tekagami) của ḿnh để giúp người chồng đang nằm liệt giường trong căn pḥng trên gác hai, thấy được phần nào khu vườn rau dưới nhà. Chẳng cần làm ǵ hơn thế mà nàng đă có thể mở một cánh cửa mới cho cuộc đời của chồng ḿnh và nhất định là ảnh hưởng của hành động ấy không chỉ dừng lại nơi đó.

Chiếc gương tay kia là bộ phận của cái bàn kính để đồ trang điểm (kyôdai) Kyôko (Cảnh tử) mang về nhà chồng như của hồi môn. Bàn ấy tuy không lớn lắm nhưng là gỗ dâu tằm và cái khung bọc gương cũng được làm bằng cùng một chất liệu. Món đồ đó nhắc cho nàng cảnh thẹn thùng hồi mới cưới, mỗi lần dùng nó để nḥm cho rơ h́nh ảnh mớ tóc sau gáy phản chiếu từ cái gương lớn ba mặt của bàn kính. Những khi làm động tác đó, ống tay áo của nàng hay trượt xuống lộ ra cánh tay trần cho đến giữa khuỷu tay.

-Kyôko, em vụng quá. Đưa đây, anh giữ cho nào.

Khi nàng từ bồn tắm đi ra, người chồng dường như thích thú khi có cơ hội cầm cái gương tay để nh́n đủ các góc độ cái cần cổ người vợ phản chiếu từ tấm kính lớn. Không hiểu anh ấy có khám phá được điều ǵ mới trong lần đầu nh́n những h́nh ảnh đó phản chiếu lại trong cái gương tay không nhỉ? Thực ra, Kyôko đâu có vụng về, chẳng qua cái làm nàng ngượng điếng cả người là tia nh́n của chồng khi anh quan sát vợ từ sau lưng.

Được đặt trong ngăn kéo bàn kính nên màu gỗ dâu của cái gương tay chưa đủ thời gian để phai đi. Thế rồi chiến tranh bùng nổ, họ phải đi sơ tán rồi người chồng lâm bệnh. Lúc Kyôko có ư định dùng cái gương tay giúp chồng ḿnh thấy khung cảnh vườn rau th́ mặt gương đă mờ c̣n viền khung dính đầy phấn và bụi bặm. Nàng không bận ḷng cho lắm v́ dù sao kính vẫn c̣n in được h́nh ảnh. Kể từ hôm ấy, con bệnh giữ riệt cái gương tay bên gối và lau chùi mặt kính lẫn khung gỗ thật kỹ với sự lo âu và dễ cáu kỉnh của một người đang lâm trọng bệnh. Kyôko để ư thấy chồng ḿnh thường hà hơi lên mặt gương, lau nó rồi kiểm tra xem đủ sáng bóng hay chưa. Nàng tưởng tượng là cho dù mấy vệt mờ bám trên gương đă biến mất, chắc hẳn c̣n có những con vi trùng lao ẩn nấp bên trong những vết rạn của khung gương, nơi mắt thường không thể nh́n thấu.

Khi chải tóc cho chồng, Kyôko nhỏ vài giọt dầu hoa trà (camelia) lên tóc anh. Lúc ấy, anh sẽ dùng ḷng bàn tay xoa xoa tóc rồi lau chùi khung gỗ cái gương tay cho thật bóng trong khi vẫn để bàn trang điểm y nguyên với màu gỗ của ngày xưa.

Kyôko đă mang cái bàn trang điểm đó theo khi nàng tái giá.

Tuy nhiên, về phần cái gương th́ nàng đă đặt vào trong chiếc ḥm của người quá cố với ư định cho nó cháy theo khi đem xác anh đi thiêu. Rốt cuộc nàng đổi ư và thay thế nó bằng một chiếc gương tay khác có chạm khắc kiểu Kamakura[1]. Nàng không hề tiết lộ chuyện này cho người chồng thứ hai.

Theo tục lệ, hai bàn tay của người chết phải chắp lại và những ngón tay đan vào nhau nên khi đặt cái gương tay vào trong linh cửu, nàng không thể nào mở tay anh để anh nắm lấy nó.

Nàng th́ thầm:

-Lồng ngực anh đă chịu nhiều đau đớn. Chả lẽ c̣n để thêm cái vật nặng này lên.

Lúc đầu nàng định đặt cái gương tay lên trên ngực người chết để tưởng nhớ vai tṛ quan trọng của tấm gương ấy trong đời sống vợ chồng nhưng sau đó,  nàng đă dời về phía bụng anh và dấu nó dưới những đóa cúc trắng, tránh cho bằng được cặp mắt bố mẹ và anh em anh. Không một người nào phát hiện cái gương ấy. Đến lúc nhặt tro cốt th́ miếng thủy tinh đă chảy tan và trở thành một thể khối màu xám và vàng nhạt không đều đặn.

