|
Thiền và Sân khấu Nô
(nhân bàn về vở tuồng
Yamamba)
Nguyên tác: Suzuki Daisetsu
Dịch chú: Nguyễn Nam Trân

Văn hóa Yamamba của giới trẻ đường phố
Dẫn nhập:
Bài viết là một bộ phận độc lập của Chương cuối nhan đề “Thiền và
minh họa Thiền” trong tác phẩm “Zen and Japanese Culture” (Thiền và
văn hóa Nhật Bản), bản năm 1958, trước tác của Suzuki T. Daisetsu.
Đề do dịch giả mạn phép đặt tạm.
***
Khi nghiên cứu tuồng Nô, thực sự là ta đã nghiên cứu văn hóa Nhật
Bản nói chung bởi vì Nô bao gồm cả lý tưởng đạo đức, lòng tin tôn
giáo và cảm hứng nghệ thuật của người dân. Thưở xưa tuồng Nô chủ yếu
được giai cấp samurai bảo trợ cho nên không ít thời nhiều nó đã được
xem là linh thiêng, đượm một màu huyền bí trang nghiêm. Vở tuồng
dưới đây – tuy được chọn từ trong số hai trăm vở được biết đến nhiều
nhất – nhưng mang cho chúng ta một sự thú vị đặc biệt.
Yamamba (còn có thể đọc là Yama-uba (Sơn Mụ,
山姥,
Bà Chằng) là một trong những vở tuồng chứa đựng tư duy sâu sắc của
Phật giáo, nhất là tư tưởng Thiền tông. Hình như nó đã viết bởi một
tu sĩ Phật giáo với ý định truyền bá giáo lý nhà Thiền. Tuồng này
thường bị hiểu lầm nên phần nhiều những người yêu Nô không nắm được
ý chính trong đó. Yamamba, nếu dịch từng chữ một thì có nghĩa là “bà
lão sống trong núi”. Người đàn bà này tượng trưng cho nguyên lý của
tình yêu, nó thường chuyển động một cách thầm kín trong lòng mỗi
chúng ta. Thường thường, chúng ta không hiểu về tình yêu và đem sử
dụng một cách sai lầm. Hầu hết chúng ta đều xem nó như một vật đẹp
đẽ để nhìn ngắm, một cái gì trẻ trung, tế nhị và hấp dẫn. Thế nhưng
trên thực tế thì nó không phải vậy. Không ai nhận ra sự có mặt của
tình yêu nhưng nó là cái vẫn làm việc và nhiều khi mạnh bạo. Chúng
ta chỉ nhìn thấy tình yêu một cách hời hợt qua kết quả của những
động thái hiện ra bên ngoài rồi nghĩ rằng nó đẹp nhưng sự bộc lộ
tình yêu nào mà lại không đẹp? Tuy nhiên, bản chất của tình yêu
giống như một bà lão nhà nông khổ cực, thân hình xác xơ tiều tụy. Bà
phải lo lắng nhiều về khuôn mặt nhăn nheo và mái tóc bạc của mình.
Bà có nhiều vấn đề khúc mắc cần phải giải quyết. Cuộc đời của bà là
một chuỗi khổ đau nhưng dù chịu đựng, bà vẫn gượng vui. Bà đi cùng
trời cuối đất, không hề nghỉ ngơi, không dừng chân ở đâu một khoảnh
khắc. Tình yêu trong giai đoạn này, nếu đem so sánh với những công
việc lao khổ bà đã cáng đáng không hề mỏi mệt ấy, đã được tượng
trưng một cách thích hợp bằng hình ảnh Yamamba, bà lão sống trong
núi.
Câu chuyện về Yamamba đã được truyền tụng trong dân chúng Nhật Bản
từ lâu lắm rồi. Thực ra bà không phải là một người xấu dị dạng và
thường được mô tả như một bà già và bà có một tấm lòng nhân ái, đến
mỗi làng nào, khi ra đi đều được chúc phước. Bà coi như đã đi hết
vùng này đến vùng nọ là để lo lắng cho đám nông dân và sơn nhân.
