|
|
||
|
|
NAKANO
MIYOKO Nguyễn
biên
dịch
và chú thích Tây
du kư Quá
tŕnh xây dựng
nhân vật
Tôn Ngộ
Không tiểu thuyết Tây Du Kư dưới cái nh́n dân thoại học1 Lời
dẫn
nhập
của
người
biên dịch:
Tây
Du Kư
tiêu biểu
cho
tiểu
thuyết
chương
hồi
b́nh dân Trung Quốc,
có ảnh
hưởng
sâu sắc
đến
sinh hoạt
xă hội
các dân tộc
Á Châu. Không những
nó đă
có mặt
từ
lâu trong khu vực
văn
hóa chữ
Hán (Trung, Đài,
Hàn, Việt,
Nhật)
mà từ
cuối
thế
kỷ
19, qua các bản
tuồng
các gánh hát lưu
diễn
và văn
dịch,
Tây
Du Kư
( Do
đó,
ta không lạ
ǵ khi thấy
trong số
học
giả
Nhật
có người
như
Nakano Miyoko bỏ
gần
cả
cuộc
đời
để
nghiên cứu
Tây
Du Kư.
Bà Nakano sinh năm
1933 ở
Sapporo, miền
Bắc
nước
Nhật,
giáo sư
danh dự
Đai
Học
Hokkaidô và chuyên
môn về
văn
học
Trung Quốc.
Tác phẩm
chính có Tôn
Ngộ
Không chào đời
(1980),
Yêu quái Trung Quốc
(1983),
Bí mật
bên trong Tây Du Kư (1984),
Pháp sư
Tam Tạng,
Tôn Ngộ
Không có phải
là khỉ
không?…. Ngoài ra, bà đă
dịch
Tây
Du Kư
sang tiếng
Nhật. Bài
viết nầy
có mục
đích
tŕnh bày một
số
thông tin trích từ
hai tác phẩm
của
bà là
Ngày Tôn Ngộ
Không chào đời
(Son-Go-Ku
no tanjô, 292 trang, bản
năm
2002), và Bí
mật
bên trong Tây Du Kư
(Saiyuki no himitsu, 368 trang, bản
2003), đều
do Iwanami Shoten tái bản
với
khổ
bỏ
túi. Tựa
đề
và tiết
đều
do người
biên dịch
tạm
đặt.
V́ tính chất
đoạn
chương
thủ
nghĩa
không tránh khỏi
của
việc
trích dịch,
xin độc
giả
lượng
thứ
nếu
bài viết
không thể
hiện
đầy
đủ
tuần
tự
suy luận
của
tác giả
Nakano Miyoko. Bạn
đọc
hẳn
không c̣n
lạ
ǵ Tôn Ngộ
Không, nhân vật
chính của
Tây Du Kư ( Ba
nguồn
cội
văn
học
của
Tây Du
Tư
liệu
bên lề
ấy
là kịch
và thi thoại
(nhưng
xin hiểu
thi thoại
ở
đây
là truyện
kể
bằng
thơ
và bạch
thoại
chứ
không phải
giai thoại
về
thơ).
Kịch
bản
đời
Nguyên lấy
Dấu
vết
về
một
tiểu
thuyết
có tên là Tây
Du Kư
xuất
hiện
dưới
thời
Nguyên c̣n được
thấy
qua một
tư
liệu
Triều
Tiên thế
kỷ
15, Phác
Thông Sự
Ngạn
Giải,
cuốn
sách giáo khoa dạy
đàm
thoại
tiếng
Trung Quốc
có phiên âm theo Hàn ngữ
(ngạn
giải)
của
ông thông ngôn (thông sự)
họ
Pak (Phác). Ngoài ra trong Vĩnh
Lạc
Đại
Điển,
bộ
toàn thư
vĩ
đại
in năm
Vĩnh
Lạc
thứ
6 (1408) đời
Minh, quyển
13139 cũng
có dẫn
dụng
một
phần
nguyên văn
TDK, xét niên đại
th́ suy được
nó phải
là TDK của
đời
Nguyên. Trước
Nguyên, Tây
Du Kư
đă
xuất
hiện
dưới
h́nh thức
thô sơ
hơn
tự
đời
Tống.
Thời
ấy,
trong các đô
thị
lớn,
có những
Ngơa Tử
tức
là những
người
kể
truyện
bằng
thơ
vè và nói lối
cho dân chúng nghe và họ
cần
có bản
gốc
(để
bản)
dựa
vào đó
mà kể.
Hai trong những
bản
gốc
đó
đă
được
t́m thấy
ở
Nhật.
Đó
là Đai
Đường
Tam Tạng
Thủ
Kinh Thi Thoại
(c̣n khá đầy
đủ
) và Đại
Đường
Tam Tạng
Thủ
Kinh Kư,
in thời
Nam Tống
và có lẽ
do các tăng
Nhật
Bản
du học
bên đấy
mang về.
Bản
Trong
kịch
bản
Ngược
lại,
thi thoại
đời
Tống
cho nhân vật
chính là Hầu
Hành Giả
(tiền
thân Tôn Ngộ
Không) không vợ
con ǵ cả,
chứng
tỏ
giữa
thi thoại
Tống
và kịch
bản
Nguyên có thể
lại
không cùng một
hệ
thống.
Ngoài ra, theo bản
Về
cách Tôn Ngộ
Không bị
trừng
phạt
cũng
thế,
trong thi thoại
Tống
chỉ
nói họ
Tôn bị
Tây Vương
Mẫu
đánh
đ̣n
nhưng
không có sự
tích đá
đè
dưới
núi Ngũ
Hành như
các bản
từ
Nguyên về
sau. Mà chuyện
đè
Tôn Ngộ
Không dưới
đá
có bản
cho là do Ngọc
Đế,
bản
khác bảo
do Quan Âm,
Như
Lai, không thống
nhất.
Về
người
cứu
họ
Tôn ra khỏi
Ngũ
Hành Sơn
th́ các bản
đều
đồng
thanh là Tam Tạng,
trừ
thi thoại
bảo
Ngộ
Không dưới
dạng
một
Bạch
Y Tú Tài từ
phương
Đông
đă
đến
nhập
bọn
thầy
tṛ Đường
Tăng
và đổi
tên thành Hầu
Hành Giả,
cùng đi
thỉnh
kinh. Những
chi tiết
khác nhau nữa
là danh xưng
và quê quán của
Tôn Ngộ
Không. Chẳng
hạn
Tề
Thiên Đại
Thánh có phải
là tên Ngọc
Đế
phong hay Ngộ
Không tự
xưng.
Ngoài ra, theo Ai
viết
Tây Du Kư? Theo
ư kiến
chung ngày nay, bản
Nhiều
người
đă
dựa
vào một
là Hoài
An Phủ
Chí,
hai là vào lư do trong Chính
ra những
người
chủ
trương
thuyết
Ngô Thừa
Ân không phải
không có trong tay nhiều
«chứng
cứ»
khác. Để
bảo
vệ
luận
cứ
của
Hồ
Thích và Lỗ
Tấn,
học
giả
Trung Quốc
bắt
đầu
t́m hiểu
các tác phẩm
khác của
Ngô Thừa
Ân như
Xạ
Dương
Tập
(sau nầy
được
chỉnh
lư lại
dưới
cái tên Xạ
Dương
Tiên Sinh Tồn
Cảo)
và đă
có thể
biện
minh cho liên quan giữa
họ
Ngô và tiểu
thuyết
Tây
Du Kư
bằng
những
lư lẽ
như
sau: 1)
Trong Xạ
Dương
Tiên Sinh Tồn
Cảo,
quyển
1 có bài Nhị
Lang Sưu
Thần
Đồ
Ca B́nh Tự
(đề
tựa
bức
tranh vẽ
thần
Nhị
Lang đi
tuần
núi bắt
yêu quái) viết
theo lối
thất
ngôn cổ
thi. Nội
dung thơ
có nhắc
đến
việc
«thần
Nhị
Lang có chim ưng
và chó săn,
có thể
bắt
được
cả
khỉ
già» (câu 9 và 11). Nhị
Lang có thể
là Dương
Tiễn
(đă
có mặt
trong Phong
Thần
Diễn
Nghĩa),
từng
giao tranh kịch
liệt
với
Tề
Thiên Đại
Thánh trên thiên cung trong hồi
thứ
6 của
TDK chăng?
(mặc
dù có một
thần
Nhị
Lang khác
trong Nguyên khúc và Minh khúc tên Triệu
Dục,
gần
thời
đại
với
Ngô Thừa
Ân hơn). 2)
Cùng trong quyển
1 của
tồn
cảo
nầy
có bài Hải
Hạc
Bàn Đào
Biên (Bài thơ
về
bàn đào
hạc
biển)
viết
năm
kỷ
sửu
đời
Gia Tĩnh
(1529) có tả
cảnh
quả
tiên bàn đào
bên bờ
Dao Tŕ
ở
Côn Lôn, nhắc
đến
Đông
Phương
Sóc và Tây Vương
Mẫu.
