THƠ GIẤU TRONG HANG

(Tạp bút thơ Đường)

Nguyên tác: Chin Shun-Shin

Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

 Động Bắc Mạc Cao ở Đôn Hoàng (ảnh chụp khoảng 1943-44)

 

Ước chừng 6.000 hiện vật đã được nhà thám hiểm Paul Pelliot (1878-1945) mang từ thạch động Đôn Hoàng về nước. Ngày nay chúng vẫn còn được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Pháp (Bibliothèque Nationale de France) ở Paris. Hồi ghé qua thủ đô nước Pháp, có hôm tôi đã đến nơi đây để xin xem mấy thủ bản văn thư Đôn Hoàng敦煌文書 (Tun huang’s manuscripts). Nếu lấy lý do nghiên cứu học thuật để biết nội dung thì chỉ cần microfilm là đủ nhưng tôi lại muốn thực sự cầm lên tay và ngắm nghía những bản gốc đã nằm ngủ gần nghìn năm trong hang đá. Không vì học thuật mà vì tình cảm thì phải nhìn chúng thật tận tường mới thỏa, nhất là trong phòng đọc sách đặc biệt của thư viện này hãy còn trưng bày cả bản chính với thủ bút của những tác giả lừng danh. Có điều là muốn vào phòng đọc sách đặc biệt đó cần có thư giới thiệu. Hơn thế, tôi còn phải dùng máy polaroid chụp ảnh mình dán kèm vào giấy giới thiệu đó cho đúng phép.

Ở đây, ai muốn xem cái gì đều phải điền tên tư liệu liên hệ vào phiếu đọc sách. Kỳ thực, đã là văn thư Đôn Hoàng thì món nào đối với tôi cũng quí nhưng người quản thủ thư viện lại trao cho tôi một bảng mục lục để chọn lựa. Bảng mục lục này thấy cũng giống hệt bảng kê khai mà nhà xuất bản Thương Vụ Ấn Thư Quán phát hành cùng một lúc tại Bắc Kinh và Thượng Hải vào năm 1962, nhan đề Đôn Hoàng Di Thư Tổng Mục Sách Dẫn 敦煌遺書総目索引. Trong đó có một mục ghi là Bá Hy Hòa Kiếp Kinh Lục伯希和刧経録 nghĩa là mục lục những cuốn kinh đã bị Bá Hy Hòa (Pelliot) đoạt lấy (kiếp刧) mang đi. Mục lục đó có nhiều kinh điển nhà Phật nhưng cũng thấy Luận Ngữ và Lão Tử Đạo Đức Kinh, cả những cuốn tập giải Xuân Thu Tả Thị Truyện nữa. Thơ văn không ít, phần lớn là những tác phẩm có liên hệ với Văn Tuyển.

Văn thư Đôn Hoàng hãy còn lưu lại ở Trung Quốc và một số ít đã được truyền qua Nhật Bản. Tuy vậy, nhiều nhất vẫn là những văn kiện mà một nhà thám hiểm khác, A. M. Stein, đã lấy đi và hiện lưu trữ tại Thư Viện Đại Anh (British Library, London) cũng như bộ phận do Pelliot trao lại Thư viện quốc gia Paris. Hồi đầu thế kỷ này (thế kỷ 20), người ta đã khám phá một căn phòng nhỏ bị niêm phong trong thạch động Mạc Cao 莫高ở Đôn Hoàng. Nơi đó, ngoài một số lớn Phật cụ và Phật họa, còn có rất nhiều văn thư, nghe nói chúng được chất cao đến tận nóc hang. Coi ngày tháng ghi bên trên mới biết văn thư ra đời trễ nhất cũng đã có từ năm 995 nên có thể suy đoán là cánh cửa căn phòng ấy - vì một lý do không ai biết - đã được lấp đi và niêm kín vào khoảng cuối thế kỷ thứ 10 hay đầu thế kỷ thứ 11. Thời điểm này trùng hợp với một biến cố lịch sử là bộ tộc Tangut 党項của Tây Hạ西夏 đã xâm chiếm Đôn Hoàng (khoảng năm 1036). Trước đó thì địa phương này được đặt dưới quyền của họ Tào 曹vốn gốc Hán. Nhà văn (Nhật Bản) Inoue Yasushi 井上靖 (1907-1991) có viết cuốn tiểu thuyết nhan đề “Đôn Hoàng” 敦煌trong đó ông nhắc đến việc người ở đây – vì lo sợ cuộc xâm lăng của tộc Tangut - đã vội vã đem kinh Phật và các thứ văn hóa phẩm khác đặt vào một căn phòng nhỏ và trét kín cửa vào. Thế nhưng dân Tây Hạ (gốc Tây Tạng, NNT) cũng là những Phật tử thuần thành nên khó có chuyện họ muốn phá hoại kinh điển. Chỉ có thể là vương quốc gốc Hồi giáo vùng Kashgar do các thương đội (caravan) lập nên ở miền Tây đang dần dần phát triển về hướng Đông mới là đối tượng của sự sợ hãi nói trên. Tuy sách vở ghi chép về triều đại của vương quốc lập ra bởi thương đội này không có bao nhiêu nhưng người ta biết rằng nó đã suy thoái khi vừa bành trướng được tới Khotan和田 (Hòa Điền, ngày xưa là Vu Điến, thuộc Tân Cương).