Soạn giả vở tuồng Yamamba đã đem cách nhìn này vào trong tác phẩm,
xem bà như một nguồn năng lực (tác nhân) vô danh và vô hình tàng ẩn
đằng sau con người và thiên nhiên. Chúng ta thường nói đến một nguồn
năng lực như thế trong các tác phẩm triết lý, thần học hay văn
chương nhưng chúng ta chỉ nói để mà nói và có thái độ ngại ngùng khi
đối diện với hành động thực tiễn. Chúng ta giống như một nhà họa sĩ
muốn vẽ rồng nhưng lại lăn ra bất tỉnh vì kinh hãi cùng cực khi thấy
con rồng thật hiện ra để giúp mình vẽ cho được con vật huyền bí đó
một cách trung thành và hiện thực hơn. Chúng ta diễn tuồng Yamamba
nhưng đến khi bà ta lộ nguyên hình cho chúng ta thấy được cuộc sống
nội tâm của bà thì chúng ta thất sắc và không biết phải làm gì. Vì
vậy, nếu chúng ta muốn đào sâu vào cõi vô thức của chúng ta đúng như
lời Thiền đã dạy, chúng ta không được tránh né mà phải nắm lấy thực
tại bằng chính đôi tay của mình.
Với những nhận xét sơ khởi như trên, vở tuồng Yamamba, mà cho đến
nay, chủ tâm của người viết đã bị các nhà văn ngoại quốc cũng như
Nhật Bản đánh giá một cách cực kỳ sai lệch, sẽ được hiểu một cách dễ
dàng hơn. Văn chương tuồng Nô thường khó dịch, có lẽ là không thể
dịch nữa là khác nên tôi không có tham vọng làm chuyện bất khả đó.
Dưới đây chỉ là những nét rất đại cương về vở tuồng, sau khi lược bỏ
những từ hoa có tính văn chương vốn đã trang trí cho nó một cách
lộng lẫy.
Ở chốn kinh đô, có một con múa tên là Hyakuma Yamamba (Bách Vạn Sơn
Mụ) (1) bởi vì nàng múa hát khúc Yamamba hết sức hay, đến nỗi
được thiên hạ trao tặng danh hiệu đó. Nàng từng nuôi ý định đến
viếng chùa Zenkôji (Thiện Quang Tự) trong xứ Shinano nên mới dắt
theo kẻ tùy tùng làm một chuyến hành trình dài và gian khổ trong
vùng núi non thuộc miền Bắc nước Nhật. Vở tuồng kể lại chuyến đi với
một văn thể bay bướm như truyền thống của văn chương đương thời.
Cuối cùng, hai thày trò cô gái đã đến được con sông ranh giới chia
đôi hai xứ Etchuu và Echigo.
Tùy tùng:
Nay chúng đã đến ranh giới của hai xứ Etchuu và Echigo. Hãy dừng
chân nghỉ ngơi và hỏi thăm về con đường trước mặt, nghe cô.
Ca nữ:
Ta vẫn thường nghe nói là Tây Phương Tịnh Độ nằm ở phía bên kia hàng
trăm ngàn Phật quốc, nhưng nay chúng ta đang ở trên còn đường đi
thẳng tới chùa thờ Đức A Di Đà tức là người cuối cùng sẽ đến rước
chúng ta khi chúng ta lâm chung. Vậy thì hãy bỏ xe cộ lại đây và
ráng đi bộ, vượt qua ngọn đèo Agero để có thêm công quả vì chúng ta
đang làm một cuộc hành trình khổ hạnh.
Tùy tùng:
Lạ chưa này! Đã chiều đâu mà sao trời tối mất rồi. Chúng ta phải làm
sao đây cô?
Lúc cả hai đang lo lắng thì có một người đàn bà hiện ra và nói với
họ: “Hỡi lữ khách, cho ta mời các người đến trọ bởi vì đây là ngọn
đèo Agero heo hút, rất xa nơi có nhà dân. Hơn nữa chiều sẽ xuống
nhanh. Hãy qua đêm trong túp lều dột nát của ta”.
Đoàn người mừng rỡ chấp nhận lời mời. Khi họ đã yên nơi yên chỗ,
người đàn bà kia mới đề nghị thêm một chuyện khác là xin ca nữ hát
cho bà nghe điệu Yamamba. Đây là điều mà thiết tha mong mỏi từ lâu
và chính vì mục đích đó mà bà đã làm cho trời tối thật nhanh để nơi
ẩn cư của bà có thể cầm chân viễn khách. Đoàn người rất đỗi ngạc
nhiên, không hiểu vì sao gia chủ lại có thể biết một cách chính xác
danh tính của họ như vậy.
