|
|
Tổng quan Quyển Hạ: Từ Cận Kim đến Hiện Kim
Chương 27 : Tanka và hiện đại. Thơ Waka giữa ḷng thế kỷ 20
Đây là bài viết thứ tư về thơ waka, tiếp theo Man.yô-shuu và ca dao cổ đại (bài 1), Kokin waka-shu, tập thơ xác định vị trí thơ quốc âm (bài 2) và Shin Kokin waka-shuu, tập thơ đánh dấu thời hoàng kim của thơ waka Nhật Bản (bài 3). TIẾT I: WAKA CUỐI THỜI EDO: A) Waka và Quốc Học (Waka & Kokugaku): Khuynh hướng của thi đàn waka thời trung cận đại là tiếp nối truyền thống thi ca thời trung cổ nghĩa là lấy thơ của tầng lớp quí tộc, công khanh làm trung tâm. Nhà thơ và tướng lănh thời Sengoku (Chiến Quốc, 1467-1568) là Hosokawa Yuusai[1] (Tế Xuyên, U Trai, 1534-1610) sau khi thụ giáo bí truyền của thơ Kokin từ Sanjônishi Saneki (Tam Điều Tây, Thực Chi) đă trở thành người dẫn đường cho thơ waka lúc ấy và đào tạo được rất nhiều môn đệ như Nakanoin Michikatsu (Trung Viện, Thông Thắng, 1556-1610), Karasumaru Mitsuhiro (Ô Hoàn, Quang Quảng, 1579-1638), Matsunaga Teitoku (Tùng Vĩnh, Trinh Đức, 1571-1653). Riêng Teitoku là người mà chúng ta đă đánh giá được tầm quan trọng trong lịch sử thơ haiku. C̣n thi nhân được xem có ca phong phóng túng khác thường của thời này là Kinoshita Chôshôshi [2](Mộc Hạ, Trường Tiêu Tử, 1569-1649). Thơ waka của ông đặc biệt mới mẽ và không chịu sự ràng buộc câu thúc. B) Cuộc cải cách waka thời Genroku và phong trào nghiên cứu tác phẩm cổ điển: Đời Genroku (1688-1704), trong đám các thi nhân waka xuất thân kém cỏi không quan tước, địa vị (gọi là giới jige = địa hạ) bộc lộ khuynh hướng muốn thoát khỏi ṿng ảnh hưởng của quyền lực waka truyền thống[3]. Đó là nguồn gốc của cuộc vận động đổi mới thơ waka. Cùng lúc, thời ấy lại có phong trào nghiên cứu lại các tác phẩm cổ điển với cái nh́n tự do, tra vấn và thực chứng. Một vũ sĩ đang sống đời không chủ ở Edo tên gọi Toda Mosui [4](Hộ Điền, Mậu Thụy, 1629-1708) đă viết tập b́nh luận thơ “Dưới gốc lê” (Nashinomoto-shuu = Lê bản tập, 1700). Bằng nhiều dẫn chứng, ông đă tŕnh bày những giới hạn của waka truyền thống kiểu bí truyền thầy hé lộ cho tṛ và đả kích mạnh mẽ cái gọi là “phép làm thơ nhà quan” (dôjôkagaku = đường thượng ca học)[5]. Lại thêm Shimokôbe Chôryuu[6] (Hạ Hà Biên, Trường Lưu, 1627-1686) viết “Ư kiến mọn về Man.yô-shuu” (Man.yô Kanken = Vạn diệp quản Kiến) để đánh giá Man.yôshuu, và như thế, đă mở đường cho một loạt những nghiên cứu tự do về các tác phẩm cổ điển. Keichuu (Khế Trùng , 1640-1701):Một người bạn thân của Chôryuu tức nhà sư Keichuu (Khế Trùng) tiếp tục công tŕnh nghiên cứu của ông. Keichuu xuất gia năm 11 tuổi, làm tăng phái Chân Ngôn nhưng vốn con nhà vũ sĩ. Ông ba lần rời nhà chùa hoặc để du hành khắp nước Nhật (1664-1667), hoặc để nghiên cứu kinh điển của Nhật Bản, Trung Quốc và tiếng Sankrit (1670-79) hay để