Phần lớn văn thư Đôn Hoàng là hiện vật của thời Đường nhưng ta hoàn toàn không thấy tác phẩm những nhà thơ lớn như Lý Bạch, Đỗ Phủ hay Bạch Cư Dị. Tôi bèn điền vào trong phiếu đọc sách số mã của 6 loại văn thư. Trong số tôi chọn phải nói đến Tần Phụ Ngâm 秦婦吟 của Vi Trang 韋荘và Vương Phạn (Phạm) Chí Thi Tập王梵志詩集. Hai văn thư này thực ra bị xem như đã thất lạc từ xưa. Nếu như   không ai phát hiện từ thạch động Đôn Hoàng thì có lẽ người đời sẽ không bao giờ biết tới sự tồn tại của chúng. Vi Trang là nhà thơ vào cuối đời Đường và thi tập nhan đề Ngoạn Hoa Tập 浣花集của ông đã được truyền lại đàng hoàng thế nhưng tác phẩm nổi tiếng nhất là Tần Phụ Ngâm thì không thấy bóng dáng.

Tần Phụ Ngâm là tác phẩm trường thiên từng gây náo động một thời. Lúc đó, ở Trung Quốc có cuộc nổi dậy của Hoàng Sào. Các thành phố lớn như Lạc Dương, Trường An đều hoang phế vì chiến sự. Trong Tần Phụ Ngâm, nhà thơ kể lại cuộc đời của một phụ nữ bị quân giặc bắt cóc đưa đi và phải chịu nhiều cảnh đắng cay. Bài thơ bắt đầu với những câu:

Trung Hòa Quí Mão xuân tam nguyệt,

中和癸卯春三月

Lạc Dương thành ngoại hoa như tuyết.

洛陽城外花如雪

Đông tây nam bắc lộ nhân tuyệt,

東西南北路人絶

Lục dương tiễu tiễu hương trần diệt.

緑楊悄悄香塵滅

(Ý: Tháng ba, mùa xuân năm Quý Mão niên hiệu Trung Hòa, ngoài thành Lạc Dương, hoa rơi như tuyết, bốn bề chẳng có bóng người. Liễu xanh dáng đứng rũ rượi, hoa cũng tàn cả, không để lại một làn hương)

Đó là một bài thơ trường thiên tự sự có tất cả 238 câu. Nói về số câu, có thể nói nó dài gấp 2 lần Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị.