Câu 7 c̣n viết:
(Cây đào
tiên) sinh hoa kết
trái 6 ngh́n năm. 3)
Quyển
3 trong tồn
cảo
lại
có bài Bát Tŕ Sơn
Khuyến
Duyên Kệ
(Bài kệ
khuyên người
nên đến
t́m đạo
ở
núi Bát Tŕ) bắt
đầu
với
hai câu «ta
nghe nói Nam Thiệm
Bộ
Châu có 72 phúc địa
mà một
trong số
đó
là núi Bát Tŕ». Ngoài việc
dùng chữ
Nam Thiệm
Bộ
Châu phản
ánh vũ
trụ
quan Ấn
Độ
và có thấy
ghi ở
đầu
Tây Du Kư, bài thơ
c̣n có những
câu nhắc
đến
sự
hỗn
hợp
hài ḥa giửa
Phật
Giáo và Đạo
Giáo,
ăn
khớp
với
tinh thần
TDK. Những
dẫn
chứng
trên có thể
làm nặng
cán cân về
thuyết
Ngô Thừa
Ân, nhưng
vẫn
chưa
thấy
một
chứng
cứ
quyết
định
nào để
nói rằng
ông là tác giả
của
tiểu
thuyết
Ba
bản
Tây Du Kư Riêng
nói về
bộ
môn tiểu
thuyết
thôi, ít nhất
có 3 bản
Tây Du: 1)
Đỉnh
Khiết
(Khắc)
Toàn Tướng
Tam Tạng
Tây Du (Thích Ni) Truyện
tục
gọi
Chu Đỉnh
Thần
bản
Tây Du Kư, Chu Đỉnh
Thần
biên soạn,
10 quyển,
san hành dưới
đời
Vạn
Lịch
(1573-1620). 2)
Tân Khắc
Xuất
Tượng
Quan Bản
Đại
Tự
Tây Du Kư
tục
gọi
Thế
Đức
Đường
bản
Tây Du
Kư, tác giả
thường
cho là do Ngô Thừa
Ân soạn
và phát hành năm
Vạn
Lịch
20 (1592). 3)
Tân Khiết
(Khắc)
Đường
Tam Tạng
Xuất
Thân Toàn Truyện
tục
gọi
Dương
Chí Ḥa bản
Tây Du Kư do Dương
Chí Ḥa biên, niên đại
biên soạn
và phát hành không rơ, được
liệt
vào một
trong Tứ
Du Kư. Bản
Thế
Đức
Đường
và bản
Dương
Chí Hoà có lẽ
đều
được
in ra trước
bản
Chu ĐỉnhThần,
nhưng
bản
của
họ
Dương
chỉ
là một
quyển
Tôn
Ngộ
Không là ai? Theo
các thi thoại
đời
Tống
nghĩa
là
văn
kiện
liên hệ
sớm
nhất
với
TDK, tiền
thân Tôn Ngô Không là con khỉ
tánh linh ở
động
Tử
Vân núi Hoa Quả,
tự
xưng
Bát Vạn
Tứ
Thiên Đồng
Đầu
Thiết
Ngạch
Mi (Di) Hầu
Vương,
năm
800 tuổi
ăn
trộm
ở
Tây Vương
Mẫu
Tŕ 10 quả
bàn đào,
bị
Tây Vương
Mẫu
sai đánh
3800
thiết
bổng.
Về
sau dưới
dạng
bạch
y tú tài gặp
đoàn
thỉnh
kinh của
Huyền
Trang và xin đi
theo. Huyền
Trang bèn đặt
tên cho là Hầu
Hành Giả. Bản
Trong
các kịch
bản
đời
Minh,
TNK quê ở
động
Tử
Vân La, hiệu
Thông Thiên (Đạo
Thiên) Đại
Thánh, xưng
là Tôn Hành Giả.
Có anh là Tề
Thiên
Đại
Thánh, em là Yêu Yêu Tam Lang, chị
là Lê Sơn
Lăo Mẫu.
Bắt
cóc được
nữ
vương
nước
Kim Đỉnh
đem
về
làm vợ.
Ăn
trộm
tiên y, tiên mạo,
tiên đào,
tiên tửu.
Đem
áo và nón tiên tặng
vợ,
mở
Khánh Tiên Y Hội.
Bị
Quan Âm và Lư Thiên Vương
bắt.
Quan Âm giam dưới
núi Hoa Quả.
Được
Huyền
Trang giải
cứu
trên đường
thỉnh
kinh. Tôn Ngộ
Không là pháp danh Quan Âm ban cho. Bản
Cái
tên Tôn Ngộ
Không
có nghĩa
thế
nào? Tôn là một
họ
thông thường
nhưng
có thể
khiến
ta liên tưởng
tới
khỉ
(Bản
Thảo
Cương
Mục
của
Lư Thời
Trân có nói đến
hai giống
khỉ
lông ngắn,
đuôi
ngắn
tên gọi
Hồ
Tôn8
và Vương
Tôn).
Theo thuyết
của
Ôta Tatsuo, chữ
Không trong Ngộ
Không lấy
từ
câu « Sắc
tức
thị
Không, Không tức
thị
Sắc »
của
Bát Nhă Tâm Kinh để
giới
răn
tính háo sắc
(dĩ
nhiên chữ
Sắc
trong kinh Bát Nhă có nghĩa
rộng
hơn
chữ
sắc
thông dụng
nhiều).
Thuyết
của
Isobe Akira
lại
cho biết
trên thực
tế
có vị
tăng
hiệu
là Ngộ
Không, người
đời
Huyền
Tông (sau đó)
đă
đi
lấy
kinh ở
Tây Phương,
cực
khổ
chẳng
khác Tôn Hành Giả
giúp Tam Tạng
lúc đi
thỉnh
kinh (đời
Cao Tông trước
đó),
nên tặng
mỹ
xưng
đó
cho hành giả
họ
Tôn chăng?
Vị
tăng
Ngộ
Không này có tên trong Tống
Cao Tăng
Truyện,
Đường
Thượng
Đô
Chương
Kính Tự,
Ngộ
Không Truyện.
Tục
danh của
ông là Xa Phụng
Triều,
ḍng dơi hoàng tộc
họ
Thác Bạt
nhà Bắc
Ngụy
(386-534). Ông theo Trương
Thao Quang đi
sứ
Ấn
Độ,
đến
nơi
năm
Thiên Bảo
thứ
12 (753) nhưng
lâm bệnh
phải
ở
lại,
xuất
gia bên đó,
hiệu
là Dharmadhâtu (tiếng
Hán là tăng
Pháp Giới).
Sau đó,
ông vân du khắp
nơi
ở
Ấn,
đem
kinh Phật
về
Khotan (Vu Điến)
và Kuchya (Qui Tư)
dịch
dần
ra Hán Văn
rồi
mang về
Trường
An năm
Trinh Nguyên
thứ
5 (789). Năm
sau, ông được
sắc
phong làm sư
thực
sự,
lấy
hiệu
là Ngộ
Không và tu ở
chùa Chương
Kính. Chúng ta nên lưu
ư một
điểm
là trong Tống
Cao Tăng
Truyện,
có đoạn
kể
về
tăng
Ngộ
Không khi đi
qua nước
Tohala (Đô
Quá La) bị
mưa
to gió lớn,
đă
cầu
được
Long Thần
cho mưa
tạnh
gió an. Ở
điểm
này, tăng
Ngộ
Không đă
có thể
thực
hiện
được
phép lạ
như
Tôn Ngộ
Không. * Dầu
muốn
nhượng
bộ
đến
đâu,
ta vẫn
thấy
không thể
một
cá nhân Ngô Thừa
Ân nào có thể
soạn
được
một
tác phẩm
súc tích như
Con
khỉ
trong dân thoại
(truyện
dân gian) và truyền
kỳ9
Trung Quốc Người
Trung
Quốc
phân biệt
vượn
(viên)10
và khỉ
(hầu).
Học
giả
đời
Minh, Lư Thời
Trân trong Bản
Thảo
Cương
Mục
cho rằng
vượn
ở
Trung Quốc
thường
thấy
ở
vùng núi sâu Tứ
Xuyên, Quảng
Đông,
to lớn
hơn
khỉ,
tay cực
dài, và sống
lâu. Như
định
nghĩa
nầy
th́ chắc
ông muốn
nói vượn
là loại
khỉ
tay dài (Hylobatidae, tay dài, đuôi
ngắn)
không những
thấy
ở
Tứ
Xuyên, Quảng
Đông,
Quảng
Tây, Vân Nam mà c̣n ở
vùng Đông
Nam Á (bán đảo
Đông
Dương,
bán đảo
Mă Lai, Sumatra, Java, Borneo). Về
khỉ
th́ Lư Thời
Trân cho biết
có nhiều
loại,
từ
nhỏ
đến
lớn,
thường
là nhỏ
con và người
ta dễ
gặp
hơn.