viết sách (1690). Ông đă hoàn thành công tŕnh tên gọi “Ghi chép thay về Man.yôshuu” (Man.yô daishôki = Vạn Diệp Đại Tượng Kư) theo đó, ông cho ḿnh chỉ làm ông việc “viết thay cho một học giả lớn” (đại tượng) là Chôryuu hay cho một người đỡ đầu lớn là Tokugawa Mitsukuni, phiên chủ phiên Mito. Với tác phẩm này vốn là một công tŕnh nghiên cứu đối chiếu kiên nhẫn từ các thủ bản khác nhau, Keichuu với vốn học uyên bác, đă đưa ra một phương pháp luận cho khoa văn bản học thực chứng ở Nhật Bản và xây đắp nền tảng cho một môn học gọi là kokugaku (quốc học) tức môn học nghiên cứu về văn hoá nước nhà. Keichuu c̣n để lại ” Biên chép về những cái đúng (chính) sai (lạm) trong cách dùng chữ Nhật” Waji shôranshô (Hoà tự chính lạm Ssao) bàn về lịch sử diễn tiến của cách dùng văn tự kana ở Nhật. Đây cũng là một tác phẩm đáng ghi nhớ. Về già, Keichuu ẩn cư trong am Enshuu (Viên Châu) ở Kôzu gần Ôsaka và chú tâm vào việc nghiên cứu. Ông c̣n để lại “ Ngâm nga” ( Mangin-shuu = Mạn ngâm tập). C) Ozawa Roan (Tiểu Trạch, Lô Am, 1723-1801) ) và Kagawa Kageki (Hương Xuyên, Cảnh Thụ, 1768-1843): Vào hậu bán của thời cận đại, ngay ở Kyôto là nơi waka truyền thống vững mạnh, đă có mầm mống của cuộc đổi mới. Ozawa Roan[7] (Tiểu Trạch, Lô Am) đă dựa trên Kokin-shuu để đề xướng loại “thơ với lời b́nh thường” (tadagoto uta), nghĩa là những bài ca vịnh giản dị và mới mẽ. Sau đó có Kawaga Kageki [8](Hương Xuyên, Cảnh Thụ) chủ trương thuyết “nhạc điệu“ (shirabe no setsu), cho rằng làm thơ phải ḥa hợp với nhịp điệu tự nhiên của đất trời. Đối với ông, thi ca là một cái ǵ tự phát, không nên dựa quá vào tri thức. Để diễn đạt, ông chủ trương phải dùng ngôn ngữ đương thời. Trong ư nghĩa đó, ông đứng trên lập trường chống đối thi phái cổ điển ở Kyôto cũng như ở Edo v́ họ muốn trở lại thi phong thời Heian. Ông đă viết nhiều văn bút chiến về vấn đề này. Ḷ Keienha (Quế Viên Phái) của Kageki đào tạo được những nhân vật như Kinoshita Takabumi (Mộc Hạ, Hạnh Văn, 1779-1821), Hatta Tomonori (Bát Điền, Tri Kỷ, 1799-1873), sau đă trở thành một thế lực lớn mạnh của buổi giao thời từ cuối Mạc Phủ sang đầu Duy Tân. D) Ryôkan (Lương Khoan, 1757-1831) và các nhà thơ waka cuối thời Mạc Phủ:
Tăng Ryôkan và lũ trẻ con Ngoài trường phái Kenmon (Huyện Môn)[9] và Keien (Quế Viên), hai ḷ hun đúc nhân tài cho thơ waka cuối đời mạc phủ Tokugawa, khắp nơi trong nước cũng hăy c̣n những nhà thơ lỗi lạc không thuộc vào hai nhóm nầy. Trước hết phải kể tới thi tăng Ryôkan (Lương Khoan với phong cách tự nhiên, thành thực, rồi đến nhà thơ người Echizen (tỉnh Fukui bây giờ) tên gọi Tachibana Akemi (Quất, Thự Mỹ, 1812-68) hay ca ngợi cuộc sống thanh bần đạm bạc, nhà thơ đất Bizen (tỉnh Okayama) tên Hiraga Motoyoshi (B́nh Hạ, Nguyên Nghĩa, 1800-65) với những bài thơ t́nh phóng