Sau khi nhà Đường bị diệt vong, Vi Trang theo thờ Vương Kiến, người tự lập làm vua đất Thục. Vi làm tể tướng cho Vương. Vi vốn chịu ảnh hưởng rất lớn của Đỗ Phủ, người xưa kia cũng từng sống ở Thành Đô nên ông đã đến cư ngụ ngay nơi ngày xưa kia có dấu tích thảo đường của Lão Đỗ bên bờ suối Ngoạn Hoa Khê. Vi còn giỏi về từ. Trong Hoa Gian Tập花間集, tác phẩm thâu thập từ khúc của hai thời Đường và Ngũ Đại (gồm 500 bài từ của 18 nhà thơ), một mình Vi đã chiếm hết 48 bài. Ông là nhà thơ nhiều may mắn vì đã được người đồng thời lẫn người đời sau ái mộ. Duy tác phẩm quan trọng nhất của Vi là Tần Phụ Ngâm thì lại thất lạc. Tương truyền người đọc sách vào thời của Vi đã hâm mộ ông và đua nhau chép Tần Phụ Ngâm làm cho ông có dị danh là “Tần Phụ Ngâm Tú Tài” vì phải nói là trong số tác phẩm của Vi, bài được chép đi chép lại nhiều hơn cả có lẽ là Tần Phụ Ngâm. Thế mà bài thơ có thể đánh giá như là siêu-bestseller của thời Đường ấy đã sớm biến đi đâu mất dạng.

Lý do của sự thất lạc ấy vốn rất nhiều.Trước nhất bởi lẽ Vi Trang không đem nó đăng vào trong thi văn tập của mình. Có thuyết khác cho rằng vì vấn đề liên quan đến nhân vật được đem ra làm người mẫu trong đó. Hoặc giả tác phẩm ấy quá dài và bi đát mà thiên hạ thường muốn quên cho nhanh những điều gì bi thảm. Bản năng đó phải chăng đã khiến cho Tần Phụ Ngâm không được lưu giữ? Còn như việc người đương thời chép đi chép lại nhiều cũng chưa hẳn là cái cớ giúp nó được truyền tụng mãi mãi. Tuy vậy, một khi bị đem phong kín trong động đá như đóng hòm rồi thì tác phẩm này sẽ không còn ai biết tới, dù là người đương thời chứ đừng nói chi đến hậu nhân. Nhân Tần Phụ Ngâm là tác phẩm của Vi Trang được nhiều người sao chép nhất nên chỉ nội trong hang này, các nhà thám hiểm đã tìm ra đến 8 bản. Trong bộ sưu tập của nhà thám hiểm người Anh Mark Aurel Stein (1862-1943), đã có 3 bản, còn trong bộ sưu tập của Paul Pelliot có đến 4 bản, 1 bản còn lại được bảo tàng ở Nhật.

Nhà thám hiểm Paul Pelliot chong đèn xem xét đống văn thư Đôn Hoàng.

Chúng ta biết Toàn Đường Thi 全唐詩là tổng tập thơ Đường vĩ đại nhất do một nhóm học giả dưới sự chủ trì của Bành Định Cầu彭定求 vâng lệnh hoàng đế nhà Thanh thu thập được. Tác phẩm hoàn thành vào năm Khang Hy 42 (1703) gồm tất cả 900 quyển, có hơn 48.900 bài thơ của hơn 2.200 nhà thơ. Một mạng lưới rộng hầu như thâu tóm hết thơ Đường như vậy mà lại để sẩy đi Tần Phụ Ngâm thì mới biết khúc ngâm kia đã mất dạng khá sớm.

Nhà nghiên cứu Nhật Bản Ichikawa Se.nei 市河世寧đã cho ra đời Toàn Đường Thi Dật 全唐詩逸vào năm Bunka 文化nguyên niên (1804), trong đó ông đã nhặt nhạnh trên 100 bài thơ mà Toàn Đường Thi đã bỏ sót (dật) nhưng vẫn còn thấy lưu hành ở Nhật, chẳng hạn loại thơ đối đáp giữa thi nhân Trung Quốc với các sứ thần Nhật Bản được gửi qua nhà Đường vào thời Huyền Tông. Trong đó phải kể đến thơ ngự chế do Huyền Tông làm lúc tiễn chân sứ thần, các bài ứng thù của văn nhân thời ấy với tăng Kuukai 空海cũng như thơ được trích dẫn từ quyển sách có tính giáo khoa về thi ca là Văn Kính Bí Phủ Luận文鏡秘府論 (Bunkyô Hifuron, 802-809) do chính tăng Kuukai soạn ra. Những bài thơ bị để sót bởi Toàn Đường Thi, tính ra chỉ có bấy nhiêu.

