|
|
Tổng quan Quyển Hạ: Từ Cận Kim đến Hiện Kim
Chương 27 : Tanka và hiện đại. Thơ Waka giữa ḷng thế kỷ 20
Đây là bài viết thứ tư về thơ waka, tiếp theo Man.yô-shuu và ca dao cổ đại (bài 1), Kokin waka-shu, tập thơ xác định vị trí thơ quốc âm (bài 2) và Shin Kokin waka-shuu, tập thơ đánh dấu thời hoàng kim của thơ waka Nhật Bản (bài 3). TIẾT I: WAKA CUỐI THỜI EDO: A) Waka và Quốc Học (Waka & Kokugaku): Khuynh hướng của thi đàn waka thời trung cận đại là tiếp nối truyền thống thi ca thời trung cổ nghĩa là lấy thơ của tầng lớp quí tộc, công khanh làm trung tâm. Nhà thơ và tướng lănh thời Sengoku (Chiến Quốc, 1467-1568) là Hosokawa Yuusai[1] (Tế Xuyên, U Trai, 1534-1610) sau khi thụ giáo bí truyền của thơ Kokin từ Sanjônishi Saneki (Tam Điều Tây, Thực Chi) đă trở thành người dẫn đường cho thơ waka lúc ấy và đào tạo được rất nhiều môn đệ như Nakanoin Michikatsu (Trung Viện, Thông Thắng, 1556-1610), Karasumaru Mitsuhiro (Ô Hoàn, Quang Quảng, 1579-1638), Matsunaga Teitoku (Tùng Vĩnh, Trinh Đức, 1571-1653). Riêng Teitoku là người mà chúng ta đă đánh giá được tầm quan trọng trong lịch sử thơ haiku. C̣n thi nhân được xem có ca phong phóng túng khác thường của thời này là Kinoshita Chôshôshi [2](Mộc Hạ, Trường Tiêu Tử, 1569-1649). Thơ waka của ông đặc biệt mới mẽ và không chịu sự ràng buộc câu thúc. B) Cuộc cải cách waka thời Genroku và phong trào nghiên cứu tác phẩm cổ điển: Đời Genroku (1688-1704), trong đám các thi nhân waka xuất thân kém cỏi không quan tước, địa vị (gọi là giới jige = địa hạ) bộc lộ khuynh hướng muốn thoát khỏi ṿng ảnh hưởng của quyền lực waka truyền thống[3]. Đó là nguồn gốc của cuộc vận động đổi mới thơ waka. Cùng lúc, thời ấy lại có phong trào nghiên cứu lại các tác phẩm cổ điển với cái nh́n tự do, tra vấn và thực chứng. Một vũ sĩ đang sống đời không chủ ở Edo tên gọi Toda Mosui [4](Hộ Điền, Mậu Thụy, 1629-1708) đă viết tập b́nh luận thơ “Dưới gốc lê” (Nashinomoto-shuu = Lê bản tập, 1700). Bằng nhiều dẫn chứng, ông đă tŕnh bày những giới hạn của waka truyền thống kiểu bí truyền thầy hé lộ cho tṛ và đả kích mạnh mẽ cái gọi là “phép làm thơ nhà quan” (dôjôkagaku = đường thượng ca học)[5]. Lại thêm Shimokôbe Chôryuu[6] (Hạ Hà Biên, Trường Lưu, 1627-1686) viết “Ư kiến mọn về Man.yô-shuu” (Man.yô Kanken = Vạn diệp quản Kiến) để đánh giá Man.yôshuu, và như thế, đă mở đường cho một loạt những nghiên cứu tự do về các tác phẩm cổ điển. Keichuu (Khế Trùng , 1640-1701):Một người bạn thân của Chôryuu tức nhà sư Keichuu (Khế Trùng) tiếp tục công tŕnh nghiên cứu của ông. Keichuu xuất gia năm 11 tuổi, làm tăng phái Chân Ngôn nhưng vốn con nhà vũ sĩ. Ông ba lần rời nhà chùa hoặc để du hành khắp nước Nhật (1664-1667), hoặc để nghiên cứu kinh điển của Nhật Bản, Trung Quốc và tiếng Sankrit (1670-79) hay để viết sách (1690). Ông đă hoàn thành công tŕnh tên gọi “Ghi chép thay về Man.yôshuu” (Man.yô daishôki = Vạn Diệp Đại Tượng Kư) theo đó, ông cho ḿnh chỉ làm ông việc “viết thay cho một học giả lớn” (đại tượng) là Chôryuu hay cho một người đỡ đầu lớn là Tokugawa Mitsukuni, phiên chủ phiên Mito. Với tác phẩm này vốn là một công tŕnh nghiên cứu đối chiếu kiên nhẫn từ các thủ bản khác nhau, Keichuu với vốn học uyên bác, đă đưa ra một phương pháp luận cho khoa văn bản học thực