Có ai đó đă thốt lên:

-Ô ḱa! Trông giống một miếng thủy tinh! Không hiểu đó là cái ǵ nhỉ?
Thực ra, thiếu phụ c̣n đặt lên trên cái gương tay ấy một cái gương khác nữa  nhỏ hơn, h́nh chữ nhật và có hai mặt, vật mà ngày xưa nàng đă mơ là sẽ mang nó theo trong tuần trăng mật. V́ chiến tranh, hai người đă không đi được đâu cả và nàng chưa có cơ hội sử dụng nó lần nào suốt thời gian người chồng trước c̣n sống.

       

Bàn kính và gương tay kiểu cận đại 

Về phần người chồng sau th́ anh đă đem được nàng đi hưởng tuần trăng mật. Nhân da cái xắc đựng đồ dùng hàng ngày của nàng bị mốc, nàng đă phải mua cái xắc thứ hai. Trong xắc đó dĩ nhiên là có chỗ cho cái gương tay.
Ngày đầu tiên của tuần trăng mật, người chồng sau vừa vuốt ve nàng, vừa nói: “Tội nghiệp chưa, em vẫn giống như một cô thiếu nữ!”. Giọng của ông lúc đó không có lấy một chút mỉa mai, ngược lại, nó chứng tỏ ông hạnh phúc khi bất chợt khám phá được điều đó. Một người chồng đến sau có thể vui mừng khi thấy vợ ḿnh vẫn c̣n son như thiếu nữ, nhưng đối với nàng th́ câu nói đó đă làm nàng đau khổ đến hụt hẫng và cảm thấy lệ nóng trào dâng trong mắt. Nàng co rụt người. Không biết cả điều đó có khiến người chồng thấy nàng là trẻ con không?

Kyôko không làm sao nh́n rơ để phân biệt rằng ḍng lệ đang tuôn ra là khóc cho thân phận ḿnh hay cho người chồng đầu tiên. Tuy nhiên, nàng hơi hối hận v́ đă có một chút ưu tư như thế đối với người chồng đang ở bên cạnh ḿnh nên muốn làm điệu một chút để an ủi:

-         Không phải đâu ḿnh. Chẳng lẽ khác nhau đến thế?

Nói vậy nhưng cảm thấy đă lỡ lời nên nàng sượng sùng và đỏ bừng đôi má.

Chồng của nàng trả lời với một giọng măn nguyện:

-Anh thấy ngay là em hăy chưa sinh đẻ lần nào..

Nhận xét này làm nhói tim nàng một lần thứ hai. Đứng trước cái dũng mănh nam nhi khác với người chồng trước, nàng cảm thấy ḿnh như bị anh lăng nhục, coi là một món đồ chơi.

-Nhưng lúc nào em cũng có cảm tưởng như ḿnh phải chăm sóc một đứa con mọn đấy.

Nàng chỉ có thể phản đối tới múc đó. Dù bây giờ người chồng trước đă chết, nhưng v́ nằm bệnh quá lâu, nàng vẫn thấy anh ấy hăy c̣n sống ở đâu đó trong người ḿnh như một đứa bé con. Có điều là sự cấm dục mà họ ǵn giữ một cách kỹ càng không đem lại lợi ích ǵ. Bề nào th́ bệnh anh ấy cũng đă vô phương cứu chữa.

-Anh chỉ thấy Mori[2] từ cửa sổ toa tàu trên tuyến dường Jôetsu[3]. Anh ta nói với người vợ trẻ về thành phố quê hương nàng để hướng nàng trở lại với ḿnh.  

-Cứ như cái tên của nó, chắc là một thành phố xinh xắn nằm trong một khu rừng. Thế em sống ở đó có lâu không?

-Em ở đó cho đến hết bậc trung học. Sau đó nhà nước trưng dụng vào làm việc cho công xưởng vũ khí ở Sanjô.

-Chà, em ở gần Sanjô à? Con gái Sanjô xứ Etchigo nổi tiếng là đẹp mà. Hèn chi người em trông xinh xắn quá.

-Em đẹp chỗ nào đâu!.

Kyôko đưa bàn tay lên che lấy chỗ đang mở hé của manh kimono nàng đang mặc.

-Tay chân đẹp th́ cả người em cũng phải đẹp chứ?

-Không đâu...

Thiếu phụ gạt nhẹ bàn tay đang tí toáy trên ngực ḿnh qua một bên.

Ông chồng bèn thủ thỉ vào tai Kyôko:

-Anh nghĩ anh sẽ không nề hà ǵ việc cưới Kyôko ngay trường hợp em đă có con. Anh sẽ nh́n nhận và nuôi dưỡng con em. Thế nhưng nếu là một bé gái th́ tiện cho anh hơn. 

Lời tỏ t́nh kỳ quặc này của người chồng có thể lư giải được v́ ông ta đă có một mụn con trai. Việc cậu con riêng ấy đang sống ở nhà ông khiến cho tuần trăng mật kéo dài những mười ngày này có một ư nghĩa riêng. Nó khiến cho nhiều việc được giải quyết đồng thời một cách tế nhị.