Khỉ
hay thấy
ở
Trung quốc
là khỉ
mặt
hồng
và khỉ
lông đỏ
(thuộc
họ
Cercopithecidae, tay ngắn,
đuôi
ngắn)
cũng
là giống
khỉ
thấy
ở
Đông
Nam Á (Việt
Nhà
Đông
Phương
Học
và ngoại
giao người
Ḥa Lan G. H. van Gulik11
cho rằng
hầu
(monkey)
là giống
khỉ
nhỏ
như
khỉ
đi
theo chủ
đóng
tṛ ngoài đường
phố,
lang thang hết
chỗ
này đến
chỗ
nọ,
trong
khi viên, «cao cấp
hơn »,
sống
trong rừng
sâu với
thi nhân và người
ở
ẩn.
Hầu
mới
đúng
là con khỉ
hiếu
kỳ,
nghịch
ngợm,
gian trá mưu
mẹo
như
người,
con khỉ
ăn
trộm
đào
và lẽo
đẽo
sau lưng
chủ
trên con đường
thỉnh
kinh dằng
dặc.
Nó mới
là nhân vật
chính của
Sách
vở
cho biết
ngày xưa
người
Trung Quốc
sống
gần
với
khỉ
vượn
và viên
có
vai tṛ quan trọng
hơn
hầu.
Đạo
sĩ
Cát Hồng
đời
Tấn
(thế
kỷ
thứ
4) viết: «Mi
(Di) hầu
sống
800
năm
th́ thành vượn»
(Bảo
Phác Tử).
Thái B́nh Ngự
Lăm
thời
Tống
cho biết: «Chu
Mục
Vương
nam chinh. Tướng
sĩ
hóa hết.
Quân tử
hoá thành vượn
hay hạc,
tiểu
nhân thành trùng. Hoài
Nam Tử
của
Lưu
An chép: «Sở
Vương
mất
con vượn,
sai phạt
cây để
t́m làm tan hoang
cả
rừng».
Con vượn
dài tay dần
dần
được
thần
bí hóa, nhiều
khi thần
tiên hóa nữa.
Sách Ngô
Việt
Xuân Thu
có kể
chuyện
ông lăo tên Viên Công thi kiếm
thuật
với
người
con gái nước
Việt,
bị
thua hóa thành vượn
trắng
leo lên cây. Sơn
Hải
Kinh
đời
Hán cũng
hai
lần
nhắc
đến
vượn
trắng
nhưng
phải
đợi
đến
đời
Đường
mới
thần
bí hóa nó và h́nh ảnh
vượn
trắng
trở
thành nhân tố
quan trọng
trong việc
xây dựng
h́nh tượng
nhân vật
TNK. Trong
khi con vượn
được
đưa
vào văn
học,
như
lúc ví von về
nỗi
buồn
thảm
thiết
người
ta hay dùng chữ
viên
đề,
viên minh, viên thanh...12.
th́ những
giống
như
tinh tinh (đười
ươi,
họ
Pongidae), phí phí (họ
Cercopithecoidea) được
tả
là có mặt
giống
mặt
người,
biết
bắt
chước
tiếng
người,
lại
ít khi được
văn
gia để
ư. Có chăng
là những
chuyện
tinh tinh cái, chính là dă bà, dă nữ,
v́ không có đực
nên bắt
cóc đàn
ông về
làm chồng13
(Chu Mật,
Tề
Đông
Dă Thoại)
c̣n phí phí hay xơa tóc, chạy
rất
nhanh, gặp
người
th́ cười
và bắt
ăn
thịt
(Sơn
Hải
Kinh,
Quách Phác chú). Cho dầu
những
chuyện
trên chỉ
là hoang đường,
nhưng
nó chứng
tỏ
sức
tưởng
tượng
phong phú của
dân gian, quan trọng
đối
với
quá tŕnh hư
cấu
nhân vật
tiểu
thuyết. Mô
típ dân thoại
về
khỉ
vượn Hí
khúc Tây Du Kư có nói đến
chuyện
TNK bắt
cóc
nữ
vương
nước
Kim Đỉnh
về
làm vợ.
Mô-típ
vượn
đực
bắt
cóc vợ
người
cũng
đầy
dẫy
trong văn
học
dân gian Trung Quốc. Dịch
Lâm
của
Tiêu Diên Thọ
đời
Hán đă
kể
có người
bị
một
con vượn
lớn
cướp
người
thiếp
yêu nhưng
sợ
không dám đuổi
theo, từ
đó
đành
ngủ
một
ḿnh. Sưu
Thần
Kư
do Can Bảo
đời
Tấn
cũng
viết
chuyện
«trong đất
Thục,
có giống
vượn
bắt
cóc người
làm vợ,
sinh con. Đàn
bà về
ở
với
chúng dần
dà đâm
ra u mê cả.
Sinh con toàn lấy
họ
Dương»14.
Truyện
giống
y như
thế
cũng
được
ghi lại
trong Bác
Vật
Chí
của
Trương
Hoa và Dậu
Dương
Tạp
Trở
của
Đoàn
Thành Thức.
Nổi
tiếng
hơn
cả
có lẽ
là Bổ
Giang Tổng
Bạch
Viên Truyện,
kể
về
chuyện
tướng
Âu Dương
Hột
đi
cứu
người
vợ
đẹp
bị
con vượn
trắng
có sức
mạnh
vô song bắt
đem
về
núi. Truyện
nầy
bổ
túc Bạch
Viên Truyện
của
Giang Tổng
đời
Trần15. Sự
linh thiêng
của
loài vượn
đă
thành đề
tài của
thi phú và thuyết
thoại
(shuo
hua).
Phó Huyền
đời
Tấn
viết
Viên
Hầu
Phú,
Ngô Quân đời
Đường
viết
Huyền
Viên Phú,
Lư Đức
Dụ
viết
Bạch
Viên Phú,
Liễu
Tôn Nguyên viết
Tặng
Vương
Tôn Văn.
Đáng
kể
hơn
nữa
là đầu
đời
Tống
có
Từ
Huyền
ghi lại
trong Kê
Thân Lục
truyện
Lăo Hầu
Thiết
Phụ
Nhân (Khỉ
già trộm
đàn
bà) và trong khoảng
năm
Thuần
Hi, Chu Khứ
Phi trong Lĩnh
Ngoại
Đại
Đáp
có viết
về
Quế
Lâm Hầu
Yêu, nói đến
một
con khỉ
già vài trăm
tuổi
ở
phủ
Tĩnh
Giang (Quế
Lâm), biến
hóa
thần
thông,
chuyên bắt
gái đẹp.
Lại
có truyện
Thân Dương
Động
Kư trong Tiễn
Đăng
Tân Thoại
của
Cù Hựu
đời
Minh kể
truyện
chàng thợ
săn
Lư Đức
Phùng lọt
vào động
Thân Dương
cũng
ở
Quế
Lâm và cứu
3 nàng con gái bị
vượn
bắt
cóc. Hồng
Tiện
đời
Minh biên Thanh
B́nh Sơn
Đường
Thoại
Bản,
trong đó
có Trần
Tuần
Kiểm
Mai Lĩnh
Thất
Thê Kư kể
truyện
nàng Như
Xuân, vợ
của
Tuần
Kiểm
Trần
Tân đời
Tống
Huy Tôn, một
đêm
bị
con tinh vượn
tên Thân Dương
Công16,
hiệu
...Tề
Thiên Đại
Thánh
nổi
một
trận
gió bắt
cóc từ
nhà trọ
phía bắc
Mai Lĩnh
(Phúc Kiến)
đem
về
động.
Trần
Tuần
Kiểm
ra công đi
t́m vợ,
ba năm
sau mới
t́m ra dấu
vết
một
con vượn
trắng
đến
nghe giảng
Phật
pháp
ở
chùa Hồng
Liên, phải
nhờ
một
vị
tu hành tên Tử
Dương
Chân Nhân lấy
xiềng
trói
nó lại.
Ngoài
mô-típ về
con khỉ
háo sắc,
c̣n có mô-típ
về
con khỉ
bị
giam cầm.
Trong «thi thoại»
đời
Tống
không thấy
chi tiết
Tôn Hành Giả
bị
đè
dưới
núi đá,
nhưng
các truyện
Tây Du kể
từ
đời
Nguyên trở
đi,
không đâu
là không có mô-típ con khỉ
bị
giam. Đường
Quốc
Sử
Bổ
đời
Thịnh
Đường
có chép chuyện
ông câu trên Hoài Hà ở
Giang Tô thấy
lưỡi
câu bị
vướng
xích sắt
dưới
ḷng sông mới
đi
báo quan. Thứ
sử
Lư Dương
cho người
tới
kéo xích th́ một
con khỉ
đen
lớn
(thanh mi hầu)
trồi
lên rồi
lại
lặn
mất.
