THƠ CHỮ HÁN CỦA SUGAWARA NO MICHIZANE

(菅原道真の漢詩)

Biên soạn: Nguyễn Nam Trân

 

Sugawara no Michizane

Ở Nhật Bản, trước chiến tranh, Sugawara no Michizane (845-903), đại thần triều Heian, cùng với Kusunoki Masashige (1294-1336), một vũ tướng thời Nanbokuchô (Nam Bắc Triều), được xem như hai biểu tượng, bên văn bên võ, của kẻ làm tôi hết lòng vì vua vì nước. Michizane là người khoa bảng, quyền cao chức trọng, bác học đa tài nhưng mặt khác lại gặp lắm nỗi truân chuyên, khiến cho cuộc đời của ông được tô vẽ bằng nhiều huyền thoại và truyền thuyết. Ông đã trở thành nguồn cảm hứng cho văn chương và tuồng tích của người đời sau, còn được dân chúng sùng bái như một vị thần văn học, có thể ban phúc họa. Tuy nhiên, bài biên khảo dưới đây của chúng tôi chỉ chú trọng đến Sugawara no Michizane-nhà-thơ và bàn về tác phẩm Hán thi của ông thôi.

Khi viết văn học sử Nhật Bản, những ai đứng trên lập trường dân tộc thường cho rằng hai nhà thơ diễn đạt bằng văn tự quốc âm Ariwara Narihira và Ki no Tsurayuki là thi nhân tiêu biểu của thời Heian nhưng nếu tính gộp cả hai dòng văn học chữ Hán và quốc âm thì phải nói Sugawara no Michizane mới thực sự tiêu biểu. 

Khái lược về thân thế và sự nghiệp

Michizane, con trai Koreyoshi và gọi Kiyokimi bằng ông nội. Ông là nhân vật lỗi lạc thứ 3 trong dòng họ Sugawara nổi tiếng về học vấn từ nhiều thế hệ. Gia đình văn hóa ấy từng có đôi người làm thị giảng (thày học) cho Thiên hoàng. Theo bước ông cha, Michizane nấu sử sôi kinh ở nhà Thái học (Daigakuryô), trúng tuyển kỳ thi Bác sĩ văn chương (Monjô Hakase) rồi sớm đặt chân vào chốn quan trường. Sau thời gian giữ một chức nhỏ trong bộ Lễ (Shikibu), ông bị đổi ra làm trấn thủ địa phương Sanuki (nay là tỉnh Kagawa trên đảo Shikoku). Khi được gọi về kinh đô, ông đứng trong đội ngũ quan lại theo khuynh hướng cách tân dưới trướng Thiên hoàng Uda. Vì Thiên hoàng đánh giá cao tài năng và phẩm cách ông, năm 899, ông được thăng tới chức Hữu đại thần (Udaijin) ngang hàng Thủ tướng. Chẳng ngờ sự trọng dụng ấy khiến cho phải bảo thủ cầm đầu bởi dòng họ quyền thần Fujiwara chống đối. Họ kết tội ông đã chia rẽ hoàng tộc, gây nên mối bất bình giữa hai cha con Thiên hoàng Uda và Daigo, cũng như giữa Daigô với các em. Lần này, ông bị đổi xuống đảo Kyuushuu để làm quan quyền thủ hiến (Gon no sochi) ở súy phủ Dazai. Uất ức vì việc giáng chức này, chẳng bao lâu ông chết trên đảo (903).

Trong bộ Quản gia văn thảo (Kanke bunsô, 900) tức tuyển tập thi văn của 3 đời họ Sugawara từ ông nội đến ông, do chính Michizane thu thập để dâng lên nhà vua, đã thấy có rất nhiều thơ chữ Hán do ông làm ra trong đó, bắt đầu với một bài vịnh hoa mơ, tác phẩm đầu tay tương truyền ông đã viết lúc mới 11 tuổi.

Chúng ta có thể tạm phân chia đời thơ chữ Hán của ông theo 4 thời kỳ:

1)    Thời mới bước vào hoạn lộ (870-886).

2)    Thời ra Sanuki lãnh chức quan địa phương (886-890).

3)    Thời kỳ vinh hiển, được trao trọng trách (890-901).

4)    Thời kỳ bị tả thiên xuống phủ Dazai và chết (901-903).

 

Bối cảnh khi Hán thi Sugawara no Michizane ra đời

Hán thi Nhật Bản chính thức bắt đầu từ thời Asuka (thế kỷ thứ 7) dưới triều Thiên hoàng Tenmu. Qua đến thời Nara (thế kỷ thứ 8) , sự kiện quan trọng nhất có lẽ là việc biên tập Kaifuusô (Hoài Phong Tảo, 751) qui tụ những tác giả Hán thi quan trọng sống cho đến thời đó. Sang đến buổi đầu triều Heian (thế kỷ thứ 9) thì có sự xuất hiện của 3 thi tập biên soạn theo chỉ thị của thiên hoàng là Lăng Vân Tập (814), Văn Hoa Tú Lệ Tập (818) và Kinh Quốc Tập (827).

Khi Sugawara no Michizane sinh ra (845) Hán thi Nhật Bản đang bước vào một khúc quanh lịch sử và điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến thi phong của ông. Lúc đó Nhật Bản đang ở dưới triều Thiên hoàng Ninmyô (Nhân Minh, 833-850) niên hiệu Jôwa (Thừa Hòa). Nhà vua là con trai Thiên hoàng Saga (786-842), một nhà thơ Hán thi lớn. Hai sự kiện quan trọng đã xảy ra lúc đó:

1)    Thế hệ những nhà thơ có mặt trong 3 thi tập soạn theo sắc chiếu,  từ Thiên hoàng Saga cho đến các bầy tôi và thi hữu của ông như Ono no Minemori (778-830), Yoshimine no Yasuyo (785-830), đại sư Kuukai (774-835) lần lượt ra đi... Thay vào đó là sự xuất hiện của những tài năng mới như Ono no Takamura (802-852), Shimada Tadaomi (828-892)...

2)    Sự du nhập vào đất Nhật của thơ Trung Đường, sản phẩm có tính “hiện đại” so với thời Jôwa (Thừa Hòa, 834-848) ngày ấy. Năm Jôwa thứ 5 (838) có vị quan ở phủ Dazai - nơi liên lạc dễ dàng với đại lục - tên gọi Fujiwara no Takemori đã dâng lên thiên hoàng bộ Nguyên Bạch Thi Tập (Thơ Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị) do một thương nhân Trung Quốc đem vào. Năm sau (839), các viên sứ sang nhà Đường lại được học tăng Ennin (Viên Nhân, 794-864) phó thác đem về tài liệu thi văn của Bạch Cư Dị. Đến năm Jôwa 14 (847) hai học tăng Ennin và Egaku (Huệ Ngạc) kẻ trước người sau lại mang Bạch Thị Thi Văn Tập (của Bạch Cư Dị) về nước. Thi nhân Nhật Bản cho đến lúc đó chỉ biết thơ Lục Triều và Sơ Đường, nay đã tìm ra nguồn cảm hứng mới cho sáng tác của mình khi bắt gặp những tác phẩm “đương đại” đó. Hai nhà thơ chịu ảnh hưởng sớm nhất của việc đổi thay này có thể là Ono no Takamura và Korenaga no Harumichi ( ? - ? ). Hoạt động của họ tương ứng với thời niên thiếu và học tập của Michizane hay ngay trước đó nữa.

 

Bước vào hoạn lộ (870-886).

Bài thơ dưới đây được Michizane làm ra vào năm Jôkan (Trinh Quán thứ 13 tức 871), buổi đầu thời Heian, lúc ông mới ra làm quan. Chủ đề ngày rằm tháng 8 vốn được các thi nhân Trung Quốc thời Trung Đường yêu chuộng, đặc biệt Bạch Cư Dị đã có một số bài với đề tài Bát nguyệt thập ngũ dạ này.