Thơ Vương Phạn Chí có rất nhiều trong hang động ở Đôn Hoàng, thế nhưng Toàn Đường Thi đã không sao chép một bài nào. Kỳ thực, họ Vương đâu phải là một kẻ vô danh. Thơ ông được trích dẫn đó đây nhiều lần, kiểu như: “Vương Phạn Chí có câu thơ sau”, “Vương Phạn Chí từng vịnh thế này” vv...

Trong loại thi thoại cũng như tiểu thuyết thời Đường và thời Tống, vẫn thấy rải rác những mẩu vụn thơ ông. Những người biên soạn Toàn Đường Thi chính ra có thể ráp nối chúng để phục hồi ít nhất vài bài nhưng họ đã không làm chuyện đó, như thể họ hoàn toàn phủ nhận ông.

Nói về tiểu sử Vương Phạn Chí, không ai biết năm sinh năm mất, chỉ nghe rằng ông sống vào đầu thời Đường. Tìm mãi mới hay ông quê ở Lê Dương thuộc Vệ Châu (hiện tại là huyện Tuấn tỉnh Hà Nam). Không rõ hành trạng của ông, chỉ biết là đến thời Tống người ta hãy còn đọc thơ Vương và có lẽ đến cuối đời Tống, thơ ấy mới biến mất. Trong Thái Bình Quảng Ký太平広記 – tác phẩm bách khoa được biên soạn vào năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 3 (978) triều Thái Tông nhà Bắc Tống – mục “Dị nhân”異人 (Những con người kỳ lạ) - có chép sơ lược về ông. Theo đó thì vào đời Tùy Văn Đế (trị vì 581-604) ở một nơi cách thành Lê Dương 15 dặm, trước ngôi nhà của người tên Vương Đức Tổ, có một cây táo. Cây táo ấy sinh ra một quả lớn như cái đấu, phải mất 3 năm mới chín. Gọt vỏ ra xem bèn thấy trong đó có một đứa hài nhi. Vương Đức Tổ đem nuôi dạy cho đến khi khôn lớn. Đứa trẻ ấy chính là Vương Phạn Chí. Thế rồi sách kết luận rằng: “Người đó hay làm thơ và sống có nghĩa khí”. Như thế, từ thuở bé, cuộc đời Vương Phạn Chí đã đầy màu sắc huyền thoại.

Sở dĩ không ai biết gì về hành trạng của Vương Phạn Chí có lẽ một phần tại ông không có nơi cư trú nhất định. Hình như ông không ra làm quan mà cũng chẳng đi tu bởi vì vẫn giữ nguyên tên cũ. Phải chăng ông là một loại tăng vân du (du hóa tăng 遊化僧 = yugesô) kiểu các “thánh” 聖 (hijiri) trên núi Kôyasan高野山 bên Nhật, đi hết vùng này sang vùng khác để rao giảng đạo Phật? Nếu ông có làm thơ là vì xem nó như một phương tiện thuyết pháp. Nhân đối tượng của ông là đại chúng bình dân, những bài thơ ấy phải có ngôn từ bình dị, tránh được những khái niệm khó khăn. Để cho quần chúng dễ hiểu, ông thường dùng lời lẽ nôm na, thông tục (gọi là zokugo, 俗語) của văn nói. Ông cũng không bàn chuyện cao xa, viễn vông nhưng áp dụng triệt để hình thức truyền đạt có tính hiện thực. Ông đi thẳng vào thời sự chứ không nói không khống. Tóm lại thì ông đúng là một nhà thơ nôm na (thông tục, 通俗). Loại thơ “thông tục” này hình như đã có nguồn gốc từ thế kỷ thứ 3, khi người tên Ưng Cừ 応璩 (đời Ngụy, một trong Tam Quốc) soạn ra tập “Bách Nhất Thi” 百一詩 (Một trăm linh một bài thơ). Cách viết “thông tục” đó cũng được thấy trong “Thất Bộ Thi”七歩詩 (Bài thơ bảy bước) của Tào Thực曹植 (192-232), một vương tử sống đồng thời với Ưng. Ta biết rằng Tào Thực đã bị người anh là Ngụy Văn Đế Tào Phi ra lệnh phải làm xong thơ sau khi bước đi được bảy bước. Đương thời, họ Tào đang bị người anh ganh ghét và mưu toan hãm hại:

Chử đậu trì tác canh,

煮豆持作羹  

Lộc thi dĩ vi trấp

漉豉以為汁 

Cơ tại phủ há nhiên,

萁在釜下然

Đậu tại phủ trung khấp.

豆在釜中泣 

Bản tự đồng căn sinh,

本自同根生 

Tương tiễn hà thái cấp.

相煎何太急

(Ý: Đem đậu nấu canh, hạt bỏ vào nồi, cành chụm dưới lò. Trong nồi, đậu cất tiếng khóc: Cớ sao cùng sinh từ một gốc mà thúc bách nhau đến dường ấy)

Chúng ta biết Tào Thực và Tào Phi là anh em ruột, một cha một mẹ nhưng lại bất hòa. Lời bài thơ “Củi đậu nấu đậu” này rất dễ hiểu, không dụng điển khó khăn. Nó là gốc gác của loại “thơ thông tục” cho nên xin được dẫn chứng ra đây dù nó không phải là một bài thơ Đường.

Tiếp đến, xin giới thiệu một vài bài thơ của Vương Phạn Chí. Thơ của ông thường là những bài không có đề tài (thơ vô đề):

Quan ảnh nguyên phi hữu,

観影元非有

Quan thân nhất thị không.

観身一是空

Như thái thủy để nguyệt,

如採水底月

Tự tróc thụ đầu phong.

似捉樹頭風

Lãm chi bất khả kiến,

攬之不可見

Tầm chi bất khả cùng.

尋之不可窮

Chúng sinh tùy nghiệp chuyển,

衆生随業転

Kháp tự mị mộng trung.

恰似寐夢中

(Nhìn ảnh, biết nó vốn không có thực. Tấm thân cũng vậy, chỉ là hư không. Như mò trăng trong nước, như bắt gió đầu ngọn cây. Có nắm cũng không thấy mà tìm đi nữa, biết đâu cho cùng. Cuộc sống của chúng sinh chuyển vần theo cái nghiệp, như người đang giữa cơn mộng mị)

Vương Phạn Chí đi vòng quanh các thôn làng, thuyết giảng về lẽ vô thường. Ông so sánh việc con người mưu toan tranh đoạt trong cuộc đời này có khác gì mò trăng đáy nước (thủy để nguyệt) hay nắm bắt luồng gió lướt qua ngọn cây (thụ đầu phong). Tất cả đều là chiêm bao,  mộng ảo (mị mộng trung). Ông chia thơ ngũ ngôn thành những tiết nhỏ như một bài luật thi nên dễ truyền đạt. Nhờ làm như thế, tiết tấu thơ ông mới lôi cuốn được mấy bác nông dân quê mùa và chắc hẳn mắt họ đã sáng lên khi nghe ông đọc thơ. Nói về con người chẳng hạn, ông viết :

Thân như nội giá đường,

身如内架堂

Mệnh tự đường trung chúc.

命似堂中燭

Phong cấp xuy chúc diệt,

風急吹燭滅

Khước thị không đường ốc.

却是空堂屋

(Ý: Thân ta như vật trong phòng treo vật dụng, tính mệnh chẳng khác ánh nến soi ở đó. Gió thổi mạnh sẽ làm nến tắt và căn phòng trở nên trống lạnh)

Đời con người không kéo dài mãi mãi. Nó giống như ánh nến (lạp chúc) chập chờn trong một gian phòng treo đồ (nội giá đường). Chỉ cần gió nổi lên mạnh một chút thì ánh sáng kia sẽ tắt ngấm (xuy chúc diệt). Sau đó thì gian phòng sẽ trở về với trống vắng và tối tăm (không đường ốc).