Người đàn bà:
Lữ khách ơi, các vị không cần gì phải dấu diếm tên họ. Người đang
ngồi trước mặt ta đây không ai khác hơn là Hyakuma Yamamba danh
tiếng dậy nức kinh đô. Tiếng hát bài Yamamba của nàng đã vượt qua
bao nhiêu là ngọn núi. Xin cho phép ta được nghe điệu nhạc tuyệt vời
ấy. Tuy hát bài Yamamba nhưng chắc nàng không biết số phận của người
ấy bây giờ ra sao. Chắc nàng nghĩ đó là một con ác quỷ đang ngụ ở
đâu đó. Thực ra Yamamba chỉ có nghĩa là một bà già sống trong núi và
không ai khác hơn là chính lão đây. Nếu nàng nhiều phen hát về người
đàn bà đó và có lòng ưu ái với một con người như vậy, tại sao không
thử một lần tụng kinh niệm Phật giúp bà ta giác ngộ và siêu sinh?
Xin nàng hãy cúng dường tiếng ca điệu múa của mình cho Đức Phật là
đấng ban vạn phúc lành. Sở dĩ ta muốn gặp nàng là vì cớ đó.
Ca nữ:
Ôi, quá tuyệt vời. Bà chính là Yamamba đấy à?
Người đàn bà:
Mục đích duy nhất của ta khi hiện hình ra đây sau khi vượt qua bao
nhiêu núi non là được nghe bằng chính tai mình về những đức tính hay
cái đẹp liên quan tới ta. Hãy cho ta nghe đi, hỡi người bạn nghệ sĩ
yêu quí, khúc hát về Yamamba.
Lúc đó, người ca nữ bèn đồng ý làm vui lòng gia chủ và khi nàng bắt
đầu cất tiếng ca và múa lên thì người dàn bà cho biết mình sẽ hiện
nguyên hình và cùng hát theo nàng suốt đêm. Sau đó thì bà biến mất.
( SD: Cho phép thuật giả được ghi chú ở đây là chúng ta, đặc biệt là
triết gia hay giới trí thức, thường bày trò với quan niệm chứ không
phải với thực tại. Đến khi thực tại xuất đầu lộ diện, chúng ta mới
sợ hãi và quýnh quáng đem chúng lồng vào những khuôn mẩu có sẵn của
khái niệm. Điều này chỉ đúng đến một chừng mực nào thôi bởi vì, là
những kẻ ngoan cố bám theo cách suy luận bằng khái niệm, nên hiện
tại có rên la kêu khóc gì chúng ta cũng để mặc. Tuy nhiên phải nhận
thấy rằng có một “cái gì đó” (something) không chịu khép mình vào
một phạm trù nào cả, dù là lý tưởng chủ nghĩa hay hiện thực chủ
nghĩa. “Cái gì đó” lại là điều mà chúng ta phải đối đầu để có thể
tìm đến nền tảng cơ bản nhất của cuộc đời chúng ta).
Giữa hai màn kịch (Nakairi)
Giữa khi ca nữ và người tùy tùng của cô bắt đầu chuẩn bị để trình
diễn thể theo lời yêu cầu tha thiết của Yamamba (Sơn Mụ, Bà Chằng),
họ được nghe lời độc thoại của bà đại ý như sau:
Lũng sâu biết là bao! Vực thẳm như không đáy! Nơi đây ta nhìn thấy
người người đang đau khổ vì nghiệp chướng của họ trong quá khứ, nơi
đây ta nhìn thấy người người hân hoan hưởng thiện duyên làm ra từ
tiền kiếp. Thiện với ác dù sao cũng chỉ là tương đối vì chúng đến từ
cùng một căn nguyên. Có gì đáng để họ phải buồn khổ hay vui sướng?
Hãy nhìn sâu vào trong vầng ánh sáng của trí tuệ bát nhã
(transcendental widsom) để có thể thấy rằng trước mặt chúng ta, thế
giới của mọi sự phân biệt đang bày ra, không gì có thể dấu diếm. Kìa
những dòng sông uốn khúc trong thung lũng, kìa những ghềnh đá đang
chống chọi với sóng gió trên biển lớn. Ai đã tạc ra những mỏm đá cao
đen thẫm nguy nga kia? Ai đã đem nhuộm màu xanh ngọc bích cho làn
nước dưới ánh sáng lấp lánh của mặt trời?