Bát nguyệt thập ngũ dạ nguyệt tiền thoại cựu, các phân nhất tự. Thám đắc tâm.

八月十五夜月前話舊各分一字。探得心。

Thu nguyệt bất tri hữu cổ câm (kim),

秋月不知有古今

Nhất điều quang sắc ngũ canh thâm.

一条光色五更深

Dục đàm nhị thập dư niên sự,

欲談二十餘年事

Trân trọng đương sơ khuynh cái (1) tâm.

珍重当初傾葢心

(Đêm 15 tháng 8 trước vầng trăng ôn chuyện xưa, mỗi người bốc thăm một chữ. Ta trúng chữ “Tâm”).

(Trăng thu nào biết cổ kim đâu / Chiếu suốt năm canh vẫn một màu. Có nhớ hai mươi năm chuyện cũ? / Cái thuở bên nhau chụm mái đầu).

(1)   Chữ trong Văn Tuyển (quyển 39): “Ngữ viết: Bạch đầu như tân, khuynh cái như cố” Khuynh cái là nghiêng mái xe để trao đổi câu chuyện, ư nói chuyện tṛ một cách thân t́nh.

Tiếp đến là một bài thơ nói về cảnh lên công đường vào một buổi sáng mùa đông, ước định đã được làm vào năm Jôkan 18 (876). Đây cũng là một đề tài được Bạch Cư Dị yêu chuộng.

Tuyết trung tảo nha雪中早衙

Phong tống cung chung, hiểu lậu văn,

風送宮鐘暁漏聞

Thôi hành lộ thượng tuyết phân phân.

催行路上雪紛紛

Xứng thân trước đắc cầu tam xích,

称身着得裘三尺

Nghi khẩu ôn lai tửu nhị phân.

宜口温来酒二分

Quái vấn hàn đồng hoài nhuyễn nhứ,     

怪問寒童懐軟絮

Kinh khan b́ mă đạo phù vân.

驚看疲馬蹈浮雲

Nha đầu vị hữu tu du tức,

衙頭未有須臾息

Kha thủ thiên hồi trứ án văn.

呵手千回著案文

Trong tuyết đến nha môn

(Gió đưa chuông sớm báo thời giờ, Lên sảnh, đường đi tuyết phất phơ. Ủ ấm manh cừu nhờ chút phận, Sưởi hàn cút rượu nhấp môi hờ. E trẻ không mang thêm áo liễu. Xót nh́n ngựa mỏi đạp mây tơ. Cửa nha vừa tới c̣n chưa thở, Đă vội hơ tay thảo giấy tờ).

Cũng trong năm ấy (876), Michizane có dịp đến viếng đền thần Kehi gần Suruga (vùng Echizen, nay là tỉnh Fukui). Khi ngắm trăng đêm trên vịnh Suruga, ông viết bài thơ sau:

Hải thượng nguyệt dạ 海上月夜

Thu phong hải thượng túc lô hoa,

秋風海上宿蘆花

Huống phục tiêu tiêu khách vọng xa.

況復蕭蕭客望賖

Ngữ tiếu tâm kỳ thanh náo lăng,

語笑心期聲閙浪

Thi biên khẩu hiệu chỉ thư sa.

詩篇口号指書沙

Hành tŕ thiển thảo triều ngân một,

行遅浅草潮痕没

Tọa cửu thâm canh nguyệt ảnh tà.

坐久深更月影斜

Nhược phóng văng lai liên thắng cảnh,

若訪往来憐勝景

Việt châu (1) mại đắc nhất nho gia.

越州買得一儒家

Đêm trăng trên biển

(Gió thu trên biển ngủ đồng lau. Mắt dơi về xa buồn xiết bao. Cười nói tiếng mong ḥa sóng biển. Vạch thơ trên cát, lại ngâm câu. Bước lê, triều ngập ch́m bờ cỏ, Ngồi trễ canh chầy nguyệt nhạt màu. Nếu cứ tới lui đâm mến cảnh, Dẫu nghèo, xứ Việt cũng mua mau).

(1)   Việt châu là vùng Echizen (Việt tiền).

Sách Sandai Jitsuroku (Tam đại thực lục) có nói đến việc sứ thần nước Bột Hải đến kinh đô và về nước vào tháng 5 năm Genkei thứ 7 (883). Có lẽ lúc này Michizane hãy còn làm việc ở Shikibu (Bộ Lễ) và có nhiệm vụ tham gia tiếp đón.

Hạ dạ ư Hồng Lô Quán (1) tiễn Bắc khách qui hương.夏夜於鴻臚館餞北使帰郷

Qui dư lãng bạch dã sơn thanh,

帰歟浪白也山青

Hận bất truy tầm giới thượng (2) đình.

恨不追尋界上亭

Trường đoạn tiền trình tương tống nhật.

腸断前程相送日

Nhãn xuyên hậu kỷ chuyển lai tinh (3).

眼穿後紀転来星

Chinh phàm dục hệ cô vân ảnh,

征帆欲繋孤雲影

Khách quán tranh dung sổ nhật quynh.

客館争容数日扃

Tích biệt hà vi dao nhập dạ,

惜別何為遥入夜

Duyên hiềm lạc lệ bị nhân thinh.

縁嫌落涙被人聴

Đêm mùa hạ ở quán Hồng Lô tiễn khách bắc (sứ thần Bột Hải) về nước.

(Người về sóng bạc tiếp non xanh. Hận chẳng đưa nhau tới giáp ranh. Ruột đứt trong ngày đưa tiễn bạn. Mắt cay từ buổi ngóng tin anh. Buồm đi muốn cột vào mây lẻ. Quán khách dăm hôm chửa cạn tình. Ly biệt đêm thâu bày rượu tiễn. Để không ai thấy lệ rơi quanh).

1)      Hồng Lô Quán là nơi tiếp đón sứ thần các nước, ở Kyôto.

2)      Giới thượng đình: Ý nói cửa quan Ôsaka phân chia hai vùng Shiga (Ômi) và Kyôto (Yamasahiro).

3)      Ngôi sao cứ 12 năm thì quay lại. Ý mong sứ thần tới lần nữa.

Bài thơ khóc cái chết con trai dưới đây cũng được phỏng định được tác giả đã viết ra vào năm 883. A được hiểu như là tiếng gọi thân mật một đứa bé. Mãn (maro) chỉ chung con trai.

Mộng A Mãn ( 4 đoạn tất cả 28 câu) 夢阿満

Đoạn 1 gồm 6 câu:

A Mãn vong lai dạ bất miên,

阿満亡来夜不眠

Ngẫu miên mộng ngộ thế liên liên.

偶然夢遇涕漣蓮

Thân trường khứ hạ dư tam xích,

身長去夏餘三尺

Xỉ (1) lập kim xuân khả thất niên.

歯立今春可七年

Tùng sự thỉnh tri nhân tử đạo,

従事始知人子道

Độc thư ám tụng Đế Kinh Biên (2).

読書暗誦帝京篇

Sơ độc Tân Vương Cổ Ý Biên (3)

(A Mãn chết rồi ngủ được đâu. Gặp con trong mộng lệ tuôn mau. Hè rồi cao được chừng non thước. Sao vội xuân nay bảy tuổi đầu. Bố muốn nếp nhà bền đạo nghĩa. Đế Kinh chương ấy thuộc cho làu).

1)      Xĩ : răng, ở đây ý nói tuổi tác.

2)      Đế Kinh Biên : Thơ Lạc Tân Vương (640?-684?), một trong tứ kiệt thời Sơ Đường, ca ngợi thành phố Trường An.

3)      Có thể là bài Vịnh hoài cổ ý thướng Bùi Thị Lang của họ Lạc hay một bài thơ theo Cổ nhạc phú mang đề tài Cổ ý nhưng đã mất...