Ngã kiến na hán tử,

我見那漢子

Đỗ lý nhiệt như hỏa.

肚裏熱如火

Bất thị tích na hán,

不是惜那漢

Khủng úy hoàn đáo ngã.

恐畏還到我

(Ý: Nhìn thấy cái chết của gã đàn ông kia mà lồng ngực nóng như lửa thiêu đốt. Ta không tiếc thương chi hắn nhưng chỉ e số phận ta rồi cũng sẽ thế thôi)

Vương đã làm cho đám thiện nam tín nữ phải run sợ. Những gì ông gọi là cảnh tượng địa ngục vốn không khác gì những cảnh chiến tranh và phu dịch mà họ từng nếm trải trong kiếp này. Làm sao họ lại không muốn thoát ra khổ cảnh đó!

Tương tương qui khứ lai,

相將帰去来

Diêm phù bất khả đình.

閻浮不可停

Phụ nhân ưng trọng dịch,

婦人応重役

Nam tử tùng chinh hành.

男子従征行

Đới đao nghĩ khai sát,

帯刀擬開煞

Phùng trận khước tương hình.

逢陣却相刑

Tướng quân mã thượng tử,

将軍馬上死

Binh diệt địa quân doanh.

兵滅地軍営

Huyết lưu biến hoang dã,

血流遍荒野

Bạch cốt tại biên đình.

白骨在邊庭

Khứ mã du tàn tích,

去馬遊残跡

Không lưu chỉ thượng danh.

空留紙上名

Quan sơn thiên vạn lý,

関山千万里

Ảnh tuyệt cố hương thành.

影絶故郷城

Sinh thụ đao quang khổ,

生受刀光苦

Ý lý cực hoàng hoàng.

意裏極惶惶

(Ý: Chúng ta rồi sẽ lâm vào cảnh đó vì cuộc thế vốn chuyển động không ngừng. Đàn bà gánh vác lao động nặng nề, còn đàn ông phải ra chiến trường. Xung trận tất sát hại, hành hạ lẫn nhau. Ông tướng chết trên lưng ngựa, binh lính bị tiêu diệt nơi trại giặc. Máu đỏ cả đồng hoang, chỉ có bầy ngựa không chủ đi hoang nhìn vết tích trận đánh để lại. Danh hão chỉ lưu trên mặt giấy chứ nơi ngàn dặm xa xôi quan tái, người có thấy đâu thành quách quê nhà. Sống đời khổ vì đao kiếm mà lòng khiếp sợ khôn nguôi)

Trong cuộc đời này, có nhiều kẻ cố chấp vào một việc gì nhưng thử hỏi có nên hay chăng? Sinh ra làm thân đàn bà con gái (phụ nhân)  phải gánh biết bao thứ lao khổ. Vào thời Đường nhà nước tuy phụ nữ không phải làm dao dịch 徭役 (gồm tạp dịch và tuế dịch) nhưng theo sách vở chép lại thì thay vào đó, họ bị bắt làm những công việc khác như tu bổ, đắp đường đắp sá. Trọng dịch ở đây muốn nói rằng ngoài công việc kể trên, phụ nữ phải lao động để quán xuyến nhà cửa nữa. Đối với đàn ông (nam tử) thì nhiệm vụ của họ còn gồm cả binh dịch và có thể chết lúc nào không hay. Vương Phạn Chí như muốn đặt câu hỏi cho người thường dân rằng: Các ngươi còn nuối tiếc gì môt kiếp sống khổ sở như thế?

Phụ mẫu sinh nhi thân,

父母生児身

Y thực dưỡng nhi đức.

衣食養児徳

Tạm thác ký xuất lai,

暫託寄出来

Dục tự biện tương đại.

欲似便相貸

Nhi đại tác binh phu,

児大作兵夫

Tây chinh Thổ Phồn tặc.

西征吐藩賊

Hành hậu hồn gia tử,

行後渾家死

Hồi lai mịch bất đắc.