túng buông thả. Có thi nhân đất Chikuzen (tỉnh Fukuoka) là Ôkuma Kotomichi (Đại Ôi, Ngôn Đạo, 1798-1868), người khai triển đề tài thơ của ḿnh trong một phạm vi rất rộng răi, vịnh tới bất cứ khía cạnh nào về sinh hoạt của thời ấy. Ryôkan, biệt hiệu của Yamamoto Eizô, xuất thân gia đ́nh hương chủ ở Izumozaki (tỉnh Shimane bây giờ). Đi tu từ ngày c̣n trẻ và lên đường du hành khắp nơi. Sau về gần quê nhà cất am Gogô (Ngũ Hợp Am) trên núi Kugami sống đời nhàn tĩnh. Gọi là am “Ngũ Hợp” hay “Năm Đấu Gạo” v́ đó là số thóc ông được chùa bên cạnh chia cho để sinh sống. Ông giỏi cả các lĩnh vực thi, thư, họa. C̣n Tachibana Akemi có để lại tập thơ Shinobu no ya ka-shuu (Chí Nùng Phu Năi Xá ca tập) ghi chép thơ đủ mọi thể tài bằng ngôn ngữ thường ngày và 512 bài trong “Vui một ḿnh” (Dokurakugin = Độc Lạc Ngâm), tất cả đều bắt đầu bằng câu “Vui là khi …” (Tanoshimi wa… Ryôkan là một nhân vật cực kỳ thú vị. Ông nuôi rận. Tục truyền, khi trời nắng, ông cởi áo bắt rận cho chúng tắm nắng. Xong, lại trả về trong áo như cũ cho chúng hút máu ḿnh tiếp. Có lúc, ông đốt cả mảng mái nhà để lấy chỗ cho một cành trúc đâm ra được ngoài trời mà khỏi bị vướng. Ông c̣n cởi cả quần áo trên người tặng luôn kẻ trộm. Ông hoan hỉ nhận cái hiệu Đại Ngu thiên hạ gán cho. Cuối đời (1827), lúc đă trên bảy mươi, ông t́m được tâm hồn tri kỷ trong sáng nơi học tṛ ông là ni sư Teishin (Trinh Tâm), một người đàn bà mới 29 tuổi. Đó là điều măn nguyện nhất trong đời ông. Bà ta ở bên cạnh ông khi ông chết (6 /1/1831) vào năm 74 tuổi.[10] Sau đây xin tŕnh bày chùm thơ Haiku đầy thiền vị và thành thực của Ryôkan. Nhiều khi nó quá táo bạo nhưng không hề thô tục chút nào. Để nhại thơ Bashô, ông viết: Ao mới ếch nhảy xuống, (Bài Araike ya) Trèo lên sửa mái nhà, Thuyền chở lúa trôi thẳng, (Bài Inabune ya) Chuyện cũ chùa Suma, (Bài Suma tera no) Gió hè điểm bát canh, (Bài Seiran) Giúp ta nhen
đống lửa, (Bài Taorure ba) Ông có phong thái an nhiên tự tại: Có
người đến. Làm ta, (Bài Hito no kite) Trộm chôm hết chỉ c̣n, (Bài Nusubito ni) Mùa thu đi mất rồi, (Bài Yuku aki no) Bờ Suma, nằm ngủ, (Bài Yoshi ya nen) Ryôkan c̣n là một nhà thư đạo. Ông đă nghiên cứu bút pháp Trung Quốc của Vương Hy Chi (321-379), của tăng Hoài Tố (737-799 ?) và nhà thư pháp học Nhật Bản Ono no Michikaze (Tiểu Dă, Đạo Phong, 894-96) thời ở am Gogô. Với những nét gọn, nhẹ và thoáng, cũng như khi làm thơ, ông đi ngược lại phép viết đương thời. Thơ Ryôkan chỉ ra mắt độc giả sau khi ông mất. Trước tiên là tập “ Sương trên hoa sen ” (Hachinosu no Tsuyu, 1835). Sau đó, măi đến năm 1918 mới có “ Tập thơ tăng Lương Khoan ” (Ryôkan oshô shika-shuu) và tập truyện kư về cuộc đời ông, nhan đề “ Ryôkan, kẻ đại ngu ” (Taigu Ryôkan) do nhà nghiên cứu Sôma Gyofu (Tương Mă, Ngự Phong, 1883-1950) cho in.