Ông có một cái túi bằng da thuộc, loại hàng phẩm chất tốt. Tuy không mới nhưng bền chắc và đựng được nhiều. Nó bóng láng, có thể v́ ông đi du lịch nhiều hoặc ông biết ǵn giữ cẩn thận. Cái túi đồ dùng Kyôko đang có không sao b́ kịp. Nàng mới đâm ra tiếc cái túi cũ nàng để mốc meo mà không hề dùng tới. Chỉ có cái gương tay nhỏ là nàng đă đem đặt trên người chồng trước để nó tháp tùng anh qua thế giới bên kia.

Mảnh thủy tinh đă chảy và tan biến vào với cái gương tay nên ngoài Kyôko ra, không ai có thể nghi ngờ rằng lúc đầu, đă từng có hai vật thể khác nhau. Chưa một lần nào nàng hé lộ về nguồn gốc của cái đống h́nh thù quái dị kia. Thế th́ đâu có ai nghi ngờ được sự thực đó.  

Tuy nhiên, đối với thiếu phụ th́ tất cả những con người xưa kia có thời in bóng trong hai cái gương đó đă bị hủy hoại một cách đột ngột và tàn nhẫn. Nàng có cùng một t́nh cảm hư vô giống như điều nàng từng trải nghiệm lúc thân xác của người chồng cũ biến dạng, chỉ để lại nắm tro tàn. Cái gương tay lúc đầu giúp người bệnh nh́n thấy h́nh ảnh phản chiếu của khu vườn rau, về sau đă trở nên quá nặng cho bàn tay anh. Anh bắt buộc phải xoa bóp cánh tay và bàn tay. Người vợ bèn đưa đến cho anh một cái gương tay thứ hai, bé hơn và nhẹ hơn.

Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, với hai cái gương đó, người chồng trước không chỉ bằng ḷng ngắm cảnh vườn rau của vợ mà c̣n ngắm cả bầu trời, mấy cụm mây, tuyết và những ngọn núi đằng xa cũng như những cánh rừng trước mặt. Anh ta quan sát vầng trăng, nh́n những đóa hoa nở trên  đồng và cả lũ chim di. Tấm gương tay cũng in h́nh ảnh những bóng người đang bước trên đường ṃn và đám trẻ con đùa chơi trong vườn.

Thiếu phụ kinh ngạc, nàng thán phục cái phong phú và rộng lớn đến vô biên của thế giới đọng lại bên trong cái gương tay mà cho đến lúc ấy, nàng chỉ xem như một dụng cụ tiện lợi để chải món tóc đằng sau ót và dùng để mở cánh cửa một cuộc đời mới cho con bệnh. Kyôko thường ngồi cạnh đầu giường anh rồi cả hai cùng phóng tầm mắt vào bên trong chiếc gương tay để trao đổi với nhau về thế giới họ đang khám phá. Sau một thời gian, nàng bắt đầu phân biệt được thế giới ở trong đó với thế giới nàng nh́n thấy bằng mắt trần. Hai thế giới biệt lập đă v́ nàng mà chồng khít lên nhau: thế giới hiện ra trong tấm gương đă trở thành một thế giới hiện thực.

Một hôm nàng phát biểu: “Trong tấm gương, thế giới chiếu sáng như ánh bạc”. Thế rồi nàng ngước mắt lên, nh́n qua cửa sổ và nói tiếp: “Trong khi bên ngoài, trời xám như ch́ và nặng mây”

Thực vậy, tấm kính không cho ta thấy cái xám xịt của bầu trời thực nhưng nó lại sáng lung linh.

-Có phải v́ anh thường đánh bóng cho nó chăng?

Không cần ra khỏi giường, chỉ cần quay đầu là người bệnh đă thấy được bầu trời.

-Chính ra, đó là một màu xám nhờ nhờ. Tuy vậy, mắt của chim sẻ hay của chó chưa chắc thấy cùng một màu như mắt chúng ta. Thế th́ làm sao biết được ai mới là kẻ nh́n thấy những chuyển đổi sắc màu tinh tế ấy một cách chính xác nhỉ?

-Cái gương này, nó có con mẳt hay không?

Kyôko muốn gọi chúng là cặp mắt t́nh yêu của họ. Cây cối hiện ra trong đó có màu xanh dịu dàng hơn màu xanh của cây cối thực sự, c̣n những đóa hoa huệ trong đó lại có một màu trắng tinh khôi hơn cả hoa thực.

-Đây là dấu vân tay của em đó, Kyôko. Ngón cái của bàn tay phải.

Anh chỉ cho nàng cái vè của tấm gương. Thiếu phụ ngạc nhiên và hơn thế nữa, không biết v́ sao, đâm ra hoảng sơ. Nàng bèn thổi phù lên cái dấu vân tay như muốn xóa sạch.

-Không sao đâu em. Mấy cái dấu tay của em đă in lên đây từ hôm đầu tiên khi Kyôko chỉ cho anh xem khu vườn rau.

-Thế mà em chẳng để ư!

-Có lẽ là như vậy. Thực ra anh đă nhờ đó mà nhận ra và nhớ như in tất cả dấu vân tay ngón cái và ngón trỏ của em. Phải nằm ĺ trên giường mới học được cách đọc những dấu vân tay của vợ ḿnh.