Ban đầu A Mãn đọc những bài Cổ Ý của Lạc Tân Vương

Đoạn 2 gồm 6 câu;

Dược trị trầm thống tài tuần nhật,

薬治沈痛纔旬日

Phong dẫn du hồn thị cửu tuyền.

風引游魂是九泉

Nhĩ hậu oán Thần kiêm oán Phật,

爾後怨神兼怨佛

Đương sơ vô địa hựu vô thiên.

当初無地又無天

Khán ngô lưỡng tất đa trào lộng,

看吾両膝多嘲弄

Điếu nhữ đồng bào (1) cộng táng tiên (2).

悼汝同胞共葬鮮

A Mãn dĩ hậu tiểu đệ thứ vong

(Thuốc giảm đau chăng cũng vài bữa. Gió chướng đưa hồn xuống suối vàng. Từ đó, oán Thần thêm oán Phật. Trách trời trách đất, dạ hoang mang. Nhìn ta nhiều kẻ chừng cười nhạo. Vô phúc, hai trai mệnh dở dang).

1)      Đồng bào: chỉ em trai A Mãn.

2)      Táng tiên: chết yểu.

Được biết sau khi A Mãn chết thì em trai cũng nối gót theo.

Đoạn 3 gồm 6 câu:

Lai Đản (1) hàm châu bi lão bạng,

莱誕含珠悲老蚌

Trang Chu ủy thuế khấp hàn thiền.

荘周委蛻泣寒蝉

Na kham tiểu muội hô danh mịch,

那堪小妹呼名覓

Nan nhẫn a nương diệt tính liên.

難忍阿嬢滅性憐

Thủy vị vi vi trường tiệm tục,

始謂微微腸暫続

Hà nhân cấp cấp thống như tiễn (tiên).

何因急急痛如煎

1)      Lai Đản: chỉ Lão Tử (Lão Đam, Lão Lai Tử).

Mô tả cảnh gia đình thương tiếc A Mãn:

(Lão Tử than trai già ngậm ngọc. Trang Chu buồn nỗi sâu thành ve. Thương sao em gái gọi anh hỡi. Tội bấy mẹ gầy dạ tái tê. Lúc đầu chỉ mới lâm râm bụng. Sau thoắt đau như lửa bốn bề)

Đoạn 4 gồm 10 câu tả cảnh nhìn các di vật con để lại và mong nó được về miền Cực Lạc:

Tang hồ hộ thượng gia bồng thỉ,

桑弧戸上加蓬矢

Trúc mã ly đầu trước cát tiên.

竹馬籬頭著葛鞭

Đình trú hư tài hoa cựu chủng,

庭駐虚栽花奮種

Bích tàng học điểm tự bàng biên.

壁残學點字傍邊

Mỗi tư ngôn tiếu duy như tại,

毎思言笑維如在

Hy kiến khởi cư hốt mang nhiên.

希見起居惣茫然

Đáo xứ Tu Di mê bách ức,

到処須弥迷百億

Sinh thời thế giới ám tam thiên.

生時世界暗三千

Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát,

南無観自在菩薩

Ủng hộ ngô nhi tọa đại liên.

擁護吾児坐大蓮

(Trên cửa còn treo cung với tên. Ngựa trúc roi sắn dựng rào bên. Mấy giống hoa vườn nào khác trước. Vách treo bảng điểm vẫn y nguyên. Tiếng cười giọng nói như đâu đó. Dáng đứng ngồi kia nhớ tủi thêm. Hay đến Tu Di không biết lối. Như khi còn sống lạc Tam Thiên. Cúi xin Quán Tự Tại Bồ Tát. Cứu vớt con tôi lên tòa sen).

 

 Ra Sanuki lãnh chức quan địa phương (886-890)

Bài thơ tiếp đây được tác giả làm vào tháng giêng năm 886, lúc lên đường phó nhậm ở địa phương Sanuki trên đảo Shikoku năm ông 42 tuổi. Nhiều người cho việc bổ nhậm này là một chuyến lưu đày vì ngày xưa làm quan, chẳng ai muốn lìa kinh đô, cho nên lời thơ của tác giả không khỏi chất chứa một nỗi buồn. Đây là bài thứ nhất trong hai bài có cùng chủ đề.

Trung đồ tống xuân 中途送春

Xuân tống khách hành, khách tống xuân,

春送客行客送春

Thương hoài tứ thập nhị niên nhân.

傷懐四十二年人

Tư gia lệ lạc thư trai cựu,

思家涙落書斎旧

Tại lộ sầu sinh dã thảo tân.

在路愁生野草新

Hoa vị tùy thời dư sắc tận,

花為随時餘色盡

Điểu như tri ý vãn đề tần.

鳥如知意晩啼頻

Phong quang kim nhật đông qui khứ,

風光今日東帰去

Nhất lưỡng tâm tình thả phụ trần.

一両心情且附陳

Trên đường (Sanuki phó nhậm), tiễn mùa xuân

(Xuân dường tiễn khách, khách đưa xuân. Bốn mươi hai tuổi mấy phong trần. Nhớ nhà lệ xót phòng văn cũ. Sầu dậy bên đường tựa cỏ xanh. Theo bước mùa đi, hoa héo úa. Chim chiều hiểu ý, giọng buồn ngân. Phong quang đà bỏ về Đông cả. Duy chút tâm tình gửi cố nhân).

Mùa lạnh mau đến cũng là một cái cớ để làm thơ. Xưa kia thi nhân Thịnh Đường là Lý Bạch từng viết về dề tài ấy (Cổ phong ngũ thập cửu thủ) với những câu như” Thu lộ bạch như ngọc. Hàn tảo bi niên thúc”秋露白如玉、寒早悲年促. Nguyên chùm thơ Hàn tảo của Michizane có 10 bài toàn dùng 4 vần là “nhân/ thân/ bần 貧/ tần” để nói đến những nhân vật tuy có khác nhưng cùng một điểm chung là suốt đời nghèo khó, cơ cực (nhân thân bần tần) từ kẻ đào vong, kẻ lưu lạc, kẻ chèo thuyền, người đi câu, người buôn muối, kẻ trồng cây thuốc, kẻ chèo đò, người coi dịch trạm. Xin trích sau đây 2 bài nói về ông già góa vợ (bài số 3) và đứa bé mồ côi (bài số 4). Chùm thơ này được biết đã làm ra vào năm Ninna (Nhân Hòa) thứ 2 (886).

Hàn tảo 寒早

Bài 3: Lão quan nhân老鰥人

Hà nhân hàn khí tảo,

何人寒気早

Hàn tảo lão quan nhân

寒早老鰥人

Chuyển tẩm song khai nhãn,

転枕双開眼

Đê diêm độc ngọa thân.

低簷独臥身

Bệnh manh du kết muộn,

病萌逾結悶

Cơ bách thùy sầu bần.

肌迫誰愁貧

Ủng bão thiên cô tử

擁抱偏孤子

Thông tiêu lạc lệ tần.

通宵落涙頻

Lạnh sớm.

Ông già góa vợ

(Vì ai trời lạnh sớm. Vì góa bụa thân ông? Trở gối thao thức mãi. Hạ liếp giường nằm không. Bệnh chớm thêm sầu khổ. Đói khát chẳng ai trông. Suốt đêm không ngớt lệ. Con dại ấp bên lòng).

Bài 4: Cô nhân 孤人

Hà nhân hàn khí tảo,

何人寒気早

Hàn khí túc cô nhân.

寒気夙孤人

Phụ mẫu không văn nhĩ,

父母空聞耳

Điệu dung vị miễn thân.

調庸未免身

Cát y đông phục bạc,

葛衣冬服薄

Sơ thực nhật tư bần.

蔬食日資貧

Mỗi bị phong sương khổ,

毎被風霜苦

Tư thân dạ mộng tần.