Có người
tra cứu
Sơn
Hải
Kinh
mới
biết
con khỉ
đó
là Vô Chi Kỳ,
bị
vua Vũ
nhà Hạ
xiềng
dưới
núi Quân Sơn.
Lư Công Tá, tác giả
truyền
kỳ
nổi
tiếng
Nam Kha Thái Thú Truyện
cũng
có lần
(trong truyện
Lư Thang) kể
về
con khỉ
khổng
lồ
đầu
bạc,
răng
trắng,
móng vàng bị
xiềng
trên sông, tương
tự
như
câu chuyện
thấy
trong Đường
Quốc
Sử
Bổ.
Ngoài ra, Vương
Tượng
Chi đời
Nam Tống
trong quyển
sách địa
lư Dư
Địa
Kỷ
Thắng
lại
đưa
ra sự
tích nhà sư
nước
Khang Cư
(Sogdian) từ
Tây Vực
đến,
tên gọi
Tăng
Già (Sangha, có chỗ
cho là hóa thân của
Quan Âm vốn
hay
cứu
người
bị
nạn
thủy)
đă
hàng phục
con quái vật
Vô Chi Kỳ
ấy.
Một
mô-típ cũng
thú vị
không kém là mô
típ về
con khỉ
đi
thỉnh
kinh.
Học
giả
Trần
Dần
Khác trong bài viết
nhan đề
Tây
Du Kư Huyền
Trang Đệ
Tử
Cố
Sự
Chi Diễn
Biến
có viết
như
sau: «Ấn
Độ
vốn
có nhiều
cố
sự
về
khỉ
vượn
nhưng
không nghe nói có chuyện
viên hầu
náo thiên. Ở
Trung Quốc
cố
sự
về
khỉ
vượn
cũng
nhiều
nhưng
luân lư TQ nghiêm khắc
ngăn
cấm
sự
đảo
nghịch
giữa
vua và tôi,
người
và thú». Ông Trần
dẫn
2 kinh Phật
Đại
Trang Nghiêm Kinh Luận
và Hiền
Ngu Kinh
nói về
Đỉnh
Thiên Vương
Náo Thiên và xem sự
tích này như
là điểm
bắt
nguồn
của
sự
tích Tôn Hành Giả
Đại
Náo Thiên Cung. Tuy nhiên, v́ ông không lập
được
liên hệ
giữa
Đỉnh
Thiên Vương
và Tôn Ngộ
Không nên thuyết
này thiếu
tính thuyết
phục.
Ngược
lại,
Uchida Michio khi nghiên cứu
về
sự
h́nh thành Mô
típ con khỉ
tu hành
c̣n thấy
trong Tiễn
Đăng
Thi Thoại
(Thính
Kinh Viên Kư) của
Lư Trinh đời
Minh, qua truyện
viết
về
con khỉ
Viễn
Tốn
mặc
cà sa đi
tu thành
Phật.
Nguyên khúc có vở
Long Tế
Sơn
Dă Hầu
Thính Kinh kể
chuyện
tương
tự.
Ngay cả
Thất
Thê Kư đă
dẫn
cũng
có chương
nói về
con khỉ
đến
nghe kinh ở
Hồng
Liên Tự. Liên
hệ
giữa
Huyền
Trang và Tôn Ngộ
Không, hay liên hệ
giữa
nhà tu hành, việc
lấy
kinh Phật
và con khỉ
cũng
đă
được
thấy
trong bài tựa
Đại
Nhật
Kinh
của
cao tăng
Ấn
Độ
đến
TQ đời
Huyền
Tông tên Tu Bà Già La17
(Subhakarashinha, 637-735), tiếng
Hán gọi
là Tĩnh
Giới
hay Thiện
Vô Úy qua chuyện
con khỉ
mất
kinh đi
đ̣i.
Ngoài ra, sách Đường
Triều
Danh Họa
Lục
của
Chu Cảnh
Huyền
cũng
có nhắc
đến
bức
tranh của
tăng
Uất
Tŕ Ất
chùa Báo Ân Tự
(chùa này có liên lạc
mật
thiết
với
Huyền
Trang) vẽ
h́nh 12 bộ
chúng của
Thiên Thủ
Thiên Nhăn Quan Âm trong đó
có có con mi hầu
tên gọi
Tất
Bà Già La Vương.
Isobe Akira phỏng
đoán
Quan Âm có thể
đă
đóng
vai môi giới
để
Huyền
Trang và mi hầu
gặp
gỡ
nhau. Ngoài
những
mô-típ về
khỉ
đă
kể
ra, chúng ta không quên những
chi tiết
trong dân thoại
và truyền
kỳ
có liên quan gần
xa tới
hành tung của
nhân vật
Tôn Ngô
Không. Xin đơn
cử: 1)
Từ
đá
nứt
ra:
Tôn Ngộ
Không có nguồn
gốc
siêu phàm v́ là con thạch
hầu
sinh ra từ
ḥn đá
đă
hấp
thụ
tinh hoa nhật
nguyệt.
H́nh thức
sinh đẻ
nầy
gọi
là «lưỡng
tính câu hữu»
(androgynous) v́ sinh ra từ
một
vật
có cả
2 sinh thực
khí nam nữ
cùng lúc. Nó tượng
trưng
cho mô-típ
nguồn
gốc
linh thiêng
của
các nhân vật
thần
bí. Trong các văn
minh như
Maya, Incas, Hi Lap, từ
những
vùng như
Caucase cho đến
các đảo
Đại
Dương
Châu, ta đều
thấy
mô-típ từ
đá
sinh ra. Thần
thoại
Trung Quốc
có nói đến
vua Vũ
nhà Hạ
từ
trụ
đá
sinh ra. Khải,
con của
Vũ
cũng
từ
đá
nứt
chui ra sau khi mẹ
là Đồ
Sơn
Thị
(có thuyết
cho chính là Nữ
Oa, người
luyện
đá
ngũ
sắc
vá trời)
hóa đá
ở
Tung Cao Sơn.
Núi Trung Nhạc
(Tung Sơn),
vùng Hồ
Nam, tương
truyền
hăy c̣n dấu
ḥn đá
tên Khai (Khải?)
Mẫu
Thạch. 2)
Tái sinh: Tôn Ngộ
Không phá phách tức
là đứng
về
phía chống
đối
lại
trật
tự
đă
an bài. Việc
TNK bị
giam trong ḷ bát quái và dưới
núi Ngũ
Hành tượng
trưng
cho sự
chết
và tái sinh. Nếu
không như
thế,
sự
trở
về
«chính nghĩa»
để
làm người
đi
lấy
kinh của
TNK khó giải
thích. Na Tra cũng
phải
lóc thịt,
trả
cha mẹ
để
sau này trở
thành Thiện
Tài Đồng
Tử,
từ
nhân vật
phản
diện
đổi
qua chính diện. 3)
Ăn
trộm
đào
tiên:
Truyện
Đông
Phương
Sóc kiếp
trước
ăn
trộm
đào
tương
truyền
có chép trong Hán
Vũ
Cố
Sự.
Quyển
sách nói trên đă
mất,
nhưng
Lỗ
Tấn
t́m lại
được
dấu
vết
ở
Nghệ
Văn
Ngoại
Uyển
và ghi lại
dẫn
dụng
về
sự
tích nầy
trong tác phẩm
Cổ
Tiểu
Thuyết
Câu Trầm
của
ông. 4)
Hoa quả
có h́nh người:
Đây
là một
chi tiết
thú
vị
v́ nó đưa
ta tiếp
xúc với
các dân thoại
xa xôi hơn.
Lư Thời
Trân đă
dẫn
dụng
trong Bản
Thảo
Cương
Mục
từ
quyển
sách đă
thất
lạc
tên là Quảng
Ngũ
Hành Kư
truyện
củ
nhân sâm đời
Tùy Văn
Đế
có cả
tứ
chi và biết
khóc như
người
ở
vùng Thượng
Đảng
(Sơn
Tây
bây giờ).
Sách Dị
Uyển
cuối
thế
kỷ
thứ
5 đă
nói về
những
«thảo
yêu», loại
củ
có h́nh người.
Chúng ta biết
củ
tượng
trưng
cho sinh thực
khí nam và đào
tượng
trưng
cho sinh thực
khí nữ.
Kinh
Thi
ví người
đàn
bà có chồng
là «đào
yêu», tượng
trưng
cho sự
sung
măn và phồn
thực.
H́nh tượng
quả
đào
trường
sinh của
Tây Vương
Mẫu
ba ngh́n năm
mới
ra quả
như
Hán
Vũ
Cố
Sự
kể
lại
có thể
đến
từ
Đại
Thực
(Ả
Rập),
v́ sách Thuật
Dị
Kư
(do người
thời
Đường
mạt
mượn
tiếng
Nhiệm
Phường
đời
Lương
(thế
kỷ
thứ
6) viết,
đă
tả
những
quả
có h́nh người
và c̣n biết
cười
nữa.