Thế rồi Yamamba đi từ khu rừng dày dưới bóng núi đến hiện nguyên
hình trước mặt hai thày trò làm cho cả hai hoảng sợ. Tiếng của bà ta
là tiếng người trần nhưng tóc tai thì bạc trắng, hai cặp mắt chiếu
rờ rỡ như hai ngôi sao, khuôn mặt đỏ bầm, trông chẳng khác nào viên
ngói tạc mặt quỷ dùng để lợp đền. Tuy nhiên bà bảo hai người chớ nên
lo âu vì bề ngoài của mình. Sở dĩ bà phải hiện hình ra để cho hai
người biết những hoạt động bà làm mà không ai biết, giống như những
điều trong cuộc sống ta chỉ thấy hời hợt bề ngoài . Bà cũng muốn
giúp cho họ cảm nhận sức mạnh tinh thần của mình khi được biểu tượng
hóa sẽ có kết quả như thế nào. Thế rồi tiếp đến là phần trình diễn
một khúc giáo đầu của bài Yamamba do chính bà và người ca nữ đến từ
kinh đô. Thực ra, không ai có thể phân biệt đâu là giọng của bà đang
hát về mình và giọng của người ca nữ hát về bà. Hai lời ca như quyện
vào nhau làm một. Trước con mắt của thế nhân đang xem tấn tuồng đời
(world drama) diễn ra mỗi ngày, những kẻ đóng trò Yamamba như vẫn
còn cho chúng ta nghe tiếng hát như thế.
Bài hát bắt đầu với đôi lời gợi ý về cuộc gặp gỡ hiếm có này giữa
nàng ca nữ và Yamamba, nghĩa là giữa tưởng tượng và thực tại, giữa
tuồng kịch và tuồng đời:
“Thi nhân có bao lời hay ý đẹp khi nói về một buổi tối mùa xuân hoa
cỏ đưa hương và trăng tròn vằng vặc. Họ bảo rằng một khoảnh khắc như
vậy đáng giá nghìn vàng (xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim). Thế
nhưng cuộc tao ngộ giữa Hyakuma Yamamba và con người thật của
Yamamba còn nhiều giá trị hơn thế nữa. Chúng ta hãy cùng hát với
nhau về dịp may hãn hữu này như thể ngôn từ của chúng ta đủ sức chứa
đựng hết ý nghĩa của nó.
“Chúng ta hãy cất tiếng hát như chim vỗ cánh, chúng ta hãy đập
trống như thác đổ, chúng ta hãy nâng tay áo múa như những đóa hoa
hay hạt tuyết phấp phới trước làn gió nhẹ. Mỗi âm thanh, mỗi động
tác đều phát xuất từ Đạo pháp. Ngay cả chuyện Yamamba phải lang
thang từ núi này qua núi nọ với biết bao nhiêu gian lao khổ nhọc vốn
cũng đã bắt nguồn từ Đạo Pháp”
Sau đó là đến đoạn miêu tả ngôi nhà của Yamamba, tượng trưng bằng
núi non và biển cả:
“Nguyên lai núi non chỉ do cát bụi tụ lại mà thành, thế nhưng khi nó
chất mãi lên đến độ cao hàng nghìn thước, đỉnh núi sẽ khuất trong
mây. Biển cả có gì hơn là nơi tụ hội những hạt sương rơi trên rêu
nhưng nếu cứ xảy ra như thế suốt thiên niên vạn kỷ, nó sẽ biến thành
một vùng nước rộng vô bờ bến với những lớp sóng cồn. Khi chúng vỗ
vào ghềnh đá, cả truông lũng đều nghe như sấm động; hang hốc chất
chứa tiếng vang rồi vọng mãi về chốn xa vời.
“Chốn này là chỗ nương náu của ta, nơi có những đỉnh cao bao vây và
nhìn xuống vực sâu thăm thẳm, trong khi đó xa xa là một dải nước
mênh mông uốn khúc về phía bên kia dãy núi trùng điệp. Khi ánh trăng
của Chân Như (Suchness, Tathatâ) mọc lên ở chân trời, cái bóng của
nó sẽ chiếu lên trên lớp sóng muôn đời giờ đây đang lấp lánh ánh
bạc. Khi một làn gió nhẹ thoảng đến từ phía khu rừng đằng sau ngôi
nhà ta ở, tiếng reo đủ mạnh để đánh thức những linh hồn còn say
trong giấc mộng thường trụ của vô minh (thường lạc). Giữa phong cảnh
như thế, với ánh trăng thanh chiếu trước mặt và tiếng gió thì thào
trên những hàng cây sau nhà, ta thấy mình như đang ngồi một mình ở
giữa một pháp đình thời xưa, tai không nghe một tiếng tranh tụng,
mắt không thấy bóng ai tra khảo tội nhân.