Ôtagaki Rengetsu ((Đại Điền Viên, Liên Nguyệt, 1791-1875) : Ngoài các nhân vật nói trên c̣n phải kể đến nữ thi nhân Ôtagaki Rengetsu, sinh ra ở thôn Nishi-Kamo, gần Kyôto. Bà lớn lên trong một gia đ́nh vũ sĩ, giữ được truyền thống waka cổ điển, lại biết múa và sử dụng binh khí. Định mệnh khắt khe cướp đi chồng, hai con gái, một con trai. Sau khi chồng chết, bà xuất gia tu Phật, vứt hết thư, họa, gốm, sứ. Bà có những bài waka viết với phong vị thanh khiết. C̣n để lại “ Thơ Waka của Rengetsu và Shikibu” (Rengetsu Shikibu waka-shuu,1868) viết chung với Takabatake Shikibu và tập “ Thu hoạch của người vớt rong biển ” (Ama no karumo,1871). Với sự phát triển rầm rộ của haiku, thơ waka quăng cuối đời Edo như bị đ́nh trệ nếu không nói là lâm nguy. Tuy nhiên Rengetsu đă tỏ ra hết sức hăng hái tranh đấu cho thể thơ này. Bà theo sự chỉ bảo của Ueda Akinari (1734-1809) và suốt đời đeo đuổi tôn chỉ mà Ozawa Roan (1723-1809) đă đề ra, nghĩa là làm thơ phải b́nh dị, thành thực (tadakoto-uta) chứ không theo lư luận chính qui của Kamo no Mabuchi và những người thuộc trường phái (Kenmon) của ông. TIẾT II: CA DAO (với nghĩa CA KHÚC) CẬN ĐẠI Khi nói về waka thời Edo, không thể nào bỏ qua việc mở một dấu ngoặc để nhắc nhở về kayô (ca dao) cận đại v́ tính tương cận của chúng. Vào đầu thời cận đại, trong dân chúng có lưu hành một loại bài hát ngắn truyền từ đời trước tên gọi Ryuutatsu Ko-uta[11] (Long Đạt Tiểu Ca), khi hát có đệm bằng âm nhạc của một loại ống sáo lớn tên gọi Hitoyogiri (Nhất tiết thiết). Tuy nhiên về sau, loại bài hát ngắn nầy được đệm bằng đàn ba giây Shamisen và được phát triển rộng răi nhờ có mối liên hệ mật thiết với các xóm ăn chơi hay các rạp Jôruri và Kabuki. Như đă tŕnh bày, kayô khác waka ở chỗ nó được dùng để hát, tự do phóng túng hơn waka trong h́nh thức, nhưng vẫn không phải là văn xuôi. Nó có từ xa xưa. Người ta đă thu lượm được cỡ 200 bài từ Kojiki và Nihon shoki rồi. Thời Trung Cổ đă có các h́nh thức kagura-uta, saibara, azuma-uta rồi đến imayô,. Có 600 bài kayô gồm cả imayô tức kayô xưa làm theo lối “bây giờ” (ima) được thái thượng hoàng Go-shirakawa. cho thu thập trong Ryôjin Hishô (Lương Trần Bí Sao). Ngoài các kayô có tính cách tôn giáo, phần lớn nó nói lên t́nh tự dân gian và t́nh luyến ái, mộc mạc (nhiều khi tối nghĩa), sống động chứ không văn vẻ và g̣ bó như waka cung đ́nh. Để hiểu sự phát triển của loại h́nh nầy vào thời cận đại, ta có thể bắt đầu với Matsu no ha[12] (Tùng diệp) “Lá tùng”, tập bài hát thu thập các bài ca lưu hành ở các xóm ăn chơi vùng kinh kỳ vào đầu thời cận đại. Đến giữa thời cận đại th́ kayô đă nhường bước cho loại ca khúc mang tên Bungo-bushi (Phong Hậu[13] tiết) và những phân nhánh của khúc nầy như Tokiwazu-bushi (Thường Bàn Tân tiết), Kiyomoto-bushi (Thanh Nguyên tiết). Những khúc này hưng thịnh