Kể từ hồi cưới nhau, hầu như người đàn ông này lúc nào cũng đau ốm. Ngay cả giữa một thời đại đầy bạo lực như thế này, anh cũng chẳng phải ra chiến trường bao giờ. Hồi cuối cuộc chiến, anh theo lời hiệu triệu[4] đi làm dân công và sau một vài hôm vỡ đất trên một cánh đồng sẽ dùng làm sân bay, anh đă được cho nghỉ việc một ít lâu trước ngày thất trận v́ lúc đó, anh đă bước hết nổi. Ông anh cả nhà anh cùng với Kyôko đă phải đi đón anh. Kyôko đă trở về từ nhà cha mẹ đẻ, nơi cô sơ tán trong thời gian chồng đi dân công. .

Họ đă gửi đi hầu như mọi thứ đồ đạc rồi từ giă thành phố v́ ảnh hưởng của những trận ném bom. Ngôi nhà hai người sống một thời gian lúc mới lấy nhau đă bị hỏa hoạn, họ phải mướn căn pḥng trống trong ngôi nhà một người bạn gái của Kyôko Anh chồng th́ đi đến sở suốt ngày. Có thể xem như chỉ có một tháng sống trong ngôi nhà tân hôn và hai tháng ở chung nhà cô bạn là thời gian người chồng không bị đau ốm.. 

Thế rồi họ quyết định mướn một căn nhà nằm trong núi để cho anh tĩnh dưỡng. Nhiều dân thành phố và người chạy giặc cũng đă đến đó sống nhưng sau ngày thất trận, họ lại lục tục về Tôkyô.

Kyôko đă lấy lại vườn rau từ tay những người dân tản cư. Nó vốn là một khu vườn mỗi bề 5 mét, đă bị cỏ cao che lấp. Sống ở miền quê, nàng có thể kiếm ra rau củ một cách dễ dàng nhưng vào thời buổi đó, không ai dại ǵ bỏ hoang một mảnh vườn trồng rau quá quí. Hơn nữa, nàng bắt đầu coi trọng những ǵ ḿnh có thể làm cho sinh sôi bằng chính đôi tay. Không phải là nàng kiếm cớ để tránh xa giường bệnh của chồng, thế nhưng những việc may vá thêu thùa trong nhà chỉ làm cho nàng u uất thêm lên. Hy vọng vươn lên trong người là lúc nàng chăm sóc luống vườn. Khi ấy nàng thường suy nghĩ về chồng ḿnh và t́nh yêu dành cho anh. C̣n như việc đọc sách th́ lúc cao giọng đọc cho anh nghe bên giường bệnh đối với nàng đă là quá đủ. Có lẽ một phần v́ việc chăm sóc con bệnh làm cho nàng mệt mỏi nhưng nhiều khi nàng đă quên khuấy cả bản thân. Kyôko hy vọng rằng qua việc trông nom vườn tược, nàng có thể t́m lại con người của ḿnh.  

Họ vào sống trong núi khoảng giữa tháng 9, dưới một trận mưa dai dẳng và lạnh lẽo đầu thu, sau khi đám khách đến đó tránh nắng đă bỏ đi.

Một hôm, ngay trước lúc hoàng hôn xuống, Kyôko đang ở trong khu vườn rau dưới ánh nắng mặt trời rạng rỡ th́ bỗng thấy bầu trời nhạt dần và chim chóc cất lên những tiếng kêu nhọn sắc trong khi màu của đám rau xanh trong vườn như lóe sáng. Thiếu phụ đang rộn ràng ngắm những quầng mây hồng trôi gần mấy chỏm núi th́ vừa lúc đó, nàng ngạc nhiên nghe tiếng của người chồng vọng đến. Vội vă leo lên gác hai, tay nàng hăy c̣n lấm đất.Con bệnh đang hô hấp một cách rất khó khăn.

-Anh gọi em năy giờ, sao không thấy em trả lời?

-Xin lỗi, em không nghe tiếng anh.

-Anh van em. Đừng làm vườn nữa. Nếu bắt anh gọi mỏn hơi kiểu này mấy ngày liên tiếp, chắc anh chết mất. Hơn nữa, anh lại không biết em đang ở đâu và làm ǵ?

-Th́ ở trong vườn chớ đâu. Thôi, em sẽ không làm vườn nữa.

Người chồng lúc đó mới dịu giọng:

-Em có nghe tiếng chim sẻ ngô[5] hót không.

À, th́ ra đó là lư do làm anh gọi nàng. Trong khi họ đang nói chuyện với nhau, có tiếng con chim hót trở lại trong cánh rừng kế bên, một cánh rừng nhỏ mà đường nét hiện ra rơ mồn một trong ánh nắng đỏ hồng của buổi chiều. Nhờ đó, Kyôko mới hiểu ra tiếng hót của giống sẻ ngô là như thế nào.

-Chắc anh cần có một cái chuông hay lục lạc. Thứ đó sẽ tiện lợi cho anh hơn. Trong khi chờ em mua chuông về, anh có muốn đặt ở đầu giường một vật ǵ anh có thể ném được hay không?