思親夜夢頻

Bài 4: Đứa bé mồ côi

(Vì ai trời lạnh sớm. Vì đứa bé cút côi. Hai thân, hỏi không nói. Thuế má réo đôi nơi. Trời đông manh áo mỏng. Bụng đói, của đâu rơi. Bữa gặp trời sương gió. Mơ thấy mẹ cha thôi.) 

Cảnh nghèo khổ của dân chúng nhìn thấy trong thời gian trấn nhậm đã làm cho Michizane xúc động và đánh thức lương tâm kẻ sĩ ưu thời mẫn thế. Xin đọc chùm thơ thất ngôn tứ tuyệt trong Quản gia văn thảo, quyển 3. Ở đây, ông viết về cảnh ngộ một ông già đan sọt bằng cói lác.

Vấn lận tứ ông 問藺笥翁

Vấn nhĩ bà bà nhất lão ông,

問你皤皤一老翁

Danh vi lận tứ sự hà nhân.

名為藺笥事何因

Sinh niên kỷ cá gia an tại,

生年幾箇家何在

Thiên cước cú lũ diệc cụ trần.

偏脚句瘻亦具陳

(Hỏi ông đan sọt lác)

(Cụ ông tóc bạc, kể nghe nào! Tên “Ông đan sọt”, cớ vì sao? Năm nay mấy tuổi, có nhà cửa? Chân quặt, lưng còng bởi tại đâu?)

Đại ông đáp chi 代翁答之

Lận tứ vi danh tại thủ công,

藺笥為名在手工

Đồi linh lục thập trạch sơn đông.

頽齢六十宅山東

Độc sang thủng lạn thương cước thiên,

毒瘡腫爛傷脚偏

Bất ký hà niên tự tiểu đông.

不記何年自小童

(Trả lời thay ông già)

(Tên tôi “đan sọt” nghề thủ công, Tuổi trên sáu chục nhà núi Đông. Vết thương làm độc sinh què quặt, Mang tật từ hồi hãy trẻ con)

Trùng vấn 重問

Cận tiền vấn nhữ cánh tân toan,

近前問汝更辛酸

Niên kỷ bệnh nguyên thị lão tàn.

年紀病源是老残

Mãi tứ thôn trung ưng tiện giá,

売笥村中応賤価

Sinh nhai định bất miễn cơ hàn?

生涯定不免飢寒

(Lại hỏi thêm)

(Tới đây, kể tiếp nỗi tân toan? Tuổi cao bệnh hoạn, thân lão tàn. Thôn nghèo sọt lác khó cao giá, Bấp bênh, cuộc sống chắc cơ hàn?)

Lão tàn đây không theo nghĩa thông thường nhưng là một chữ dùng trong pháp chế thời ấy. Dưới chế độ luật lệnh, phần Hộ lệnh (戸令phép về gia cư) cho biết lão là người tuổi trên 60, còn tàn là người tàn tật (có 3 cấp bậc: phát tật, tàn tật và đốc tật). Ông già này nằm trong hạng bần dân cần được cứu giúp. Michizane đã đặt bút viết bài thơ này trong tư thế của một vị đường quan trên đường tuần du.

Trùng đáp 重答

Nhị nam tam nữ nhất lão thê,

二男三女一老妻

Mao diêm nội ngoại hợp thanh đề.

茅簷内外合聲啼

Kim triêu hạnh nhuyễn ân cần vấn,

今朝幸軟陰慇懃問

Phù trượng qui thì đấu mễ đề.

扶杖帰時斗米提

(Lại trả lời)

(Hai trai ba gái, một lão thê, Quanh túp lều tranh khóc não nề. Sáng nay ông hỏi, lòng vơi tủi, Chống gậy về nhà, gạo sẽ bê). 

Chủ đề “Xuân tận” thường thấy trong thơ Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn đời Trung Đường. Bài “Xuân tận nhật” của họ Bạch là một ví dụ. Michizane đã viết một bài cùng đề tài này vào năm Ninna thứ 3 (887) trên đường phó nhậm Sanuki.

Xuân tận 春盡

Phong nguyệt năng thương lữ khách tâm,

風月能傷旅客心

Tựu trung xuân tận lệ nan câm (cấm).

就中春盡涙難禁

Khứ niên mã thượng hành tương tống,

去年馬上行相送

Kim nhật vũ giáng ngọa độc ngâm.

今日雨降臥独吟

Hoa điểu tùng nghênh chu cảnh lão

花鳥従迎朱景老

Mấn mao hà bị bạch sương xâm.

鬢毛何被白霜侵

Vô nhân đắc ý câu ngôn tiếu,

無人得意倶言咲

Hận sát mang mang nhất thủy thâm.

恨殺茫茫一水深

Mùa xuân hết

(Lữ khách thường buồn trước gió trăng. Huống chi xuân hết lệ khôn ngăn. Năm qua trên ngựa cùng đưa tiễn. Nay mưa trước mặt một mình ngâm. Thuở ấy chim hoa đón xuân hạ. Giờ đã sương thu mái tóc râm. Không kẻ tri âm cùng chuyện vãn. Mênh mông, ngắm biển, nỗi đau thầm)

Đáo Hà Dương (1) dịch hữu cảm nhi khấp 到河陽駅有感而泣

Khứ tuế cố nhân Vương (2) phủ quân,

去歳故人王府君

Dịch lâu chấp thủ khấp tương phân.

駅楼執手泣相分

Ngã kim đáo thứ vấn đình lại,

我今到此問亭吏

Vi báo hướng lai nhất điểm phần.

為報向来一點墳

Đến trạm xá phía bắc sông Yodogawa thương cảm mà khóc.

(Năm ngoái trên lầu khóc biệt nhau. Bạn Vương từ đó biết về đâu. Hôm nay khi hỏi người coi trạm. Họ chỉ ta xem nấm đất nâu).

1)      Hà Dương là bờ phía bắc con sông Yodogawa ở gần Oosaka.

2)      Vương: tên một người bạn người Trung Quốc đã nhập tịch Nhật.Không rõ là ai.

Đông dạ nhàn cư thoại cựu dĩ sương vi vận冬夜閑居話舊以霜為韻

Hoài cựu do thăng đáo lão vương (vong),

懐舊猶勝到老忘

Đa ngôn thả khủng tổn trung trường.

多言且恐損中腸

Giao du thiếu nhật tâm như thủy,

交遊少日心如水

Nhàn thoại kim tiêu mấn hữu sương.

閑話今宵鬢有霜

Bất hận hàn canh tam ngũ khứ,

不恨寒更三五去

Vô kham lạc lệ bách thiên hàng.

無堪落涙百千行

Tương luân (luận) tiền sự cố nhân tại,

相論前時故人在

Chỉ thị đương niên ngã độc thương.

只是當年我独傷

Đêm đông ngồi chơi nói chuyện xưa (Lấy Sương làm vần)

(Nhớ cũ còn hơn lẫn bởi già. Tuy thành hiếu sự, buồn người ta. Ngày xưa bầu bạn lòng trong vắt. Chuyện vãn đêm nay tóc đã pha. Tuy không hận nỗi năm canh chóng. Nhưng ngại muôn hàng giọt lệ sa. Nhắc đến bao người trong chuyện cũ. Chỉ để chạnh lòng thương chính ta).

Tứ niên tam nguyệt nhị thập lục tác 四年三月二十六作

Ngã tình đa thiểu dữ thùy đàm,

我情多少與誰談

Huống hoán phong vân cảm bất kham.

況換風雲感不堪

Kế tứ niên xuân tàn nhật tứ,

計四年春残四日

Phùng tam nguyệt tận khách cư tam.

逢三月盡客居三

Sinh y dục đãi gia nhân trước,

生衣欲待家人著

Túc nhưỡng đương chiêu ấp lão hàm.