Khi ngồi một mình ở một nơi xa thẳm không vướng víu vào cõi thế tục,
ta thường lắng nghe xem có tiếng chim kêu đâu đó hay nhát búa một
tiều phu đơn độc và ý thức được sự tĩnh lặng tuyệt đối đang bao
quanh mình. Khi ta ngước mắt nhìn lên đỉnh cao nhất của sự Giác ngộ,
ta suy nghĩ về việc con người chúng ta là những kẻ mãi mãi đi tìm
chân lý tối thượng; khi ta cúi xuống nhìn vực thẳm kinh hoàng bên
dưới, trong đầu ta hiện ra hình ảnh cái hố sâu của sự Ngu muội (Vô
minh, avidyâ) nơi mọi người đang chìm đắm và nhận ra rằng cái Nghiệp
(2) của ta không biết bao giờ mới chấm dứt”.
“Người có thể hỏi thế thì ta đến từ đâu nhưng thực ra, ta không đến
từ nơi nào cả. Ta cũng không có chỗ định cư (thường trụ). Ta đi theo
làn mây tử núi này sang núi nọ, in dấu chân mình ở những nơi cuối
đất cùng trời. Ta không thuộc về thế giới người trần nhưng sống với
thân xác chuyển hóa (transformation-bodies, nirmânakâya) (3)
của ta. Nay hiện ra đây với hình ảnh của một “mụ già trong núi” là
thể theo ý nghiệp (will-karma) của mình. Khi nhìn theo quan điểm
đồng nhất tuyệt đối (absolute identity) thì thiện và ác chỉ là hai
hình thái của tương đối. “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”
(Ruupan eva Suunyatâ, Suunyatâ eva Ruupam).Giáo lý thiêng liêng của
Đức Phật đã hòa lẫn vào mọi vật trên đời. Phải đi tìm sự giác ngộ
(Bodhi = Bồ đề) giữa lòng dục vọng và đam mê (Bonnô = Phiền não). Ở
đâu có vạn vật là Phật tìm đến, nơi vạn vật tồn tại Yamamba sẽ xuất
hiện. Chòm liễu tươi xanh và những đóa hoa sắc màu rực rỡ đều đón
xuân về. Đó là cuộc đời hiện ra trước mắt và cũng là lẽ Đạo.
“Khi ta đang ở trong thế gian và sống với mọi người, nhiều khi ta
giúp đỡ dân làng khi họ lên núi kiếm củi. Nặng gánh trên vai, họ có
thể ngồi dưới bóng cây đơm hoa nghỉ ngơi đôi phút cho qua cơn nhọc
mệt và lúc đó, ta chia sẻ nỗi khổ bằng cách bước theo họ dưới ánh
trăng tiễn họ đến tận nhà, nơi họ sẽ có giấc ngủ bình yên sau một
ngày lao động. Đôi khi ta cũng tỏ ra có ích đối với những người dệt
vải dù họ không bao giờ hay biết chuyện đó. Khi họ đặt khung cửi bên
cửa sổ và bắt đầu bận rộn đưa thoi thì tiếng chim oanh bên ngoài sẽ
ríu rít hót hòa theo nhịp guồng cửi và bàn chân đạp. Công việc của
họ sẽ tự nó tiến hành một cách nhẹ nhàng như được dìu dắt bởi một
bàn tay vô hình. Khi sương giá bắt đầu thay đổi mặt đất vào tiết
trọng thu, những người nội trợ bèn nghĩ đến việc dệt những tấm vải
dày hơn cho một mùa đông lạnh lẽo sắp kéo đến nhanh. Từ mọi nhà sẽ
vang ra tiếng chày đập vải hay đập lụa dưới ánh trăng mờ. Họ nào hay
là có bàn tay của Yamamba đang nhịp theo từng động tác của họ.
“Khi trở về kinh đô, xin nàng hãy hát hộ ta về vai trò của Yamamba
trong những công việc kể trên. Dù vậy, khi còn mong ước những điều
này, ta thấy mình hãy còn nhiều vọng chấp. Cho dù nàng có bảo sao ta
cũng mặc vì con đường của ta là thế đó. Ta sẽ rong ruổi không ngừng
từ ngọn núi này sang núi nọ, cho dù công việc ấy có gian khổ đến
đâu.