-Ừ, một cái bát uống trà chẳng hạn. Như thế anh có thể ném nó từ trên gác xuống. Hay đấy chứ?

Nhờ đưa ra ư kiến đó, Kyôko được phép làm vườn trở lại nhưng chỉ sau một mùa đông dài khắc nghiệt của miền núi, và sau khi mùa xuân đến, nàng mới nẩy ra sáng kiến cho chồng ḿnh xem quang cảnh vườn rau.

Cái gương tay bé bỏng đă đem đến nguồn vui lớn lao cho con bệnh như thể thế giới của những chiếc lá non đă sống trở lại v́ anh. Nghĩ rằng anh vẫn chưa phân biệt được những giống côn trùng mà ḿnh bắt ra từ mấy luống rau, Kyôko định sẽ leo mấy bậc thang gác đem lên cho anh xem. Thế nhưng khi nàng đang đào bới th́ người chồng đă gọi:

-Với cái gương, anh thấy cả mấy con giun đất nữa ḱa!

Rồi đến khi ánh mặt trời chiếu xiên ngang th́ Kyôko – đôi khi mắt bị chói v́ một luồng ánh sáng lóe qua, đă nh́n lên căn pḥng trên gác. Lúc đó, nàng mới thấy chồng ḿnh vừa bắt được một tia nắng bằng cái gương tay. Anh cũng bảo nàng may một cái quần mompe[6] để làm nông bằng vải từ manh kasuri[7] cũ màu xanh dương anh từng mặc thời sinh viên, và sau đó tỏ ra thích thú khi thấy qua tấm gương cảnh nàng mặc cái quần đó làm vườn. Nàng biết ḿnh đang bị chồng ḍm trộm trong khi làm việc nhưng dần dần rồi cũng thây kệ những cái nh́n ấy. Ḷng nàng ấm lại khi ư thức rằng t́nh cảm giữa hai vợ chồng đă tiến xa hơn so với những ngày đầu mới cưới. Hồi đó, nàng đă đỏ mặt dù chỉ để lộ khuỷu tay của ḿnh khi làm động tác cầm gương tay soi gáy trong cái tṛ chơi phối hợp tấm gương với mấy tấm kính của bàn trang điểm.     

Từ đó nàng không c̣n mắc cỡ khi nh́n thấy làn da của ḿnh phản chiếu trong chiếc gương soi, chẳng hạn lúc mới tắm xong. Nàng tự ngắm và thấy  là ḿnh đẹp. Nàng vẫn giấu diếm t́nh cảm rất riêng tư về cái đẹp ấy trong đáy ḷng bởi v́ đó là điều người chồng trước đă dạy cho nàng. Anh từng bảo: “Nh́n cái đẹp trong gương, ḷng người ta lại dậy lên một t́nh cảm khác”. Do đó, không những nàng không hề đặt nghi vấn về vẻ đẹp trong gương mà ngược lại, c̣n tin rằng có một thế giới khác nằm bên trong đó.

Tuy vậy, giữa làn da mà nàng quan sát thật gần và h́nh ảnh nó được phản chiếu, thiếu phụ thấy chúng giống nhau chứ không khác biệt như màu trời ch́ xưa kia và cái h́nh ảnh phản chiếu giống như ánh bạc của nó. Việc vị trí của vật thể và tấm gương cách nhau xa hay gần không đủ để giải thích hiện tượng này. Có lẽ sự khát khao và niềm hoài vọng của con bệnh đang nằm bệt trên giường đă ảnh hưởng tới cách nh́n của anh ta. V́ thế nàng mới hiểu được cái đẹp quyến rũ của nàng mà người chồng cảm nhận khi anh nh́n nàng trong vườn rau qua cái gương soi từ trên gác là như thế nào. Thế mà khi anh c̣n sống, nàng đă không ngộ ra điều đó.

Cái nàng c̣n giữ lại không phải chỉ là một kỷ niệm nhưng c̣n là sự nuối tiếc pha lẫn ngưỡng mộ đối với những ǵ đă tạo nên vũ trụ đặc biệt của hai người: từ h́nh ảnh nàng đang làm việc trong vườn rau cho đến những h́nh ảnh khác mà anh đă nh́n thấy trong chiếc gương soi trước khi qua đời, chẳng hạn cảnh tượng đám trẻ họp đoàn đùa chơi trên cánh đồng, màu xanh đậm của hoa chuông[8], màu trắng muốt của hoa huệ, cảnh mặt trời mọc lên từ phía những rặng núi tuyết ngoài xa. Tóm lại, đó là một thế giới riêng tư nàng đă có với người chồng trước. Tuy nhiên, v́ ḷng kính trọng đối với ông chồng sau, Kyôko phải ḱm hăm cái t́nh cảm đă thành một sự khát khao bỏng cháy này và đẩy nó về một hướng xa xăm nào đó, xem nó như lời hứa hẹn về một cơi trời tương lai.