回来覓不得

Nhi thân diện hướng Nam,

児身面向南

Tử giả đầu hướng Bắc,

死者頭向北

Phụ tử tương phân phách,

父子相分擘

Bất cập nguyên bất thức.

不及元不識

(Ý: Cha mẹ sinh ra chúng ta, cho cơm áo và dạy dỗ. Như thể cho con vay, mong tuổi già có ngày được báo đáp. Nào ngờ lớn lên, con bị bắt lính, đánh giặc Thổ Phồn ở miền Tây. Con đi rồi, cả nhà chết hết, ngày về tìm chẳng thấy ai. Người sống quay mặt về Nam, trong khi kẻ chết đầu hướng Bắc. Cha con chia rẽ đôi đường như thế, thà trước đây, chúng mình đừng quen nhau chi cho xong).

Cha mẹ với con cái có là vĩnh viễn hay không? Cứ tưởng sinh chúng ra, nuôi dạy, chăm sóc để đến lúc về già được cung kính phụng dưỡng. Sự thực nào có thế đâu! Khi con thành nhân nó phải đi lính, đánh nhau mãi tận xứ Tây Tạng (Thổ Phồn) xa xôi. Hết chiến tranh, lúc con được trở về thì cả nhà (hồn gia渾家) đều đã chết cả. Để phải nếm cảnh chia ly xót xa như vậy, chẳng thà đừng có mối quan hệ gia đình trước đó.

Đời Đường có chuyện Văn Thành công chúa được gả cho vua Thổ Phồn nên mối giao tình giữa hai nước trong một thời gian được giữ gìn tốt đẹp. Thế nhưng đến cuối đời Khai Nguyên (khoảng giữa thế kỷ thứ 8), Huyền Tông đã tổ chức một cuộc viễn chinh đại qui mô sang đánh Thổ Phồn. Vì nội dung bài thơ nói lên cảnh tượng giống như thế, người ta mới phỏng đoán có thể Vương Phạn Chi, tác giả của nó, phải là người sống vào thời này.

Nhân túng bách niên hoạt,

人縦百年活

Tu du nhất nhật tử.

須臾一日死

Bành Tổ thất bách tuế,

彭祖七百歳

Chung thành lão lạn quỷ.

終成老爛鬼

Thác sinh tác tha hương,

託生作他郷

Tùy sinh tác danh tự.

随生作名字

Luân hồi biến động cấp.

輪廻変動急

Sinh tử bất do nhỉ.

生死不由児

Thân đới vô thường khổ,

身帯無常苦

Trường mệnh hà tu hỷ.

長命何須喜

Bất văn niệm Phật thanh,

不聞念仏聲

Mãn nhai văn khốc hưởng.

満街聞哭響

(Ý: Đời người sống trăm năm nhưng cái chết đến bất chợt trong một ngày. Ông Bành Tổ nghe nói sống 700 tuổi nhưng rốt cục cũng chỉ thành con quỷ già. Sinh ra đời, ta đã phải tha hương rồi tìm cách lập công danh. Thế nhưng bánh luân hồi xoay chuyển rất nhanh, cái chết không tùy thuộc chính mình. Tấm thân ta chịu nỗi khổ của kiếp vô thường cho nên đừng thấy sống lâu mà vội mừng. Trong thành, sao không nghe câu niệm Phật, chỉ thấy toàn tiếng than khóc).

Bành Tổ là nhân vật thần thoại cuối đời Ân, tương truyền ông sống đến 767 tuổi. Chuyện này được chép trong Thần Tiên Truyện của Cát Hồng đời Tấn. Theo tác giả thì dù sống lâu đến đâu, một ngày nào đó, ai cũng phải chết. Sinh tử không xảy ra theo đúng yêu cầu của ngươi đâu. Vậy thì phải làm sao đây?

Sư tăng lai khất thực,

師僧来乞食

Tất mạc tích gia thường.

必莫惜家常

Bố thí vô biên phúc,

布施無辺福

Lai sinh bất thiểu lương.

来生不少糧

(Ý: Khi các nhà sư đến khất thực, chớ tiếc chi của cải trong nhà. Bởi vì bố thí là việc phúc đức vô cùng. Bố thí đời này thì đời sau lúc nào cũng dư dật).