được một thời bởi v́ qua mối giao lưu thường xuyên với âm nhạc các xóm ăn chơi và kịch trường, nó đẻ ra vô số khúc hát khác được quần chúng b́nh dân ưa thích. Thế rồi, cuối đời cận đại, có thêm loại Itakobushi (Triều Lai tiết), dân dao địa phương, ăn lấn ra thành thị và sau đó phổ biến ra khắp nước. Matsu no ha gồm những bài của tác giả vô danh, chủ yếu nói đến cuộc sống hưởng lạc như thấy trong Kangin-shuu (Nhàn ngâm tập, 1518) của thời Muromachi trước đó nhưng với bối cảnh bây giờ là các xóm b́nh khang (kuruwa) mà nội dung của nó cũng sâu lắng hơn v́ đượm nỗi buồn của các cô gái lầu xanh than thở cho cuộc đời ngắn ngũi và cảnh phong lưu không bền lâu măi măi.Có những câu: Lẳng lơ trai gái dẫu là, (Matsu no ha, Date mo uwaki mo, quyển 2, bài 5) Sắc hương nào tiếc chi
ai, (Matsu no ha, Yoshiyawazakure, quyển 3, bài 7) Có những bài thơ viết về cảnh sinh hoạt trong xóm lầu xanh với nhận xét tâm lư nam nữ rất tinh tế: V́ chàng,
mái tóc xổ tung, Đêm mấy giờ, trễ phải về, Thời Tokugawa bắt đầu bằng sự phân ly giữa hai giai cấp thống trị và bị trị, cũng là lúc có sự phân ly giữa bổn phận (giri) và t́nh cảm (ninjô), giữa bề ngoài (omote) cứng nhắc và bên trong (ura) lỏng lẻo. Đến đời Genroku (1688-1704), xu hướng nầy sẽ sáng tỏ ra và sẽ đạt đến đỉnh cao để h́nh thành văn hóa Genroku xán lạn. Xin đóng dấu ngoặc về kayô ở đây để trở lại với sự phát triển của waka về hướng tanka, h́nh thức ngắn và giản dị nhất của nó. TIẾT III: TANKA THỜI MEIJI: a) Tanka cải cách: Đầu đời Meiji, khi thơ chữ Hán trên đường tàn lụi th́ thơ mới đă được du nhập từ phương Tây vào đất Nhật. Haiku vẫn c̣n đó nhưng cũng đang chờ đón những biến chuyển lớn. Song song cạnh thơ mới và haiku là tanka (xin giới hạn waka ở tanka v́ tanka tức h́nh thức waka mang tên đoản ca vẫn được phổ biến vào thời hiện đại trong khi h́nh thức waka mang tên chôka (trường ca) đă biến mất).Thơ tanka cổ điển của hai phái Dôjô[14] (Đường thượng phái) và Keien [15](Quế Viên phái) hăy c̣n ngự trị trên thi đàn cho đến khoảng năm Meiji thứ 30 (1897). Hai trường thơ này dựa trên sách gối đầu giường của họ là Kokin waka-shuu (Cổ kim hoà ca tập, ra đời khoảng 905 hay 914), lấy sự phong nhă làm điều kiện tiên quyết chứ không chú trọng tới cá tính của người làm thơ. Ochiai Naobumi (Lạc Hợp, Trực Văn, 1861-1903): Từ ḍng thơ tanka cổ điển này bỗng nẩy ra một thi nhân gây được sự chú ư hơn cả là Ochiai Naobumi. Lư do là năm 1893, ông đă thành lập tổ chức gọi là Asaka-sha (Thiển Hương Xă), nơi mà mỗi thành viên đều có cơ hội sáng tác tanka (thay v́ chỉ làm khán thính giả). Môn hạ của Naobumi có Yosano Tekkan (Dữ Tạ Dă, Thiết Cán, 1873-1935) và vợ ông ta là Akiko (Tinh Tử,1878-1942). Hai người này đă cộng tác với tạp chí thơ Myôjô “Sao Mai” và phát triển được phong cách lăng mạn của tanka, qui tụ được nhiều