Một sáng tháng năm, thiếu phụ nghe từ chương tŕnh phóng thanh của chiếc ra-đi-ô tiếng chim rừng ríu rít. Giọng hót đó đă được thu âm từ một ngọn núi không xa khu vực mà họ đă ở măi cho đến thời gian trước khi con bệnh qua đời. Khi nàng tháp tùng người chồng sau ra cửa đi làm, nàng đă cầm cái gương soi từ bàn trang điểm theo để bắt lấy h́nh ảnh của bầu trời quang đăng hôm đó như một thói quen có từ xưa. Chính lúc đang ngắm nghía ḿnh trong gương, nàng đă khám phá ra một điều kỳ quặc: nếu không có tấm gương phản chiếu cho, con người không thể nào nh́n thấy mặt ḿnh. Tự nh́n ḿnh th́ sẽ không sao thấy được mặt ḿnh. Người ta đặt mặt sát vào kính và tin rằng cái mà kính phản chiếu mới là khuôn mặt thật, rồi mỗi ngày đưa tay lên sờ mặt để đùa chơi với nó..

Việc Đấng Tạo Hóa đă tạo ra con người với đặc điểm là không để cho họ ngắm nghía được bản mặt của ḿnh có chứa đựng một ư nghĩa ǵ không nhỉ? Kyôko cứ băn khoăn nghĩ về điều đó một hồi lâu.

-Có phải nếu con người nh́n được mặt ḿnh, họ sẽ trở thành điên hết hay  chăng? Và họ không thể hành động được nữa?

Nhưng cũng có thể là loài người đă theo chu kỳ tiến hóa để đến giai đoạn không c̣n cơ hội nh́n thấy bản mặt của ḿnh. Kyôko lại nghĩ thầm: Những giống chuồn chuồn hay ngựa trời biết đâu lại có khả năng tự nh́n thấy khuôn mặt của chúng?

Khuôn mặt là cái hết sức cá nhân nơi con người, dường như chỉ được tạo ra để cho người khác ngắm. Chẳng lẽ t́nh yêu cũng giống thế hay sao?

Kyôko dọn lại cái gương tay lên bàn trang điểm nhưng bây giờ nàng vẫn thấy nó không tương xứng với những nét chạm sơn mài kiểu Kamakura và chất liệu gỗ dâu nữa. Cái gương tay ngày xưa đă chết một lượt với người chồng trước để cho bàn trang điểm trở thành một kẻ góa bụa hay chăng? Thế nhưng việc nàng trao cho người chồng liệt giường cái gương tay kia kèm theo một tấm gương bé nữa vừa có lợi nhưng cũng vừa có hại cho anh. Người chồng cứ đem tấm gương ấy ra soi mặt ḿnh măi và h́nh ảnh căn bệnh ngày càng  trầm trọng của anh phản chiếu trong tấm gương đă làm anh mất tinh thần. Có thể anh đă tự hỏi phải chăng khuôn mặt Thần Chết đang lảng vảng trước mắt ḿnh. Nếu như đây là một cuộc tự sát có tính cách tâm lư với dụng cụ là chiếc gương tay th́ chính Kyôko đă phạm cái tội sát nhân tâm lư ấy. Một hôm, khi nhận ra hiểm họa này, nàng đă định lấy lại cái gương tay nhưng con bệnh cứ nằng nặc không chịu buông ra.

-Bộ em không muốn cho anh nh́n ǵ cả hay sao? Trong khi c̣n sống, anh muốn yêu tất cả những ǵ anh thấy được.

Để có thể bảo tồn h́nh ảnh thế giới được phản chiếu trên mặt gương, biết đâu anh ấy chẳng đă hy sinh tính mạng của ḿnh!

Có một hôm, sau cơn mưa rào thật lớn, hai người đă ngắm vầng trăng in bóng trong vũng nước dưới sân. Vầng trăng đó, chỉ có thể gọi nó là ảo ảnh của một ảo ảnh, giờ đây đang sống lại trong ḷng Kyôko.

Trăng lồng bóng nước 

“T́nh yêu lành mạnh chỉ có ở nơi những người tráng kiện”. Khi ông chồng sau của nàng đưa ra mấy câu cách ngôn kiểu đó, đương nhiên thiếu phụ đă e lệ gật đầu nhưng trong ḷng, nàng chưa hoàn toàn chấp nhận. Sau cái chết của người chồng trước, nàng có lần tự hỏi không hiểu sự tiết chế t́nh dục mà nàng và anh đă tuân thủ một cách nghiêm ngặt có ích ǵ không. Thế nhưng về sau, câu chuyện đó đă trở thành một kỷ niệm cảm động về t́nh yêu giữa hai người, về cái thời kỳ mà tâm hồn họ chứa chan t́nh tŕu mến. Những tiếc nuối v́ thế đă tan biến đi. C̣n về người chồng sau, th́ ấn tượng đầu tiên của nàng là cách xử sự đối với đàn bà của ông có vẻ sơ sài quá mức.

-Làm sao một người dễ thương như ḿnh lại phải bỏ vợ thế hở ḿnh?