Ông dặn nếu như trong đời này mà đem của đi bố thí cho sư tăng khất thực thì đời sau ắt sẽ không phải lo đến cái ăn. Trong mấy câu thơ trên đã thấy rõ triết lý vô thường, thế nhưng lý tưởng của Vương Phạn Chí là gì?

Chuyên viên thư viện bảo quản kinh văn bằng microfilm 

       

Ngô hữu thập mẫu điền,

吾有十畝田

Chủng tại Nam Sơn pha.

種在南山坡

Thanh tùng tứ ngũ thụ,

青松四五樹

Lục đậu lưỡng tam khòa.

緑豆両三窠

Nhiệt khước trì trung dục,

熱却池中浴

Lương tiện ngạn thượng ca.

涼便岸上歌

Ngao du tự thủ túc,

遨遊自取足

Thùy năng nại hà ngã.

誰能奈何我

(Ý: Ta có mươi mẫu ruộng để trồng trọt ở gò phía Nam. Nơi ấy, có bốn năm gốc tùng và hai ba khoảnh đậu xanh. Khi trời nóng, xuống ao tắm mát rồi lên trên ghềnh đá ca hát. Ngao du tự tại, hỏi mấy ai được như ta).

Thơ của Vương Phạn Chí tuy bị Toàn Đường Thi xem như không tồn tại nhưng người ta đã được tìm ra đến 35 bản trong hang đá ở Đôn Hoàng. Như đã nói bên trên, không thấy có bản nào của Lý Bạch hay Đỗ Phủ. Nếu như thơ “nôm na”của Vương Phạn Chí thuộc dòng văn học đại chúng thì thơ Lý, Đỗ đều là văn học thuần túy. Ở một nơi quê mùa hẻo lánh như Đôn Hoàng, không mấy ai đọc văn chương thuần túy mà chỉ thích thú với văn chương đại chúng. Thế nhưng tại sao thứ văn chương gần gũi với đám đông như thơ Vương Phạn Chí lại có thể biến mất đột ngột như vậy? Ngoài ra, việc nghĩ rằng nó đã mất hẳn hỏi có thỏa đáng hay không? Thực tình thì ngôn ngữ thông tục được mọi người sử dụng hàng ngày và đối với thời điểm đó thì rất dễ đọc dễ hiểu nhưng nó cũng là loại ngôn ngữ chóng bị đào thải. Theo thời gian, một bộ phận xưa được xem như dễ hiểu nay có thể trở thành khó hiểu. Ví dụ đời Đường, để diễn tả “con người”, họ dùng từ “đầu bì” 頭皮 (da đầu), trường hợp đó thì người hiện đại chúng ta làm sao đoán ra cho được!

Hơn cả vấn đề ngôn từ, nội việc thơ Vương Phạn Chí là một phương tiện truyền bá giáo lý cũng ảnh hưởng đến sự mai một của nó.

Hiện tại người ta tính ra Vương Phạn Chí có đến 330 bài thơ. Có dấu hiệu cho thấy thơ ông đã được truyền sang Nhật Bản. Trong Nhật Bản Quốc Kiến Tại Thư Mục Lục日本国見在書目録 (Nihonkoku Kenzaisho Mokuroku = Bảng kê khai sách thấy ở Nhật) ) của Fujiwara no Sukeyo 藤原佐世 (mất năm 898) có nói đến một quyển tên là Vương Phạn Chí Tập王梵志集. Tuy nhiên, ngay ở một nước mà việc bảo tồn bảo tàng được quản lý tốt như Nhật Bản, nó cũng không còn để lại dấu vết.

 

Dịch xong tại Tokyo ngày 23/02/2018

Nguyễn Nam Trân

 

Thư Mục Tham Khảo:

-Chin Shun-Shin, 1989, Tôshi Shinsen (Đường Thi Tân Tuyển), Shinchôsha,Tokyo. (Trích từ trang 35 đến 47)

-Tranh ảnh Internet 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ý của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rõ nguồn lấy từ www.erct.com