宿醸當招邑老酣

Hảo khứ oanh hoa kim dĩ hậu,

好去鶯花今已後

Lãnh tâm nhất hướng khuyến nông tàm.

冷心一向勧農蚕

Thơ viết ngày 26 tháng 3 vào năm thứ tư phó nhậm (888, ở Sanuki)

(Tâm tình đã ít ngỏ cùng ai. Ở chốn xa xôi lại khó thay. Còn độ bốn hôm xuân tới bốn. Tháng ba tròn nữa ba năm đầy. Áo mát vợ nhà chưa gửi mặc. Rượu chưng mời mấy cụ thôn ngoài. Hết cảnh oanh, hoa, xuân đã cạn. Nương, tằm chính thị việc quan đây).

Bài Ngôn tử tiếp theo đây cũng làm ra vào năm Ninna thứ 4 (888), lúc tác giả 44 tuổi và đang ở cõi ngoài. Thông thường con trai 20 và con gái 15 thì có thể làm lễ đội mão (gia quan) hay cài trâm (gia kê). Có trường hợp họ cử hành lễ này sớm hơn nếu người trong cuộc được suy định là đã đủ tư chất, bản lĩnh. Riêng mấy người con của Michizane thì không đủ tư chất (có thể là ông nói khiêm) nên đã quá tuổi mà vẫn chưa đủ điều kiện thành nhân.  :

Ngôn tử 言子

Nam ngu nữ xú, bẩm thiên ti (tư),

男愚女醜本天姿

Ỷ lễ quan kê cộng thất thì.

依礼冠笄共失時

Hàn thụ hoa khai hồng diễm thiểu,

寒樹花開紅艶少

Ám khê điểu nhũ vũ mao trì.

暗渓鳥乳羽毛遅

Gia vô đảm thạch ưng do ngã,

家無担石応由我

Nghiệp hữu văn chương dục phụ thùy.

業有文章欲附誰 

Thử sự tuy đồng cùng lão thán.

此事雖同窮老嘆

Thích ngôn kỳ tử khách tình bi.

適言其子客情悲

Nói con nghe.

(Trai ngu gái xấu cũng do trời. Lỡ chuyện cài trâm đội mão rồi. Hoa nở tiết hàn nên chẳng thắm. Chim nuôi hang tối chậm lông thôi. Nhà không của cải vì ta cả. Nghiệp bố văn chương khó để đời. Chỉ biết than già, thân túng quẫn. Nỗi buồn đất khách gửi con tôi).

Bài thơ dưới đây được suy định làm ra vào năm Genkei (Nguyên Khánh thứ 7, 883) nói lên tình đời đen bạc sau cái chết của một nhà quyền quí. Nó cũng chứng minh cho cái bèo bọt của kiếp vinh hoa nhưng có thể là dự cảm cho tiền đồ đen tối của mình:

Xuân nhật quá thừa tướng nha môn 春日丞相家門

Trừ mục (1) minh triêu thừa tướng (2) gia,

除目明朝丞相家

Vô nhân vô mã phục vô xa.

無人無馬復無車

Huống hồ nhất đán khảo vong hậu,

況乎一旦薨亡後

Môn hạ ưng khan chỉ cức hoa.

門下応看只枳棘花

Ngày xuân qua trước dinh quan thừa tướng,

(Sáng bổ quan, qua nhà thừa tướng. Không người không ngựa cũng không xe. Huống chi thân ấy đà nằm xuống. Trước cửa chùm hoa gai loe hoe).

(1)   Trừ mục là ngày làm lễ bổ nhiệm các quan ở địa phương vì “trừ” có nghĩa là ngạch trật.

(2)   Thừa tướng lừ tên quan chức nhà Đường, ở Nhật nó ngang hàng với cấp bậc Hữu Đại thần (Udaijin) hay Tả đại thần (Sadaijin). Không rõ Michizane muốn ám chỉ ai.

Không chỉ đối với ông quan lớn thất thế, Michizane còn tỏ lòng thương cảm đến những người nghèo khổ vì ông xuất thân từ giai cấp bình dân chứ không phải đẻ ra là đã nằm trong nhung lụa như kiểu quí tộc Fujiwara. Hơn nữa, ông là một nhà nho chân chính, được thân phụ Koreyoshi dạy dỗ chu đáo (nên ông cũng dạy lại con cái và học trò rất kỹ lưỡng). Tuy gia đình ông đều học hành đến nơi đến chốn nhưng ông không hề hợm hĩnh mà còn tỏ ra lo sợ vì trách nhiệm trước mảnh bằng Monjô Hakase (Văn chương bác sĩ) có trong tay. Hãy đọc bài “Bác sĩ nan” nói lên cái khó khăn của người đỗ đạt và có chức phận:

Bác sĩ nan 博士難

Ngô gia phi tả tướng,

吾家非左將

Nho học đại qui canh.

儒学代帰耕

Hoàng khảo vị tam phẩm

皇考位三品

Từ phụ chức công khanh.

慈父職公卿

Dĩ tri kê cổ lực,

已知稽古力

Đương thí tử tôn vinh.

當施子孫栄

Ngã cử tú tài nhật,

我挙秀才日

Ky cầu dục cần thành.

箕裘欲勤成

Ngã vi bác sĩ tuế,

我為博士歳

Đường cấu hạnh kinh doanh.

堂構幸経営

Vạn nhân giai cạnh hạ,

萬人皆競下

Từ phụ độc tương kinh.

慈父独相驚

Tương kinh hà dĩ cố,

相驚已何故

Viết bi nhữ cô quỳnh.

曰非汝孤惸

Bác sĩ quan phi tiện,

博士官非賤

Bác sĩ lộc phi khinh.

博士禄非軽

Ngô tiên kinh thử chức,

吾先径此職

Thận chi úy nhân tình.

慎之畏人情

Thủy tự văn từ hối,

始自聞慈誨

Phúc thủy bất nan hành.

覆水不難成

Tứ niên hữu triều nghị,

四年有朝議

Lệnh ngã thụ chư sinh.

令我授諸生

Nam diện tài tam nhật,

南面纔三日

Nhĩ văn phỉ báng thanh. 

耳聞誹謗聲

Kim niên tu cử điệp,

今年修挙牃

Thủ xả thậm phân minh.

取捨甚分明

Vô tài tiên xả giả,

無才先捨者

Sàm khẩu tố hư danh.

讒口訴虚名

Giáo thụ ngã vô thất,

教授我無失

Tuyển cử ngã hữu bình.

選挙我有平

Thành tai từ phụ lệnh,

誠哉慈父令

Giới ngã ư vị manh

誡我於未萌

(Cái khó của chức danh Tiến sĩ)

(Nhà ta không nghiệp võ. Nho học vốn thâm canh. Ông nội hàm tam phẩm. Bố ta chức công khanh. Ta hiểu nếu chăm chỉ. Con cái sẽ thành danh Hồi mới đỗ ông tú. Mong nối nghiệp cha anh. Lên đến cấp tiến sĩ. May thỏa mộng bình sinh.

Muôn người đến chúc tụng. Mỗi cha là hoảng kinh. Hỏi vì sao bố sợ? Vì mi chỉ một mình. Chức tiến sĩ người muốn, Lương tiến sĩ người ganh. Ta từng lãnh chức ấy. Hiểu thế thái nhân tình. Từ khi nghe cha dạy. Cẩn thận sợ sai lầm. Nước đổ khó vớt lại.