Thực
ra những
tin tức
nầy
đến
từ
Thông
Điển
của
một
người
cuối
đời
Đường
tên Đỗ
Hựu,
lấy
tin từ
một
thân nhân tên Đỗ
Hoàn. Hoàn đă
theo Cao Tiên Chi hành quân ở
Trung Á năm
Thiên Bảo
thứ
10 (751) và bị
bắt
cầm
tù
giải
về
Con
khỉ
Ấn
Độ
Hanumân đă
đến
Trung Quốc
bằng
lối
nào? Khi
khảo
sát về
sự
h́nh thành của
nhân vật
Tôn Ngộ
Không (TNK), nếu
bỏ
qua tác phẩm
thi ca trữ
t́nh Râmâyana
đến
từ
Ấn
Độ
là một
điều
thiếu
sót. Quyển
sách nầy
đề
cập
đến
con khỉ
anh hùng
Hanumân, (đáng
lẽ
phải
đọc
là Hanumat mới
đúng
văn
phạm).
Đă
lâu, nhà dân tộc
học
người
Nhật
Kumakata Kumagusu (1867-1941) khi đọc
xong Râmâyana,
có lần
viết
về
cảm
tưởng
rằng
Hanumân chắc
là tiền
thân của
Tôn Ngộ
Không trong Tây Du Kư. Hồ
Thích trong Tây
Du Kư Khảo
Chứng
cũng
đưa
ra thuyết
Hanumân chính là tổ
tiên của
TNK. Ngược
lại,
trong một
bài giảng
về
truyền
kỳ
đời
Đường,
Lỗ
Tấn
đă
dựa
vào cổ
thư
đă
tŕnh bày ở
trên (Sơn
Hải
Kinh,
sự
tích con khỉ
Vô Chi Kỳ
đă
bị
vua Vũ
khi đi
trị
thủy
xiềng
dưới
chân
núi Quân Sơn)
để
chủ
trương
TNK trong TDK là một
con khỉ
hoàn toàn Trung Quốc,
và con
khỉ
bị
giam trong núi
nầy
có thể
là tổ
tiên trực
tiếp
của
TNK. Từ
đó,
không ai chịu
ai, nhưng
đa
số
các nhà nghiên cứu
tán đồng
lập
luận
về
ảnh
hưởng
của
Hanumân. Bàn
về nguồn
gốc
của
TNK, nếu
chỉ
dựa
vào một
truyền
thuyết
duy nhất,
ta sẽ
dễ
lạc
đường.
Có thể
ta phải
chấp
nhận
yếu
tố
«khỉ»
là chính yếu
trong quá tŕnh h́nh thành nhân vật
TNK, nhưng
không nên dừng
lại
ở
đó.
Cho nên, bảo
Hanumân có đóng
góp phần
nào vào sự
thành
lập
h́nh tượng
TNK có lẽ
thỏa
đáng
hơn,
nhất
là trên con đường
sang Trung Quốc,
Râmâyana
có thể
biến
dạng
v́ những
khó khăn
về
phiên dịch
và truyền
đạt. Râmâyana
là
tác phẩm
thơ
trữ
t́nh trường
thiên, gồm
7 biên 4 vạn
8 ngh́n câu (tụng)
do thi tiên Vâlmiki
soạn
lại
vào thế
kỷ
thứ
2 bằng
Phạn
ngữ
(Sankrit), từ
truyện
thơ
truyền
khẩu
ở
Ấn
Độ
suốt
thế
kỷ
thứ
6 đến
thế
kỷ
thứ
4 trước
công nguyên. Xin tóm lược
câu chuyện
như
sau: Quốc
vương
Dasaratha nước
Ayodhyâ có ba vợ.
Bà cả
Kausalyâ sinh Râma, bà thứ
Kaikeyi
sinh Bharata, bà ba Sumitrâ sinh đôi
Laksmana và Satrughna...., tất
cả
có 6 vương
tử.
Thái tử
Râma, bị
mưu
kế
của
bà Kaikeyi ton hót với
vua để
giành ngôi cho Bharata, bị
phụ
vương
bắt
phải
sống
trong rừng
với
vợ
là Sita và em khác mẹ
là Laksmana. Quốc
vương
Dasaratha chết,
Bharata mời
anh về
làm vua nhưng
Râma không muốn
trái mệnh
cha, trao đôi
hài vàng để
em lên làm vua, hẹn
14 năm
sau sẽ
trở
về
ngôi rồi
vẫn
ở
lại
trong rừng.
V́ vua quỉ
Râvana bắt
cóc vương
phi Sita, Râma và em phải
lên đường
đi
t́m
nàng. Trên đường,
cứu
được
vua khỉ
Sugrivra, nên vua đền
ơn
bằng
cách cho quân sư
của
ḿnh là Hanumân dẫn
binh hầu
tướng
khỉ
giúp sức
đi
t́m vợ.
Hanumân trổ
tài thần
vơ diệt
giặc,
đoạt
lại
được
nàng Sita đang
bị
giam ở
đảo
Lanka cho Râma, vừa
vặn
lúc hết
thời
hạn
ước
hẹn
14 năm
để
về
làm vua trở
lại.
Nói
về
đặc
điểm
của
Hanumân, theo K.C. Aryan (Hanumân
in Art and Mythology),
trước
hết
là cái đuôi
dài (các tượng
Hanumân khai quật
được
ở
miền
Nam Ấn
Độ
cũng
xác định
điều
đó),
dù càng về
cận
đại,
h́nh tượng
Hanumân lại
càng được
vẽ
cho giống
người
thêm. Theo hai tác giả
Joginder Narula (Hanumân)
và Catherin Ludvik (Hanumân) th́ Hanumân thông minh tài
trí, hiểu
biết
sự
vật
và thời
cơ
một
cách tinh tường.
Ngoài ra c̣n biết
bay bổng
tự
do trong không trung,
thu giăn thân thể
ngắn
dài như
ư muốn,
và có thể
biến
hóa thành người.
Những
chi tiết
nầy
có thể
tăng
thêm sức
thuyết
phục
cho lập
luận
của
Minakata Kumagusu và Hồ
Thích, xem Hanumân là tổ
tiên của
TNK. Thế
nhưng,
Râmâyana
đă
đưa
Hanumân vào Trung Quốc
bằng
đường
nào? Đường
bộ
phía Bắc
theo kinh Phật? Minakata
Kumagusu cũng
cho biết
tăng
nhân người
Sogdian (Khang Cư,
dân tộc
vùng Trung Á, gốc
Ba Tư)
Khang Tăng
Hội
đến
Trung Quốc
vào cuối
thế
kỷ
thứ
3 có kể
sơ
về
truyện
Râmâyana khi dịch
Lục
Độ
Tập
Kinh,
trong đó
có truyện
hầu
vương
sai quân lấy
đá
lấp
biển
để
cứu
một
vương
phi bị
rồng
bắt
giam trên đảo.
Ngoài ra, Minakata c̣n nói đến
vị
tăng
người
Kashmir tên Bạt
Trừng
đă
dịch
một
đoạn
Râmâyana
vào cuối
thế
kỷ
thứ
4 với
mục
đích
chống
việc
sát sinh gây ra bởi
chiến
tranh. Truyện
Râmâyana
c̣n
được
nhắc
tới
vào hậu
bán thế
kỷ
thứ
5 bởi
hai nhà tu ngoại
quốc
Kiết
Ca Dạ
(Kimkaryâ?) và Đàm
Diệu
trong bản
dịch
Tạp
Bảo
Tàng Kinh,
nhưng
ngoài việc
ca tụng
tấm
gương
trung hiếu
của
La Ma thái tử
(Râma ) và hoàng tử
Bà La
Đà
(Bharata), không hề
nhắc
tới
Sita lẫn
Hanumân. Nói chung, những
bản
dịch
kể
trên đều
không thấy
nói đến
tài nghệ
tuyệt
luân của
Hanumân, điểm
mà chúng ta chú mục. Đến
nay, vẫn
chưa
thấy
bản
Râmâyana
chữ
Hán nào nói đến
tài nghệ
của
Hanumân. Nếu
có th́
đă
thất
lạc
đâu
chăng?