chứng ở Nhật Bản và xây đắp nền tảng cho một môn học gọi là kokugaku (quốc học) tức môn học nghiên cứu về văn hoá nước nhà. Keichuu c̣n để lại ” Biên chép về những cái đúng (chính) sai (lạm) trong cách dùng chữ Nhật” Waji shôranshô (Hoà tự chính lạm Ssao) bàn về lịch sử diễn tiến của cách dùng văn tự kana ở Nhật. Đây cũng là một tác phẩm đáng ghi nhớ. Về già, Keichuu ẩn cư trong am Enshuu (Viên Châu) ở Kôzu gần Ôsaka và chú tâm vào việc nghiên cứu. Ông c̣n để lại “ Ngâm nga” ( Mangin-shuu = Mạn ngâm tập). C) Ozawa Roan (Tiểu Trạch, Lô Am, 1723-1801) ) và Kagawa Kageki (Hương Xuyên, Cảnh Thụ, 1768-1843): Vào hậu bán của thời cận đại, ngay ở Kyôto là nơi waka truyền thống vững mạnh, đă có mầm mống của cuộc đổi mới. Ozawa Roan[7] (Tiểu Trạch, Lô Am) đă dựa trên Kokin-shuu để đề xướng loại “thơ với lời b́nh thường” (tadagoto uta), nghĩa là những bài ca vịnh giản dị và mới mẽ. Sau đó có Kawaga Kageki [8](Hương Xuyên, Cảnh Thụ) chủ trương thuyết “nhạc điệu“ (shirabe no setsu), cho rằng làm thơ phải ḥa hợp với nhịp điệu tự nhiên của đất trời. Đối với ông, thi ca là một cái ǵ tự phát, không nên dựa quá vào tri thức. Để diễn đạt, ông chủ trương phải dùng ngôn ngữ đương thời. Trong ư nghĩa đó, ông đứng trên lập trường chống đối thi phái cổ điển ở Kyôto cũng như ở Edo v́ họ muốn trở lại thi phong thời Heian. Ông đă viết nhiều văn bút chiến về vấn đề này. Ḷ Keienha (Quế Viên Phái) của Kageki đào tạo được những nhân vật như Kinoshita Takabumi (Mộc Hạ, Hạnh Văn, 1779-1821), Hatta Tomonori (Bát Điền, Tri Kỷ, 1799-1873), sau đă trở thành một thế lực lớn mạnh của buổi giao thời từ cuối Mạc Phủ sang đầu Duy Tân. D) Ryôkan (Lương Khoan, 1757-1831) và các nhà thơ waka cuối thời Mạc Phủ:
Tăng Ryôkan và lũ trẻ con Ngoài trường phái Kenmon (Huyện Môn)[9] và Keien (Quế Viên), hai ḷ hun đúc nhân tài cho thơ waka cuối đời mạc phủ Tokugawa, khắp nơi trong nước cũng hăy c̣n những nhà thơ lỗi lạc không thuộc vào hai nhóm nầy. Trước hết phải kể tới thi tăng Ryôkan (Lương Khoan với phong cách tự nhiên, thành thực, rồi đến nhà thơ người Echizen (tỉnh Fukui bây giờ) tên gọi Tachibana Akemi (Quất, Thự Mỹ, 1812-68) hay ca ngợi cuộc sống thanh bần đạm bạc, nhà thơ đất Bizen (tỉnh Okayama) tên Hiraga Motoyoshi (B́nh Hạ, Nguyên Nghĩa, 1800-65) với những bài thơ t́nh phóng túng buông thả. Có thi nhân đất Chikuzen (tỉnh Fukuoka) là Ôkuma Kotomichi (Đại Ôi, Ngôn Đạo, 1798-1868), người khai triển đề tài thơ của ḿnh trong một phạm vi rất rộng răi, vịnh tới bất cứ khía cạnh nào về sinh hoạt của thời ấy. Ryôkan, biệt hiệu của Yamamoto Eizô, xuất thân gia đ́nh hương chủ ở Izumozaki (tỉnh Shimane bây giờ). Đi tu từ ngày c̣n trẻ và lên đường du hành khắp nơi. Sau về gần quê nhà cất am Gogô (Ngũ Hợp Am) trên núi Kugami sống đời nhàn tĩnh. Gọi là am “Ngũ Hợp” hay “Năm Đấu Gạo” v́ đó là số thóc ông được chùa bên cạnh chia cho để sinh sống. Ông giỏi cả các lĩnh vực thi, thư, họa. C̣n Tachibana Akemi có để lại tập thơ Shinobu no ya ka-shuu (Chí Nùng Phu Năi Xá ca tập) ghi chép thơ đủ mọi thể tài bằng ngôn ngữ thường ngày và 512 bài trong “Vui một ḿnh” (Dokurakugin = Độc Lạc Ngâm), tất cả đều bắt đầu bằng câu “Vui là khi …” (Tanoshimi wa… Ryôkan là một nhân vật cực kỳ thú vị. Ông nuôi rận. Tục truyền, khi trời nắng, ông cởi