Năm (Genkei) thứ tư có họp. Triều đình bảo đi dạy. Mới ngồi được ba bữa. Tiếng chữi đã vào tai. Năm nay viết ý kiến. Đề cử người hiền tài, Đỗ trượt qui định rõ. Có kẻ dốt bị loại. Mới buông lời sàm báng. Người đỗ không xứng đáng. Nhưng ta không lầm lỗi. Chọn lựa rất công bình. Sáng suốt thay, cha dặn. Lúc tệ hại chưa sinh)

Michizane nhận được nền giáo dục công chính như thế nên ông đã truyền đạt cho thế hệ sau những điều ông học hỏi được từ ông nội và từ cha. Nhân mừng học trò thi đỗ, ông đã viết 10 bài thơ tuyệt cú với ý răn dạy. Xin trích hai (bài 1 và 6):

Tuyệt cú thập thủ, hạ chư tiến sĩ cập đệ (kỳ nhất, kỳ lục) 絶句十首賀諸進士及第

(I)

Thất thất đồi linh thị lão sinh,

七七頽齢是老生

Thệ vân vị tử toại thành danh.

誓云未死遂成名

Minh vương nhược vấn quân tài dụng,

明王若問君才用

Lại cán sai thăng phong nguyệt tình.

吏幹差勝風月情

(VI)

Nhân cộng hạ quân ngã độc thương,

人共賀君我独傷

Tằng tri đối sách nhược phong sương.

曽知対策若風霜

Long Môn thử nhật bình tam xích,

龍門此日平三尺

Nỗ lực tiền đồ vạn nhận cường.

努力前途萬仞強

(Mười bài tuyệt cú mừng các tiến sĩ tân khoa)

Bài I:

(Bốn mươi chín tuổi, sinh viên già.Thề trước khi chết thành tân khoa. Nhà vua nếu hỏi dùng chi được. Ta bảo tài quan vượt sức thơ).

Bài VI:

(Người xúm mừng anh, ta chỉ thương. Biết rằng đậu đạt khó khôn lường. Long Môn cửa ấy nay dù vượt. Hiểm trở tiền đồ phải gắng hơn)

Ba bài thơ liên tiếp dưới đây (Độc ngâm, Dã thôn hỏa, Tàn đăng) vốn được làm vào năm Kanpyô (Khoan Bình) nguyên niên đời Thiên hoàng Uda (Vũ Đa) tức năm 889, lúc Michizane từ Sanuki vẫn chưa được gọi về triều. Chúng nằm trong chín bài thơ vịnh cảnh đêm đông tức Đông dạ cửu vịnh. Sáu bài khác có tựa đề là: Bất thụy (Không sao ngủ), Sơn tự chung (Chuông chùa núi), Tụng kinh (Tụng kinh), Lão tùng phong (Gió qua tùng già), Hiểu nguyệt (Trăng về sáng), Thủy thanh (Tiếng nước chảy):

Độc ngâm 独吟

Sàng hàn chẩm lãnh đáo minh trì,

床寒枕冷到明遅

Cánh khởi đăng tiền độc vịnh thi.

更起燈前独詠詩

Thi hứng biến lai vi cảm hứng,

詩興変来為感興

Quan thân vạn sự tự nhiên bi.

関身万事自然悲

Một mình ngâm thơ

(Giường gối lạnh tanh trời chậm sáng. Dậy trước đèn khuya vịnh mấy câu. Thi hứng làm mình đâm cảm khái. Nhìn lại đời ta, biết mấy sầu).

Dã thôn hỏa 野村火

Phi đăng phi chúc hựu phi huỳnh,

非燈非燭又非蛍

Kinh kiến hoang thôn nhất tiểu tinh.

驚見荒村一小星

Vấn đắc gia ông trầm bệnh khốn,

問得家翁沈病困

Dạ thâm tùng tiết chiếu sài quynh.

夜深松節照柴扃

Đóm lửa trong thôn vắng

(Nào phải đom đóm, đèn, đuốc đâu. Lạ bấy thôn nghèo có ánh sao. Mới biết cụ già kia bệnh khổ. Que ngo khuya khoắt rọi trong lều).

Tàn đăng 残燈

Cảnh cảnh hàn đăng dạ độc thư,

耿耿寒燈夜読書

Yên lam độ dũ dục hà như.

煙嵐度牖欲何如

Vi tâm bán tử tần khiêu tiến,

微心半死頻挑進

Chiết tận khô hao nhất xích dư.

折盡枯蒿一尺餘

Đèn tàn

(Le lói đèn đêm, ḿnh đọc sách. Sương vào cửa sổ, lòng vẩn vơ. Bấc kia đà lụn, khêu lên mãi. Tàn đấy nhưng còn một chút lưa).

 

Vinh hiển, được trao trọng trách (890-901).

Sự tích Khiên Ngưu Chức Nữ là một đề tài yêu chuộng của thi nhân cung đình. Một phần, sở thích này có lẽ đến từ ảnh hưởng văn hóa nhà Đường nhưng mặt khác có thể còn vì sự nhạy cảm của người Nhật đối với thiên nhiên và thời tiết cũng nhu nỗi buồn trong cảnh chia ly, một tình cảm phổ thông mọi nơi và mọi thời. Bài thơ này làm ra vào năm Kanpyô thứ 3 (891), thời điểm Michizane được gọi về lại kinh đô và trở thành một nhân vật thuộc chính quyền trung ương, có cơ hội xướng họa với thiên hoàng.

Thất nguyệt thất nhật đại Ngưu Nữ tích hiểu cánh các phân nhất tự ứng chế. Thám đắc “Trình” tự 七月七日牛女惜暁各分一字応製、探得程字

Niên bất tái thu, dạ ngũ canh,

年不再秋夜五更

Liệu tri linh phối hiểu lai tình.

料知霊配暁来情

Lộ ưng biệt lệ chu song lạc,

露応別涙珠空落

Vân thị tàn trang kế vị thành.

雲是残粧髻未成

Khủng kết kiều tư thương thước xí,

恐結橋思傷鵲翅

Hiềm thôi giá dục á kê thanh.

嫌催駕欲唖鶏聲

Tương phùng tương thất gian phân thốn,

相逢相失間分寸

Tam thập lục tuần nhất thủy trình.

三十六旬一水程

Mồng bảy tháng bảy làm thơ ứng chế (theo lệnh Thiên hoàng Uda) nói thay lời Ngưu Lang Chức Nữ tiếc trời chóng sáng. Chia nhau mỗi người lấy một chữ làm vần. Ta bắt trúng chữ “Trình”. 

(Năm chẳng hai thu, đêm sắp sáng. Biệt ly tình ấy hiểu cho người. Sương là lệ tiếc rơi thành ngọc. Mây giống ai kia tóc rối bời. Chớ bắc cầu về, này  cánh quạ. Đừng nhanh báo sáng, tiếng gà ơi. Gặp đó chia đây, giây phút ngắn. Quanh năm cách bến, mõi mòn thôi).

Một bài thơ ứng chế khác được viết vào ngày mồng 10 tháng 9 trong tiệc rượu cúc một ngày sau tiết Trùng Dương năm Kanpyô thứ 3 (891):

Trùng Dương hậu triêu, đồng phú “Thu nhạn lỗ thanh lai” ứng chế 

重陽後朝同賦秋鴈櫓聲来応製

Bích sa song hạ lỗ thanh u,

碧沙窓下櫓聲幽

Văn thuyết tiêu tiêu lữ nhạn thu.

聞説蕭蕭旅鴈秋

Cao kế vân tình hàn khiếu trận,

高計雲晴寒叫陣

Sạ phùng triều cấp hiểu hành chu.

乍逢潮急暁行舟

Sa đình cảm ngộ Tùng giang túc,

沙庭感誤松江宿

Nguyệt thế kinh nghi Kính thủy du.

月砌驚疑鏡水遊

Truy tích trùng dương nhàn thuyết xứ,

追跡重陽閑説処

Cung nhân quái vấn thị ngư âu.