Chỉ
biết
gần
đây,
người
ta đă
phát hiện
được
bản
dịch
Râmâyana
ra tiếng
Khotan18
và bản
văn
tiếng
Tây Tạng
t́m ra ở
thạch
động
ở
Đôn
Hoàng (Tunhuang)19,
cả
hai đều
miêu tả
sức
mạnh
thần
thông
của
Hanumân. Do những
điều
kiện
địa
lư và lịch
sử
mà ta không c̣n lạ
ǵ, có lẽ
người
Trung Quốc
đă
tiếp
xúc với
văn
bản
viết
bằng
hai thứ
tiếng
trên. Và ta c̣n có thể
giả
định
rằng
những
chi tiết
thú vị
về
sức
thần
thông của
Hanumân nếu
không truyền
qua
văn
bản
th́ vẫn
truyền
miệng
qua lời
kể
giữa
dân chúng trong lúc thông thương
và giao lưu
với
nhau, lại
ḥa quyện
với
những
cổ
tích, dân thoại,
Phật
điển...
về
khỉ
vượn
đă
có sẳn
từ
lâu đời
và rất
phong phú ở
Trung Quốc. H́nh
tượng
con
khỉ
biết
bay
có lẽ
gây ấn
tượng
nhiều
nhất.
Nhà nghiên cứu
Nhật
Bản
Torii Ryuzô chụp
lại
bản
họa
trên đá
đào
được
trong một
ngôi mộ
đời
Liêu khắc
cảnh
được
phỏng
đoán
là «cuộc
gặp
gở
đầu
tiên giửa
hai thầy
tṛ Huyền
Trang»: một
người
đầu,
tóc, mặt
như
khỉ,
quần
áo chiến
đấu,
ở
trên mây trong tư
thế
cân đẩu
vân, một
người
đứng
phía dưới
chắp
tay như
bái vọng.
Triều
Liêu đă
bị
diệt
vong từ
năm
Tuyên Ḥa thứ
7 đời
Tống
(1125), hơn
nữa
ngôi mộ
nầy
nằm
măi ở
An Sơn
(Măn Châu) và tướng
mạo
người
mặt
khỉ
trên mây lại
giống
Thâm Sa
Thần
đă
hiện
ra và trợ
giúp cho Huyền
Trang khi đói
lạnh
ở
Lưu
Sa Hà hơn
là giống
Tôn Ngộ
Không (v́ mồm
không dẩu
ra như
khỉ
mà tóc lại
dựng
ngược)
nên sử
liệu
của
Torii thật
quá «ngon» để
có thể
tin. Nhân
vật
Hầu
Hành Giả
trong thi thoại
đời
Tống
th́ đúng
là tiền
thân của
Tôn Ngộ
Không, nhưng
trong các tích nầy,
có lẽ
v́ quá ít yêu quái nên không trổ
được
hết
thần
thông chăng20?
Đến
bản
Không
thể
phủ
định
việc
Hanumân trong Râmayana
đă
ảnh
hưởng
đến
sự
thành lập
h́nh tượng
nhân vật
của
Tôn Ngộ
Không, nhưng
ta chưa
trả
lời
được
câu hỏi
tại
sao đă
theo đường
kinh Phật
vào Trung
Quốc
sớm
thế
mà Râmâyana
lại
nằm
im ĺm suốt
mấy
trăm
năm,
và phải
đợi
đến
đời
Tống,
đời
Nguyên mới
thức
dậy
để
bắt
đầu
ảnh
hưởng
vào truyện
Tây Du. Như
vậy,
giả
định
về
giai thoại
truyền
khẩu
về
Hanumân của
tôi cũng
không đúng
nốt.
Chỉ
c̣n một
lối
giải
thích: có một
Hanumân sinh động
hơn
là trong kinh điển
đă
vào Trung Quốc
giữa
đời
Tống
và Nguyên, và lần
nầy,
bằng
đường
thủy!
Vâng,
đường
thủy
đó
là đường
Nam Hải
để
đổ
bộ
lên Tuyền
Châu tỉnh
Phúc Kiến. Đường
thủy
phía Râmâyana
đi
từ
Ấn
Độ
băng
qua Trung Á rồi
lên phía Bắc
như
ta đă
biết,
nhưng
lại
theo một
đường
khác đi
xuống
miền
Nam theo ngả
Tích Lan, Miến
Điện,
Thái Lan, Căm
Bốt,
Lào, Việt
Nam, Mă Lai... Nó không những
truyền
đi
bằng
văn
dịch
nhưng
c̣n qua bích họa
ở
các
chùa chiền,
tuồng
kịch,
ca vũ,
sân khấu
bóng ảnh
(theater of shadow picture, theater of silhouette), nghĩa
là rất
nhiều
h́nh thức
nghệ
thuật
dân gian khác nhau và thay h́nh đổi
dạng
theo thể
tài và ngôn ngữ
được
sử
dụng. Nhiều
khi Râmâyana
thay
đổi
đến
mức
lạ
lùng như
trong bản
Tích Lan, trong đó,
Sita không những
thuận
t́nh đi
theo quỉ
vương
Râvana về
đảo
Lanka21
sống
sung sướng
mà khi con khỉ
Vâlin (?) đến
kiếm
ḿnh c̣n cho bắt
và đốt
cháy đuôi.
Có lẽ
v́ Lanka là quốc
hiệu
của
Tích Lan (Sri-Lanka) nên
người
ở
đây
không thích thú ǵ khi thấy
Sita sống
trên đảo
ḿnh mà cứ
khóc than nhớ
chồng.
Trong bản
Miến
Điện,
Me Thilda (Sita) không bị
Datagiri (vua quỉ
Râvna) bắt
về
đảo
Lanka mà lại
đem
về
kinh đô
của
Miến
thời
đó
ở
núi Popa. Hanumân đi
đến
đó
cứu,
nhưng
khi về
lại
bị
cho lọt
xuống
hồ
Inpaung22.
Vào
thế
kư thứ
mười,
Râmâyana
đă
được
dịch
ra văn
tự
gốc
Phạn
gọi
là Kawi ở
Java23
và các điêu
khắc
tráng lệ
về
đề
tài truyện
nầy24
c̣n được
giữ
lại
trên đảo.
Bản
Râmâyana
ở
Thái Lan có tên là Ramakian25,
bản
Căm
Bốt
tên là Reamker26.
Điêu
khắc
về
những
truyện
nầy
có thể
xem ở
các chùa (Vat) như
Vat Paraoke và Vat Po ở
Thái, và trên tường
Angkor Vat và các Bayon ở
Căm-Bốt.
C̣n ở
Lào27,
Râmâyana đă
được
truyền
vào từ
thế
kỷ
thứ
7 và Lào vẫn
c̣n giữ
được
nhiều
bích
họa
liên quan đến
nó ở
Vat Pa Ke và Vat Mai, hai ngôi chùa ở
thủ
đô
Luang Prabang. Ngoài ra, Râmâyana
cũng
đă
được
truyền
đến
những
nước
khác trong vùng Đông
Nam Á28
như
Phi Luật
Tân29
và Mă Lai30… Riêng
trong Râmâyana của
Lào có một
chi tiết
đặc
biệt
là
Hanumân lúc nhỏ
thấy
mặt
trời
ngỡ
là trái cây, bay lên chực
hái ăn
nhưng
bị
lửa
đốt
cháy tiêu31.
Thần
mặt
trời
Surya thương
t́nh lấy
một
sợi
lông khỉ
chưa
cháy hết
tái tạo
thân thể
cho và sai đi
giúp Pa Lam (Râma Lào) đi
t́m nàng Pommachak (Sita Lào). Điều
nầy
khác với
nguyên bản
Ấn
Độ
cho rằng
khi bay lên lấy
mặt
trời,
Hanumân bị
thiên lôi đả
rơi
xuống
đất.
Đưa
ra những
t́nh tiết
ấy
để
thấy
rằng
có một
Râmâyana
sống
động
và phong phú hơn
ở
vùng biển
Nam mà các thương
nhân từ
đời
Nam Tống
đến
đời
Nguyên
xuôi ngược
buôn bán vùng nầy
đă
du nhập
từng
mẩu
một
về
Trung Quốc,
qua căn
cứ
địa
của
họ,
cảng
Tuyền
Châu tỉnh
Phúc Kiến.
Tuyền
Châu (Zaytoun), quê hương
Tôn Ngộ
Không? Ai
cũng
biết
bối
cảnh
của
Tây Du Kư là con đường
thỉnh
kinh từ
Trường
An qua Trung Á
theo Con Đường
Lụa
nghĩa
là vùng núi non sa mạc
Tây Bắc
Trung Quốc
với
phong cảnh
hùng vĩ
và khí hậu
khắc
nghiệt.
Tuy vậy,
nguồn
gốc
của
câu truyện
có thể
nằm
măi ở
Tuyền
Châu, tỉnh
Phúc Kiến,
miền
Giang Bảo
tàng viện
Đại
Học
Hạ
Môn (Amoy University) ở
Tuyền
Châu trưng
bày rất
nhiều
mộ
bia viết
chữ
Ả-Rập,
Paspa và Tamil đào
được
trong tỉnh,
nhiều
trụ
đá
đền
thờ
Ần
Độ
Giáo chạm
h́nh khỉ.