người đồng điệu. Naobumi người phiên Sendai, thưở nhỏ theo học quốc học và Thần Đạo, sau đó đă lên Tôkyô vào năm 1889 và nhập nhóm Shinseisha (SSS hay Tiếng Nói Mới), một tổ chức gây dựng bởi Mori Ôgai. Ông có dịch một số thơ cho tập Omakage “Vang Bóng” (1889). Năm 1893, cùng người em là Ayukai Kaien và các bạn trong đó có Tekkan, qua việc điều hành hội Ayaka-sha (Thiển Hương Xă), có mục đích cải cách tanka. Ông cũng hợp tác với Masaoka Shiki (Chính Cương, Tử Qui, 1867-1902) và Sasaki Nobutsuna (Tá Tá Mộc, Tín Cương, 1872-1963) để làm thơ mới nhưng không mấy thành công. Việc cải cách cũng chỉ thực hiện được nửa vời v́ dù sao, ông vẫn là người của cổ học, không thoát ra nổi ảnh hưởng của phái Keien. Hơn thế, tài thơ của ông cũng có giới hạn. Một bài tanka ông làm năm 1892 vẫn c̣n rất sáo rỗng: Mặc áo giáp, lại mang bào. Lưng đeo trường kiếm, ngắm đào trên non. (Bài Hiodoshi no, thơ Ochiai Naobumi) Khác với tanka phái Keien (Quế Viên), bài thơ này có vẽ hùng tráng mạnh mẽ nhưng nó không có ǵ gọi là mới mẽ v́ chỉ lập lại một h́nh ảnh rập khuôn của người Nhật “hoa anh đào là hoa đứng đầu trong muôn hoa, người samurai là người đứng đầu trong đám đàn ông”. Trong không khí hứng khởi sau trận Nhật Thanh (1894-95), bài này được nhiều người xưng tụng nhưng không phải là thiếu người chế nhạo. Chỉ có đến lúc cuối đời, ở trên giường bệnh, Ochiai mới có những vần thơ mới mới hơn một chút: Gió đêm đông ơi, ta mơ, Chốn người thổi đến lặng lờ hư không (Bài Kogarashi yo, thơ Ochiai Naobumi) Mặt khác, Masaoka Shiki (Chính Cương, Tử Qui, 1867-1902, xin xem tiểu truyện ở phần nói về haiku) phê phán cách viết waka của người xưa trong Kokin-shuu (Cổ kim ḥa ca tập)[16]. Ông coi trọng truyền thống Man.yô-shuu (Vạn diệp tập) có trước đó hơn, chủ trương một ca phong thiên về tả thực, không tu sức, dựa trên đó, xây dựng cơ sở cho phái Araragi (A la la mộc) và tạp chí mang tên nầy. Dưới thời Meiji, hai nhà thơ tanka của nhóm Myôjô “Sao Mai” đă hoạt động mạnh mẽ dưới ảnh hưởng chủ nghĩa tự nhiên. Đó là Ishikawa Takuboku (Thạch Xuyên, Trác Mộc, 1886-1912) và Wakayama Bokusui (Nhược Sơn, Mục Thủy, 1885-1928). Thông qua chủ nghĩa tự nhiên, nhóm Myôjô hướng về khuynh hướng duy mỹ để gặp gỡ các nhà thơ Kitahara Hakushuu (Bắc Nguyên, Bạch Thu, 1885-1942) ,Yoshii Isamu (Cát Tỉnh, Dũng, 1886-1960) trong khi phái Araragi tiến về phía Saitô Mokichi (Trai Đằng, Mậu Cát, 1882-1953), một nhà thơ có khuynh hướng t́nh cảm, miêu tả sự vật và cảnh sắc một cách khách quan như nhà hội họa. Đến thời Taishô, trường phái Araragi là ḍng thơ chính nhưng Kitahara Hakushuu và Kinoshita Rigen (Mộc Hạ, Lợi Huyền, 1886-1925) đă lập ra tờ Nikkô (Nhật Quang) “Ánh Mặt Trời” để chống lại ảnh hưởng trường phái tả thực của Araragi cũng như của những nhà thơ đă thành danh. TIẾT IV : TANKA ĐỜI TAISHÔ |