宮人怪問是漁謳

Sáng sau ngày trùng dương, cùng ứng chế đề tài “Tiếng nhạn kêu, tiếng mái chèo thu vọng lại”

(Mái chèo buồn vọng đến bên song. Nghe như lũ nhạn báo thu cùng. Trời cao lành lạnh chim kêu rộn. Ngỡ nhịp chèo mai kịp nước ròng. Chắc thấy sông Tùng mừng bến đỗ. Lạ nhìn hồ Kính bãi trăng trong. Cung son tiệc cúc người kia hỏi. Ông câu đang hát, đúng hay không?)

Bài thơ dưới đây được chú thích đã làm ra vào ngày 17 tháng 10 nhuận năm Shôtai (Xương Thái) nguyên niên (898) ở chỗ gọi là thi đình thuộc phủ của Hoàng tử thứ 9 (tên Atsuzane, Đôn Thực, con trai Uda). Lúc này, Michizane vẫn là một đình thần thân cận của nhà vua mới (Thiên hoàng Daigo) nhưng sao nghe khẩu khí đã có gì vướng mắc:

Đối tàn cúc đãi tàn nguyệt 対残菊待残月

Nguyệt sơ phá khước cúc tài tàn,

月初破却菊纔残

Ngư phụ tiều phu ức ý nan.

漁父樵夫抑意難

Huống phục thi nhân phi tục vật,

況復詩人非俗物

Dạ thâm niên mộ khấp tương khan.

夜深年暮泣相看

Trước trăng khuyết cúc tàn

(Trăng vừa hơi khuyết cúc vừa tàn. Ngư tiều tấc dạ đă mang mang. Huống khách làng thơ hồn tựa cúc. Năm tàn đêm lạnh phải kêu than).

 

Bị tả thiên xuống phủ Dazai (901-903).

Vận hội của Michizane bắt đầu suy thoái từ khi Thiên hoàng mới là Daigo (Đề Hồ, tức hoàng tử thứ nhất Đôn Nhân, Atsugimi) lên ngôi (trị vì 897-930). Nhà vua sinh năm 885, lúc đó mới 12 tuổi. Vua cha (Uda) và phái cấp tiến của ông có lẽ bị sức ép nên phải nhượng vị cho con. Năm 901, với cuộc đảo chánh cung đình này, Michizane hoàn toàn thảm bại trước thế lực của hào tộc Fujiwara đại diện bởi Fujiwara no Tokihira (Đằng Nguyên Thì Bình, 871-909), đành phải ra làm quan ở địa phương lần thứ hai. Tuy được giữ chức cao ở Súy phủ Dazai nhưng tình cảnh bi đát và uất hận hơn trước nhiều. Có thể xem lần ra đi này như là một cái chết về mặt chính trị.

Một góc Kitano Tenmangu (Đền Michizane ở Kyoto)

 

Tình cảnh ấy có thể thấy qua bài Bất xuất môn sau đây:

Bất xuất môn 不出門

Nhất tùng trích lạc tựu sài kinh,

一従謫落就柴荊

Vạn tử căng căng cục tích tình.

萬死兢兢跼蹐情

Đô phủ lâu tài khan ngõa sắc,

都府楼纔看瓦色

Quan Âm Tự chỉ thính chung thanh.

観音寺只聴鐘聲

Trung hoài hảo trục cô vân khứ,

中懐好逐孤雲去

Ngoại vật tương phùng mãn nguyệt nghênh.

外物相逢満月迎

Thử địa tuy thân vô kiểm hệ,

此地雖身無撿繋

Hà vi thốn bộ xuất môn hành.

何為寸歩出門行

Không ra khỏi cửa

(Từ ra đất trích cửa sài nằm. Ngần ngại trăm điều, lo thiệt thân. Mắt chỉ thấy xanh ngói đô phủ. Tai nghe toàn chuông chùa Quan Âm. Nỗi lòng đã gửi chòm mây lẻ. Cuộc thế dửng dưng như trăng rằm. Nơi đây dù chẳng  ai ràng buộc. Ra ngõ làm chi rộn bước chân).

Michizane chỉ c̣n biết sống trong kỷ niệm. Nào đâu những ngày được nhà vua sủng ái, tin cậy, một điều chỉ mới xảy ra vào năm ngoái mà thôi:

Cửu nguyệt thập nhật 九月十日

Khứ niên kim dạ thị Thanh Lương,

去年今夜侍清涼

“Thu tứ” thi biên, độc đoạn trường.

秋思詩篇独断腸

Ân tứ ngự y kim thử tại,

恩賜御衣今此在

Phụng tŕ mổi nhật bái dư hương.

捧持毎日拝余香

(Mồng mười tháng chín)

(Năm ngoái đêm này chầu Thanh Lương. Nay ngâm Thu Tứ khúc riêng buồn. Áo ngự ngài ban thần vẫn giữ. Mỗi ngày ấp ủ chút dư hương).

Trong thời gian xuống phủ Dazai, chỉ có các con nhỏ là được phép  theo bố. Ông đã viết bài thơ sau đây đăng trong Quản gia hậu tập (Kanke kôshuu, (903), thi tập gồm 46 bài thơ của giai đoạn lưu đày mà ông đã gửi gắm cho người bạn tâm giao ở kinh đô là Ki no Haseo (845-912). Bài này nói lên nỗi niềm thương nhớ người vợ và lũ con còn ở kinh đô: Ông có nhiều con, không được biết chính xác như khoảng chừng 11 người con trai và 3 con gái:

Độc gia thư 読家書

Tiêu tức tịch liêu tam nguyệt dư,

消息寂寥三月余

Tiện phong xuy trước nhất phong thư.

便風吹著一封書

Tây môn thụ bị nhân di khứ,

西門樹被人移去

Bắc địa viên giao khách ký cư.

北地園教客寄居

Chỉ lý sinh khương xưng dược chủng,

紙裏生姜称藥種

Trúc lung côn bố ký trai trừ.

竹籠昆布記斎儲

Bất ngôn thê tử cơ hàn khổ,

不言妻子飢寒苦

Vi thị hoàn sầu áo não dư.

為是還愁懊悩余

(Đọc thơ nhà)

(Ba tháng buồn không tin tức nhà. Nay thư theo gió đến từ xa. Cổng Tây người đẵn cây đi mất. Vườn Bắc làm nơi ngụ khách xa. Giấy gói củ gừng đề vị thuốc. Lồng tre rong biển ấy là quà. Vợ con chẳng báo họ đói lạnh. Làm khách càng thêm nẫu ruột ra).

Đền thờ Michzane ở Fukuoka (Dazaifu)

Tâm sự của kẻ bị phóng trục có thể c̣n thấy trong bài Văn Nhạn (Nghe nhạn kêu) và Vấn Thu Nguyệt (Hỏi trăng thu) cũng làm trong những năm cuối cùng của cuộc đời, cũng đăng ở Quản gia hậu tập:

Văn Nhạn 聞鴈

Ngă vi thiên khách nhữ lai tân,

我為遷客汝来賓

Cộng thị tiêu tiêu lữ phiêu thân.

共是蕭蕭旅漂身

Khi chẩm tư lường qui khứ nhật,

敧枕思量帰去日

Ngă tri hà tuế nhữ minh xuân.

我知何歳汝明春

Nghe nhạn kêu

(Ta bị đuổi, còn ngươi, lữ khách. Cùng chung số phận, kiếp long đong. Nằm tính cái ngày về chốn cũ. Ngươi chờ xuân tới, ta thời không)

Nỗi đau đớn của một người ngay thẳng bị hãm hại cũng giống như vầng trăng thu mà mây che khuất đã được diễn tả trong hai bài thơ vấn đáp dưới đây:

Vấn thu nguyệt 問秋月

Độ xuân độ hạ chỉ kim thu,

度春度夏只今秋

Như kính như hoàn bản thị câu.

如鏡如環本是秋

Vi vấn vị tằng thất chung thủy,

為問未曽失終始

Bị phù vân yểm hướng Tây lưu.