“Ngay cả việc chia sẻ với nhau bóng râm một thân cây hay múc nước
uống từ cùng một dòng sông đều tùy thuộc vào cái Nghiệp (karma) của
mình trong tiền kiếp. Giữa hai ta thì nó còn nhiều hơn thế nữa.
Không phải tình cờ mà ngươi nổi tiếng vì hát về ta. Mọi âm thanh,
cho dù là tiếng hát về những chủ đề tầm thường và thiển cận, cuối
cùng đều đưa về việc tán dương công đức của Đức Phật. Thôi, chào
nàng, người ca nữ của kinh đô, vì giờ chia tay của chúng mình đã
điểm. Chúc nàng mạnh giỏi!”
Nói xong, Yamamba chia tay Hyakuma và người tùy tùng của nàng. Cũng
vào lúc ấy, bóng dáng bà lão biến mất khỏi tầm mắt của họ, không
biết về đâu. Tiếng hát bài Yamamba nhỏ lại rồi chìm dần vào trong
núi non.
”Thôi, xin chào, ta sẽ trở về với núi rừng nơi mỗi mùa xuân, cây
cành lại trĩu hoa. Ta sẽ rong ruổi hết núi này qua núi nọ. Vào mùa
thu, ta sẽ lang thang dưới ánh trăng tìm một nơi nào thật đắc địa để
có thể thưởng thức nó. Ta sẽ phiêu lưu trên con đường núi tuyết đã
trùm lên trắng xóa. Định mệnh của ta là di chuyển không ngừng. Chính
vì vọng chấp của ta đối với muôn loài mà cuối cùng ta đã mượn hình
tướng của Yamamba trong một lúc và trở thành chủ đề cho nghệ thuật
của nàng:
Hãy nhìn xem, bà có mặt ở đây trong phút chốc,
Nhưng giờ đây, đã bay ngang qua núi và mất hút..
Chỉ còn tiếng ca ngân vang trong thung lũng.
Bà sẽ lang thang hết núi này qua núi nọ,
Rồi vĩnh viễn đi vào miền vô thủy vô chung
(4).
Chú thích:
(1) Hyakuma được phiêm âm bằng nhiều chữ Hán khác nhau như Bách
Gian, Bác Ma hay Bách Vạn. Tuy nhiên để thống nhất xin dùng âm Nhật
Hyakuma
(2) Nghiệp: nguyên văn tiếng Anh của Daisetsu là task tức công việc,
nhiệm vụ hay sứ mệnh. Chúng tôi dịch là Nghiệp theo Kitagawa Momo.o
vì hiểu rằng công việc, nhiệm vụ hay sứ mệnh ấy đối với Yama-uba
cũng là cái Nghiệp của bà.
(3) Theo Phật giáo Đại thừa, Đức Phật được xem như có Tam thân
(Trikâya). Một là Dharmakâya (Pháp thân) tức là Đức Phật như ngài
là, trong trạng thái đồng nghĩa với Chân lý, Đạo pháp (Dharma). Hai
là Sambhogakâya (Hỷ thân), nếu dịch thẳng thì có nghĩa là “thân thể
thỏa nguyện”. Khi Đức Phật còn ở trình độ bồ tát, qua nhiều tiền
kiếp, ngài đã làm được những công việc đáng ca ngợi nên đã đạt đến
được một cuộc đời khác, tốt đẹp và thỏa nguyện hơn đời những kẻ còn
ở trong vòng sinh tử như chúng ta. Nó phù hợp với lẽ luân hồi
(karmic causation), theo đó việc lành hay dữ sẽ ảnh hưởng đến cái
Nghiệp của mình. Ba là Nirmânakâya (Chuyển thân). Nguyên lý của Phật
giáo gồm trong Prajna (Trí tuệ bát nhã) và Karuna (Lòng từ bi). Vì
lòng từ bi (Karuna) của ngài đối với chúng sinh, để cứu vớt họ, Đức
Phật có thể chuyển hóa nhiều cách, ngay cả mượn lốt súc vật hay ác
quỷ. Ở đây Yamamba có thể xem như là một vị Phật nấp đằng sau bề
ngoài xấu xí và hung ác.
(4) Cõi Bất Khả Hữu (Thế giới bên kia, Mukô).
Cập nhật ngày 3 tháng 9 năm 2019 (NNT) |