Kyôko có lần hỏi người chồng sau như vậy nhưng không thấy ông trả lời. Người anh cả trong đám anh em của người chồng trước đă hết sức thúc đẩy nàng hăy đồng ư với cuộc hôn nhân này và nàng đă nhận lời trở thành vợ ông ta sau 4 tháng quen biết, đi lại. Người chồng sau lớn hơn nàng những 15 tuổi.

Khi Kyôko nhận ra rằng ḿnh đă có thai, nàng khiếp sợ đến nỗi mặt mày   đâm ra biến dạng.

“Em sợ! Em sợ quá!” Nàng rên siết và bám chặt ông chồng. Những cơn chóng mặt đến dồn dập làm cho đầu óc nàng rối loạn. Một buổi sáng, nàng đi chân đất ra ngoài vườn bứt loạn xạ những lá tùng nhọn như kim. Một ngày khác, nàng lại đưa hai hộp cơm bữa (o-bentô) cho cậu con riêng của chồng khi nó đi học và cả hai đều đựng toàn cơm[9]. Có lúc nàng ngồi lặng người trước tấm gương tay có chạm trổ kiểu Kamakura trên bàn trang điểm mà cứ tưởng chừng đang nh́n xuyên suốt qua nó. Một đêm, nửa khuya thức giấc, nàng ngồi trên tấm đệm giường (futon) nh́n cḥng chọc vào mặt người chồng đang ngủ. Dù e rằng mạng người là cái có thể bị tước đoạt một cách dễ dàng nhưng nàng đă cho tay tháo giải thắt lưng của ḿnh ra. Có thể nàng định dùng nó để siết cổ chồng rồi cũng nên, nhưng chính lúc đó, bất chợt nàng gập người xuống và gào khóc. Người chồng bị kéo ra khỏi giấc ngủ, chỉ dịu dàng thắt lại giải thắt lưng cho nàng. Giữa đêm hè mà thấy nàng run rẩy như người ớn lạnh.

-Kyôko ơi! Em hăy tin tưởng đứa con đang mang trong bụng nhé.

Chồng nàng vừa nói, vừa lấy hai tay nắm lấy đôi vai Kyôko lắc nhẹ.

Bác sĩ khuyên nên nhập viện. Người mẹ trẻ không hài ḷng cho lắm nhưng cuối cùng cũng đă nghe lời.

-Được, em chịu nhập viện nhưng trước đó, ḿnh cho phép em ghé qua nhà ba má em hai ba hôm nhé.

Ông chồng đưa nàng đi. Ngay ngày hôm sau, Kyôko đă bỏ mọi người để đơn thân lên trên vùng núi non, nơi ngày xưa nàng sống với anh chồng đầu tiên. Chuyện xảy ra vào đầu tháng 9, nghĩa là khoảng mươi hôm trước thời điểm mà nàng và người chồng trước đă đến đó hồi xưa. Trong xe hỏa, thiếu phụ cảm thấy người bất an, buồn nôn và chóng mặt, lo sợ là ḿnh không cưỡng lại được xung động kéo nàng nhảy ra ngoài cửa toa. Dù vậy, khi đă rời nhà ga, không khi mát mẻ đă làm nàng khỏe khoắn. Nàng tỉnh người lại, cảm thấy như vừa được thoát khỏi trạng thái bị quỷ ám. Dưới sự thôi thúc của một t́nh cảm không định nghĩa được, nàng dừng chân trên đường để ngắm rặng núi đang bao bọc suốt một vùng cao nguyên. Đường viền của rặng núi với một màu xanh lam đang kẻ một nét rơ, sắc cạnh trên nền trời.

Kyôko cảm thấy cái thế giới này đang sống. Nàng đưa tay chùi đôi mắt đă nḥa lệ và chạy vội về hướng ngôi nhà cũ. Trong cánh rừng ngày xưa nắng có lần chiếu xiên ngang để nhuộm cho cảnh hoàng hôn một màu hồng nhạt, tiếng chim sẻ ngô vẫn c̣n lảnh lót.

Ngôi nhà cũ của nàng và anh chồng cũ bây giờ h́nh như đă có ai khác ở. Một bức màn viền đăng-ten đang buông xuống cánh cửa sổ tầng trệt. Kyôko nh́n nhưng không dám tiến lại gần.

-Nếu mai đây đứa con em đẻ ra nó giống anh th́ có sao không?

Nàng th́ thầm và lấy làm lạ khi thấy ḿnh đang thốt ra câu nói ấy. Thế rồi, nàng lật đật quay gót, với một t́nh cảm b́nh yên và ấm áp.

 

Dịch ngày 28 tháng 11 năm 2020


Bên lề tác phẩm: 

Trăng lồng bóng nước tức Thủy nguyệt (Suigetsu) được ra mắt lần đầu     vào tháng 11/1953 trên Tạp chí Bungei Shunjuu (Văn Nghệ Xuân Thu) khi tác giả 54 tuổi.