被浮雲掩向西流

(Hỏi trăng thu)

(Hết xuân hết hạ đến mùa thu. Giống kính, vòng nhưng vốn lưỡi câu. Thử hỏi bởi chưng thiếu chung thủy, Nên chi mây ám bắt phiêu lưu).

Đại nguyệt đáp 代月答

Minh phát quế hương bán thả viên,

蓂發桂香半且円

Tam thiên thế giới nhất chu thiên.

三千世界一周天

Thiên hồi huyền giám vân tương tễ,

天廻玄鑑雲將霽

Duy thị Tây hành bất tả thiên.

唯是西行不左遷

(Đáp thay trăng)

(Khuyết tròn, minh, quế vẫn thơm hương. Ba nghìn thế giới, một đài gương. Kính trời treo đó, khi mây vén. Vẫn nhắm phương Tây chẳng đổi đường)

Năm 902, ở phủ Dazai, ông c̣n viết 2 bài thất ngôn tuyệt cú cùng chung đề tài:

Đăng diệt nhị tuyệt (Ánh đèn tắt, hai bài) 燈滅二絶

Bài 1:

Chỉ cao tiên tận bất nhân phong,

脂膏先盡不因風

Thù hận quang vô nhất dạ thông.

殊恨光無一夜通

Nan đắc hôi tâm kiêm hối tích,

難得灰心兼晦跡

Hàn song khởi tựu nguyệt minh trung.

寒窓起就月明中

(Đèn hao bấc lụn, nào v́ gió. Hận nỗi soi chưa trọn một đêm. Không để  ḷng ḿnh tro lạnh măi. Ra ngoài song cửa ngắm trăng lên).

Bài 2:

Thu thiên vị tuyết địa vô huỳnh,

秋天未雪地無蛍

Đăng diệt phao thư lệ ám linh.

燈滅抛書涙暗零

Thiên khách bi sầu âm dạ bội,

遷客悲愁陰夜倍

Minh minh lư dục tố minh minh.

冥冥理欲訴冥冥

(Đêm thu không đóm, cũng không tuyết. Đèn tắt, đành quăng sách, lệ rơi. Đất trích tối tăm, buồn gấp bội. Hỏi trời, ông có thấu cho tôi!)

Qua năm sau (903), ḷng đă ṃn mơi trông ngóng ngày hồi kinh, ông viết bài nói về cảnh hoa mơ (tảo mai) nở trắng trời chẳng khác ǵ tuyết mùa xuân nơi đất trích. Ông đă tự ví hoàn cảnh ở chốn lưu ly của ḿnh với điển tích về Sứ thần Tô Vũ (nhạn tín) và Thái tử Yên Đan (ô đầu):

Trích Cư Xuân Tuyết 謫居春雪

Doanh thành dật quách kỷ mai hoa,

盈城溢郭幾梅花

Do thị phong quang tảo tuế hoa.

猶是風光早歳華

Nhạn túc niêm tương nghi hệ bạch,

鴈足黏將疑繋白

Ô đầu điểm trước tứ qui gia.

烏頭點著思帰家

Tuyết mùa xuân nơi đất trích

(Đầy thành chật đất một màu hoa. Có lẽ đẹp trời chóng nở ra.

Chân nhạn dính lên như buộc lụa. Trắng tô đầu quạ, nhớ quê nhà.)

Chẳng bao lâu, trong niềm thương nhớ kinh đô ấy, Michizane đă qua đời ở phủ Dazai. Người ta kể rằng ḷng oán hận của ông thâm sâu đến nỗi hồn ma linh hiển thường hiện về gieo tai ách và triều đ́nh Kyôto phải t́m cách hóa giải bằng cách lập miếu mạo phụng thờ.

Hoa mơ (tảo mai) trước đền Michizane 

Đặc điểm Hán thi Michizane

Thơ chữ Hán của Michizane có một bộ phận nối tiếp ḍng thơ cung đ́nh đă có từ thời Thiên hoàng Tenmu (hậu bán thế kỷ thứ 7) và đạt đến đỉnh cao với Thiên hoàng Saga (sơ đầu thế kỷ thứ 9). Ứng chế, quân thần xướng họa, thơ tiếp sứ và tống sứ trong lănh vực ngoại giao... là những bộ phận trong công việc của thi nhân cung đình. Các quan còn làm thêm một số thơ cá nhân có tính thuật hoài hay khẩu khí (để bày tỏ hoài bão thờ vua giúp nước). Tuy nhiên, ngoài hai bộ phận ấy mà mình có dự phần, Michizane , người của hậu bán thế kỷ thứ 9, c̣n chứng minh rằng ông là một nhà thơ vừa tài hoa, thoát sáo, năng động, có cá tính, vừa nặng tinh thần gia đình và xă hội. Đặc biệt điều đó được thể hiện qua những tác phẩm làm ra khi về trấn nhậm ở vùng Sanuki trên đảo Shikoku, nơi ông có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với người dân địa phương và thông cảm với nỗi khốn khổ của họ. 

Cùng lúc, có thể ông đã chịu ảnh hưởng ḍng thơ xă hội thời Trung Đường với Bạch Cư Dị cũng như một nhà thơ Nhật Bản đời Vạn Diệp vốn rất gắn bó với tầng lớp thường dân, Yamanoue no Okura 山上憶良 (660-733?).

Chữ dùng của Michizane không cầu kỳ, điêu sức, nhất là trong những bài thơ nói về gia đình, gửi cho con, khóc con hay mừng học trò thi đỗ. Nó tỏ ra gần gũi, thân mật và thực tế. Khi tả lại những bức tranh xã hội, lời thơ ông lại toát ra được cái ấm áp của một tấm lòng chân thành và chu đáo. Tuy chữ nghĩa có thừa nhưng ông chú trọng đến ý tưởng nhiều hơn là phô trương văn vẻ.

Chúng ta còn nhận ra một điều nữa là Sugawara no Michizane dẫu có thời làm quan cực phẩm nhưng cuộc sống rất đạm bạc. Bài Độc gia thư bên trên đã đưa ra nhiều ví dụ: nhà cũ đã phải chia cho người khác vào ở, cây trong vườn bị thiên hạ đốn đem đi, người vợ già gửi cho chồng ở chốn xa xôi gừng sống để làm vị thuốc giữ sức khỏe và rong konbu, món ăn cho bữa cơm thanh đạm.

Bài Tuế nhật cảm hoài 歳日感懐chép trong Quản gia hậu tập cũng có câu:

Trai bàn thanh diệp thái.

斎盤青葉菜

Hương án bạch mai hoa.

香案白梅花

Ông đã tả cảnh tết nhất dưới Dazaifu với rau xanh trên mâm cơm và ít hoa mơ trước hương án. Một ông quan sống giản dị như vậy có thể được xem là mẫu mực của người trí thức. Ông không có ham muốn đặc biệt nào ngoài tình yêu hoa cỏ, thiên nhiên mà ông đã bày tỏ nhiều lần qua thơ. Nỗi ưu tư duy nhất có lẽ là không được thực thi hoài bão chính trị khi bị quí tộc Fujiwara làm cuộc đảo chánh cung đình và đuổi đi xa.

Nói tóm lại, kể từ thời Michizane, một nhà thơ tài năng với nhân cách cao thượng, Hán thi Nhật Bản thời trung đại chẳng những đã tiến một bước dài mà còn mở thêm một cánh cửa mới vậy.                        

  

Cập nhật 20/3/2018

 

Thư mục tham khảo:

1)      Gôtô Akio, Kanshi wo yomu (Asuka-Heian) (Thơ chữ Hán, giai đoạn từ triều Asuka đến triều Heian), NHK Text, NHK xuất bản, Tokyo, 2011.

2)      Kojima Noriyuki, Ôchô Kanshisen (Thi tuyển Hán thi thời vương triều),Iwanami Bunko, Iwanami xuất bản, Tokyo, 1987.

3)      Tranh ảnh và bài vở trên Internet.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com