Người
nước
ngoài (Ả
Rập,
Ấn
Độ,
I-ta-li-a,
Ac-mê-ni, Thổ)
đă
đến
buôn bán ở
đây
từ
lâu đời.
Ta biết
người
Ả-Rập
sống
thành phiên
phường,
như
một
h́nh thức
tô giới
và có cả
nghĩa
trang riêng. Tự
đời
Tống
đến
đời
Nguyên, Tuyền
Châu đă
có nhiều
đền
thờ
Hồi
Giáo và Ấn
Giáo, được
gọi
chung là phiên
phật
tự.
Trụ
đá
đào
được
năm
1947 ở
Thông Hoài Môn, chân thành Tuyền
Châu, có tạc
h́nh con khỉ
đuôi
dài mà người
ta đoán
định
là Hanumân bởi
v́ tay khỉ
cầm
một
búp lá giống
một
loại
dược
thảo.
Chi tiết
này có thể
quan trọng
v́ phù hợp
với
sự
tích Hanumân
lên núi hái thuốc
về
chữa
bệnh
cho anh em vương
tử
Râma thấy
trong Râmâyana.
Những
h́nh chạm
nổi
ở
Đông
Tây Tháp, chùa Khai Nguyên ở
Tuyền
Châu, về
Hầu
Hành Giả,
Tam Tạng
Pháp Sư
và Lương
Vũ
Đế
chứng
tỏ
có bàn tay của
người
Ấn
Độ32.
Nếu
Hanumân xuất
hiện
trên điêu
khắc
th́ sự
tích về
nó cũng
đă
được
truyền
miệng,
v́ sự
tích Râmâyana là câu truyện
nằm
ḷng của
nam phụ
lăo ấu
Ân Độ,
và quần
chúng Trung Quốc
thuở
ấy
chắc
phải
thích thú trước
những
chi tiết
như
chuyện
con khỉ
biết
bay. Phúc
Kiến
có nhân duyên
ǵ với
Tây Du Kư mà thi nhân người
Bồ
Điền
thuộc
Phúc Kiến
như
Lưu
Khắc
Trang (1187-1269) đă
sớm
vịnh
về
đề
tài «Đi
lấy
kinh, khổ
thân Hầu
Hành Giả»,
v́ sao Bạch
Viên Truyện
trong truyền
kỳ
nói về
con vượn
háo sắc
đă
mượn
bối
cảnh
miền
núi Mai Lĩnh
giữa
Quảng
Đông
và Phúc Kiến,
và câu chuyện
«con
khỉ
bị
giam»
được
truyền
tụng
rộng
răi trong tín ngưỡng
dân gian suốt
từ
Phúc Kiến
đến
Quảng
Đông? Địa
danh Phúc Kiến
có hơi
hướm
Thêm
vào đó,
có chứng
cứ
về
các sự
tích có phong vị
Tây Du truyền
từ
phương
Nam c̣n ghi lại
trong sách vở
Nam Tống.
Ví dụ
truyện
về
hai người
con gái đẹp
sinh ra từ
ḥn đá
ở
một
vùng giữa
Chân Lạp
và Chiêm Thành (có lẽ
nay là ở
biên giới
Lào và Việt
Nam) làm cho vua hai nước
tranh giành rồi
đánh
nhau. Truyện
ấy
tên là Bà Luật
Sơn
Mỹ
Nữ,
chép trong Di
Kiên Chí
của
Hồng
Mại
đời
Nam Tống.
Bà Luật
Sơn
ở
đâu
th́ có sách cho biết
là «trên đường
từ
Thiên Trúc trở
về,
đi
mất
10
tháng th́ đến
Bà Luật
Quốc»
(nhưng
có thể
2 địa
danh trùng hợp
v́ đồng
âm là Bà Luật).
Chuyện
nầy
có liên quan đến
một
sự
thực
lịch
sử
là chiến
tranh giữa
Chân Lạp
và Căm
Bốt
thời
Di
Kiên Chí
c̣n chép chuyện
Tôn Diễn
Khứ
Hầu
Yêu. Chùa Năng
Nhân
Tự
ở
Phúc Kiến
có thờ
Hầu
Vương
Thần.
Thần
này được
một
trưởng
lăo tên Tôn Diễn
cảm
hóa nên không tác hại
người
trong hạt
nữa.
Tuy chi tiết
nầy
không hẳn
liên quan đến
Tôn Ngộ
Không, nhưng
cũng
không xem nhẹ
liên hệ
giữa
truyền
thuyết
về
Hầu
Vương
với
TDK và với
tín ngưỡng
dân gian tỉnh
Phúc Kiến. Cũng
trong Di
Kiên Chí,
có chuyện
Hầu
Tướng
Quân ở
phủ
Lâm An đời
Nam Tống
đi
hỏi
vợ.
Hầu
Tướng
Quân «biết
bay như
chim, biến
được
ra to lớn,
cánh như
cánh dơi».
Có người
tên Triệu
Ngạn
Thành theo đó
mà viết
Phi
Hầu
Truyện,
và chữ
phi
hầu
đă
trở
thành một
h́nh tượng
quen thuộc
trong thi văn.
Con hầu
trong Râmâyana
bay qua biển
để
cứu
vợ
người
(Hanumân bay qua biển
đến
đảo
Lanka để
cứu
nàng Sita) chắc
được
dân chúng Trung Quốc
có cảm
t́nh hơn
là con vượn
bắt
cóc
vợ
người
(như
bạch
viên cướp
vợ
Âu Dương
Hột)
trong dân thoại
của
họ.
Có thể
từ
đó
họ
kết
hợp
h́nh tượng
phi hầu
nầy
với
con khỉ
thần
thông trong Râmâyana
dễ
dàng hơn
để
tạo
ra nhân vật
Tôn Ngộ
Không chăng?
Từ
biến
văn
tới
tiểu
thuyết
H́nh
thức
văn
học
nào đă
tạo
ra thuyết
thoại,
thi thoại,
kịch
bản
rồi
tiểu
thuyết
Tuy
vậy
gần
đây,
tôi đă
t́m ra dấu
vết
chính trong các biến
văn
cho biết
Mục
Liên chính
là hóa thân của
mi hầu.
Sách Tứ
Thú Nhân Duyên
hiện
tàng ở
Bảo
Tàng Viện
Quốc
Gia Paris có chép câu chuyện
bốn
loài súc sinh biết
giữ
tôn ti trật
tự
là chim, thỏ,
mi hầu
và tượng;
lại
nhắc
lời
Như
Lai «mi hầu
tức
Đại
Mục
Kiền
Liên». Điều
này lại
từng
được
nói sơ
qua trong quyển
thứ
7 của
Đại
Đường
Tây Vực
Kư
do Huyền
Trang viết. Kết
luận
của
người
biên dịch: Để
tóm tắt
quá tŕnh h́nh thành nhân vật
Tôn Ngộ
Không trong truyện
Tây Du theo ư kiến
nhà nghiên cứu
Nakano Miyoko, ta có thể
nói nó là diễn
biến
của
4 mô-típ dân thoại
chính trong ḍng thời
gian: 1)
Mô típ con khỉ
háo sắc
cướp
đàn
bà (muốn
được
bằng
người) 2)
Mô típ con khỉ
phá phách và bị
giam cầm 3)
Mô típ con khỉ
tu học
và đi
t́m kinh 4)
Mô típ con khỉ
thần
thông biết
đằng
vân (muốn
vượt
phận
người)
Đó
là một
quá tŕnh dài và rộng.
Dài 18 thế
kỷ
với
sự
«đóng
góp» của
nhiều
«tác giả»,
suốt
khoảng
thời
gian từ
đầu
đời
Hán (BC 202) đến
cuối
đời
Minh (1644), kể
từ
lúc có Sơn
Hải
Kinh
(chuyện
vua Vũ
xiềng
con vượn
dưới
núi Quân Sơn)
và cũng
là khi Phật
Giáo truyền
vào Trung Quốc,
cho đến
khi Tây
Du Kư
bản
đời
Minh ra đời
năm
1592 (với
nhân vật
trung tâm là Tề
Thiên Đại
Thánh Tôn Ngộ
Không). Rộng
v́ nó đi
từ
Ả-
Rập,
Ấn
Độ
đến
Trung Quốc,
lúc xuyên sa mạc
Trung Á, lúc vượt
vùng biển
Nam Hải. Con
khỉ
thần
thông Hanumân của
dân thoại
đă
từ
Ấn
Độ
đến
Trung Quốc,
nhào trộn
với
thần
tích về
khỉ
vượn,
linh thú trong dân thoại
và truyền
kỳ
sở
tại,
hài ḥa với
tư
tưởng
Nho-Thích-Lăo, được
ghi lại
qua biến
văn,
thi thoại,
thuyết
thoại,
hí khúc, cuối
cùng ngưng
đọng
ở
tiểu
thuyết
chương
hồi,
để
trở
thành Tôn Ngộ
Không. Qua việc
khăn
gói lên đường
thỉnh
kinh, lăo Tôn lại
về
tới
cố
hương
Ấn
Độ.