Thủy nguyệt trong thành ngữ “Kính hoa thủy nguyệt”(Kyôka suigetsu)  thường được hiểu như sự thể hiện của một cái đẹp mong manh nhưng sâu lắng và huyền ảo, khó ḷng nắm bắt, chẳng khác nào hoa trong kính, trăng dưới nước. Ngoài ra nó c̣n một ư nghĩa đầy Thiền vị. Vầng trăng lồng bóng nước nhưng trăng không phải là nước, nước in dấu vầng trăng nhưng không giữ lấy mà để nó được tự do dạo khắp mọi nơi. Trăng với nước: tuy một mà hai, tuy hai mà một.

Tấm gương có phép mầu là một chủ đề khác được Kawabata yêu thích. Tấm gương (kính đồng) c̣n là một trong 3 thần khí của Nhật Bản. Chúng ta c̣n được thấy h́nh ảnh nó trong các tác phẩm khác của văn hào chẳng hạn Huyễn tưởng pha lê (Suishô Gensô) ,Khúc t́nh ca (Jojôka), Xứ Tuyết (Yukiguni) cũng như một số bài khác nữa.

Kawabata tỏ ra yêu mến một cách đặc biệt tác phẩm này. Ông thường chỉ định nó khi góp ư cho dịch giả ngoại quốc nào muốn giới thiệu văn chương ông đến với đồng bào họ. Lối hành văn ở đây giản dị, trang nhă, không sử dụng từ hoa, đă làm cho nó có cùng một văn phong với tác phẩm ăn ư khác của ông là Tiếng rền của núi (Yama no oto).

Ở Việt Nam, truyện ngắn này đă có nhiều bản dịch. Hy vọng là bản dịch của chúng tôi với những nét đặc thù của nó cũng sẽ được bạn đọc quan tâm. Thường th́ nó được hiểu như một truyện t́nh đơn thuần nhưng cũng có thể có ngụ ư chính trị nhẹ nhàng của tác giả trong bối cảnh năm 1953, khi tác phẩm ra đời và là thời điểm Nhật Bản đang trên đà phục hưng sau Thế chiến. Người chồng thứ nhất phải chăng là một nước Nhật thua trận, đă thành một đống tro tàn nhưng kỷ niệm về nó vẫn khơi gợi được mối cảm hoài sâu sắc trong ḷng người vợ trẻ vốn tượng trưng cho dân tộc Nhật? Người chồng thứ hai là một nước Nhật vật chất hơn, vững chăi hơn nhưng sao vẫn thấy có sự xa cách khiến cho người vợ ấy cứ phải rụt rè tránh né những khi đối mặt. Dù vậy, hăy có những nhà phê b́nh không đồng ư với cách cảm nhận đó. Họ chủ trương việc ǵ phải nghĩ ngợi xa xôi, nếu độc giả cảm thấy hay đẹp là đă đủ v́ tác phẩm này không cần đến những lời giải thích.

 

Thư mục tham khảo: 

1-     Kawabata Yasunari, Suigetsu, trong Toàn tập Kawabata quyển 8 trong 35 tập, Shinchô Bunko, Tôkyô xuất bản, 1978. Nguyên tác Nhật ngữ.

2-     Kawabata Yasunari, Suigetsu, bản dịch của George Saitô nhan đề The moon on the water, trong Modern Japanese Stories - An Anthology, Ivan Morris biên tập, Tuttle, Tôkyô xuất bản, sơ bản 1962. Bản sử dụng: bản tái bản lần thứ 23 năm 1997. Bản ngoại văn tham chiếu.

3-     Kawabata Yasunari, Suigetsu, bản dịch của Sylvie Regnault-Gatier và Suematsu Hisashi, S. Suzuki, nhan đề La lune dans l’eau, trong Tuyển tập Kawabata, Romans et Nouvelles, Livres de Poche, La Pochothèque, Paris xuất bản, 1997. Bản ngoại văn tham chiếu.


[1] Một loại chạm khắc đời xưa, bắt đầu kẻ bằng những nét mờ mờ rồi phủ lên bằng một lớp sơn mài. Thường là sơn đỏ, đôi khi gồm có hai màu xanh và đỏ.

[2] Tên thành ph, đng thi có mt nghĩa khác là khu rng thp.

[3] Tuyến đưng st đi v tnh Niigata (X Tuyết) phía bc.

[4] Nguyên văn: ứng chiếu (Thiên hoàng). Trên thực tế là bị bắt đi làm dân công.

[5] Nguyên văn: Higara (coal tit). G. Saitô trong tuyển tập Ivan Morris dịch là chim sơn ca (lark).

[6] Quần ống bó thắt lấy cổ chân, có khi mặc lên trên quần áo, dùng cho cả nam lẫn nữ để lao động hoặc chống lạnh

[7] Kimono đồng phục của sinh viên và học sinh thời trước chiến tranh.

[8] Nguyên văn Hotarusô no hana (hoa của cỏ đom đóm = dayflower), chưa hiểu là hoa ǵ. Ở đây dịch theo bản Pháp văn (clochettes). Bản Anh văn đă lược đi không dịch

[9] Đáng lư ra th́ một hộp đựng cơm và một đựng thức ăn như thông lệ.

 

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com