Như
thế,
Tôn Ngộ
Không đă
đi
trọn
một
chu kỳ,
hoàn thành giấc
mơ
phản
kháng và vượt-khỏi-thân-phận
mà dân gian đă
kư thác nơi
ḿnh. NAKANO
MIYOKO Nguyễn
Nam Trân biên
dịch
và chú thích Cước
chú: 1
Dân thoại,
chữ
mới
mượn
đỡ
từ
minwa
của
Nhật
để
chỉ
truyện
dân gian (folk tale, conte populaire, conte folklorique), đối
tượng
của
dân thoại
học,
một
lănh vực
nằm
trong ḷng dân tục
học
(Folklore), dân tộc
học
(Ethnology) và văn
hóa nhân loại
học
(Cultural Anthropology). 2
Với
cách đánh
giá con người
qua tính cách tượng
trưng
của
nhân vật
trong TDK, ví dụ
Huyền
Trang là nhân tính, Bát Giới
là Nhăn, Bạch
Mă là Ư Chí,
Ngộ
Không là Tâm (tâm viên ư mă), Ngộ
Tĩnh
là Nộ
vv…chẳng
hạn. 3
Một
trong 4 châu nằm
giữa
biển
và bao theo bốn
hướng
Đông
Tây Nam Bắc
quanh ngọn
Tu Di Sơn,
trung tâm của
thế
giới
trong vũ
trụ
quan Ân Độ.
Tất
cả
được
"niềng"
bằng
ṿng đai
của
Thiết
Vi Sơn
và được
đặt
lần
lượt
trên một
cái bệ
tṛn 3 bậc
(Kim Luân, Thủy
Luân và Phong Luân) theo thứ
tự
từ
nhỏ
đến
lớn.
4
Xem chú 3 5
Ngô Thừa
Ân (1506?-1582?), tự
là Nhữ
Trung, hiệu
Xạ
Dương
Sơn
Nhân, người
phủ
Hoài An, tỉnh
Giang Tô. Ông sinh năm
Chính Đức
nguyên
niên (1506) đời
Minh (có nhiều
thuyết
khác như
1500, 1505, 1510, 1511) và mất
năm
Vạn
Lịch
thứ
10 (1582) hay 11 (1583). Bản
TDK Thế
Đức
Đường
phát hành ước
chừng
10 năm
sau ngày ông mất,
và Hoài
An Phủ
Chí
(ra đời
khoảng
năm
Thiên Khải
1621-27), quyển
19, Nghệ
Văn
Chí, Hoài Hiền
Văn
Mục,
chép Ngô Thừa
Ân có viết
Xạ
Dương
Tập,
Xuân Thu Liệt
Truyện
Tự,
Tây Du Kư. Những
điều
này xem ra không có ǵ phi lư hay mâu thuẫn
nhưng
chưa
giải
đáp
hết
các nghi vấn
trong học
giới. 6
Khâu (Khưu)
Xử
Cơ
(1148-1227), tức
Trường
Xuân Chân Nhân, đạo
sĩ
phái Toàn Chân, đă
được
Thành Cát Tư
Hăn mời
đến
Samarcand trên đường
viễn
chinh để
giảng
thuật
trường
sinh bất
tử.
Đệ
tử
là Lư Chí Thường
về
sau đă
in lại
tập
du kư về
chuyến
đi
này. 7
Bản
Chu Đỉnh
Thần
tự
cho là đỉnh
khiết
(khắc)
muốn
nói là bản
chính thức,
bản
quyết
định,
gần
với
một
"tổ
bản"
(old text) 8
Lư Thời
Trân cho rằng
"h́nh dáng con hầu
này giống
Hồ
nhân nên gọi
là Hồ
Tôn". 9
Truyền
kỳ
là tên gọi
một
loại
tiểu
thuyết
ngắn
bắt
đầu
từ
đời
Đường,
kể
những
sự
việc
lạ
lùng. Sau được
dùng để
gọi
rộng
ra cho cả
tạp
kịch
đời
Nguyên cũng
như
những
kịch
bản
ở
phía nam Trung Quốc
thời
Minh và Thanh. 10Trong
Bản
Thảo
Cương
Mục,
viên được
phân biệt
với
nhung tức
nhu (tay dài, đuôi
dài) độc,
tinh tinh
(cùng là tay dài, đuôi
ngắn),
dă nhân (tay ngắn,
đuôi
dài), hầu
(tay ngắn,
đuôi
ngắn)... 11
G.H. van Gulik, Gibbon in China. 12
Lưỡng
ngạn
viên thanh đề
bất
tận
(Lư Bạch),
Thính viên thực
hạ
tam thanh lệ
(Đỗ
Phủ) 13
Liên hệ
đến
cấm
kỵ
(tabou)
về
hôn nhân khác giống
và huyễn
tưởng
về
những
nước
thuần
nam hay thuần
nữ
có thấy
trong 14
Trong 15
Nước
cuối
cùng thời
Nam Bắc
Triều
đóng
đô
ở
Kiến
Khang (Nam Kinh bây giờ),
vùng Giang Nam, do Vũ
Đế
Trần
Bá Tiên đoạt
từ
Lương
Kính Đế.
Đến
đời
Hậu
Chủ
bị
Tùy Văn
Đế
diệt
(557-589) (phụ
chú của
NNT). 16
Theo Vương
Sung đời
Hán
trong Luận
Hành,
Vật
Thế
Biên, Thân có nghĩa
là Khỉ,
Dương
là Đực. 17
Một
trong 4 người
được
tặng
danh hiệu
Tam Tạng
Pháp Sư
đời
Đường.
Ngoài Huyền
Trang, c̣n Nghĩa
Tĩnh
(635-713), Kim Cương
Trí (Vajrabodhi, 662?-741?), Thiện
Vô Úy (nói trên), và Bất
Không
(Amoghavajra, 705-774?), đều
là cao tăng
trứ
danh, giỏi
cả
ba tạng
tức
Kinh, Luật,
Luận). 18
Xem thêm H.W. Bailey, The Rama Story in Khotanese là
bản
dịch
ra Anh ngữ
và giới
thiệu
tư
liệu
này. 19
Xem thêm F.W. Thomas, A Ramayana Story in Tibetan from Chinese
Turkestan hay M. Lalou, L’histoire de Rama en tibétain,
Bibliothèque Nationale de Paris, hay J. W. de Jong, An Old
Tibetan Version of Ramayana và The Tunhuang Manuscripts of
the Tibetan Ramayana… 20
Ta có thể
hơi
thất
vọng
v́ trong 6 hồi
đầu
của
Tây Du, TNK thần
thông đến
thế
mà khi thỉnh
kinh cứ
phải
luôn luôn cầu
cạnh
sự
giúp đỡ
của
người
khác, nhất
là chư
Phật
(phụ
chú của
người
dịch). 21
Xem C.E. Godakumbura, The Ramayana. A Version of Rama’s Story
from Ceylon. 22
Xem thêm J.P. Connor, The Ramayana in Burma. 23
Tham khảo
C.H Hookaas, The
Old-Javanese Râmâyana. 24
Tham khảo
25
Tham khảo
Subhadradis Diskul, The
Ramakian và
J.M. Cadet, The Ramakien 26
Tham khảo
Judith M. Jacob, Reamker. 27
Tham khảo
Kamala Ratman và H.Deydier, The
Ramayana in Laos. 28
Tham khảo
V.Raghavan (biên tập),
The
Ramayana Tradition in Asia
và R. S. Iyengar (biên tập),
Asian
Variations in Ramayana. 29
Tham khảo
J.R. Francisco, The
Ramayana in the Philippines. 30
Tham khảo
A.Zieseniss, Die
Rama-Sage bei den Malaien. 31
Làm ta liên tưởng
tới
Icarus và Prometheus trong thần
thoại
Hy Lạp? 32
Xem thêm Nakano Miyoko, Tam Tạng
Pháp Sư. 33
Tiến
sĩ
A. Stein, người
Anh, đă
3 lần
thám hiểm
miền
Tây
Vực
hồi
đầu
thế
kỷ
20 (1900-1916), phát hiện
nhiều
di tích và văn
thư
Phật
Giáo giá trị
mở
đường
cho khoa Đôn
Hoàng Học.
Xem thêm trứ
tác A. Stein, Ruins
of Desert Cathey,
2 vols, Oxford, 1921 và A. Stein, On Ancient Central-Asian
Tracks, Oxford, 1933 (phụ
chú của
NNT theo K. Nagasawa, Silk
Road,
Tokyo, 1993) 34
P. Pelliot, người
Pháp, năm
mới
28 tuổi
đă
cầm
đâù
đoàn
thám hiểm
vùng Thiên Sơ
n
|