áo bắt rận cho chúng tắm nắng. Xong, lại trả về trong áo như cũ cho chúng hút máu ḿnh tiếp. Có lúc, ông đốt cả mảng mái nhà để lấy chỗ cho một cành trúc đâm ra được ngoài trời mà khỏi bị vướng. Ông c̣n cởi cả quần áo trên người tặng luôn kẻ trộm. Ông hoan hỉ nhận cái hiệu Đại Ngu thiên hạ gán cho. Cuối đời (1827), lúc đă trên bảy mươi, ông t́m được tâm hồn tri kỷ trong sáng nơi học tṛ ông là ni sư Teishin (Trinh Tâm), một người đàn bà mới 29 tuổi. Đó là điều măn nguyện nhất trong đời ông. Bà ta ở bên cạnh ông khi ông chết (6 /1/1831) vào năm 74 tuổi.[10] Sau đây xin tŕnh bày chùm thơ Haiku đầy thiền vị và thành thực của Ryôkan. Nhiều khi nó quá táo bạo nhưng không hề thô tục chút nào. Để nhại thơ Bashô, ông viết: Ao mới ếch nhảy xuống, (Bài Araike ya) Trèo lên sửa mái nhà, Thuyền chở lúa trôi thẳng, (Bài Inabune ya) Chuyện cũ chùa Suma, (Bài Suma tera no) Gió hè điểm bát canh, (Bài Seiran) Giúp ta nhen
đống lửa, (Bài Taorure ba) Ông có phong thái an nhiên tự tại: Có
người đến. Làm ta, (Bài Hito no kite) Trộm chôm hết chỉ c̣n, (Bài Nusubito ni) Mùa thu đi mất rồi, (Bài Yuku aki no) Bờ Suma, nằm ngủ, (Bài Yoshi ya nen) Ryôkan c̣n là một nhà thư đạo. Ông đă nghiên cứu bút pháp Trung Quốc của Vương Hy Chi (321-379), của tăng Hoài Tố (737-799 ?) và nhà thư pháp học Nhật Bản Ono no Michikaze (Tiểu Dă, Đạo Phong, 894-96) thời ở am Gogô. Với những nét gọn, nhẹ và thoáng, cũng như khi làm thơ, ông đi ngược lại phép viết đương thời. Thơ Ryôkan chỉ ra mắt độc giả sau khi ông mất. Trước tiên là tập “ Sương trên hoa sen ” (Hachinosu no Tsuyu, 1835). Sau đó, măi đến năm 1918 mới có “ Tập thơ tăng Lương Khoan ” (Ryôkan oshô shika-shuu) và tập truyện kư về cuộc đời ông, nhan đề “ Ryôkan, kẻ đại ngu ” (Taigu Ryôkan) do nhà nghiên cứu Sôma Gyofu (Tương Mă, Ngự Phong, 1883-1950) cho in.
Ôtagaki Rengetsu ((Đại Điền Viên, Liên Nguyệt, 1791-1875) : Ngoài các nhân vật nói trên c̣n phải kể đến nữ thi nhân Ôtagaki Rengetsu, sinh ra ở thôn Nishi-Kamo, gần Kyôto. Bà lớn lên trong một gia đ́nh vũ sĩ, giữ được truyền thống waka cổ điển, lại biết múa và sử dụng binh khí. Định mệnh khắt khe cướp đi chồng, hai con gái, một con trai. Sau khi chồng chết, bà xuất gia tu Phật, vứt hết thư, họa, gốm, sứ. Bà có những bài waka viết với phong vị thanh khiết. C̣n để lại “ Thơ Waka của Rengetsu và Shikibu” (Rengetsu Shikibu waka-shuu,1868) viết chung với Takabatake Shikibu và tập “ Thu hoạch của người vớt rong biển ” (Ama no karumo,1871). Với sự phát triển rầm rộ của haiku, thơ waka quăng cuối đời Edo như bị đ́nh trệ nếu không nói là lâm nguy. Tuy nhiên Rengetsu đă tỏ ra hết sức hăng hái tranh đấu cho thể thơ này. Bà theo sự chỉ bảo của Ueda Akinari (1734-1809) và suốt đời đeo đuổi tôn chỉ mà Ozawa Roan (1723-1809) đă đề ra, nghĩa là làm thơ phải b́nh dị, thành thực (tadakoto-uta) chứ không theo lư luận chính qui của Kamo no Mabuchi và những người thuộc trường phái (Kenmon) của ông. TIẾT II: CA DAO (với nghĩa CA KHÚC) CẬN ĐẠI Khi nói về waka thời Edo, không thể nào bỏ qua việc mở một dấu ngoặc để nhắc nhở về kayô (ca dao) cận đại v́ tính tương cận của chúng. Vào đầu thời cận đại, trong dân chúng có lưu hành một loại bài hát ngắn truyền từ đời trước tên gọi Ryuutatsu Ko-uta[11] (Long Đạt Tiểu Ca), khi hát có đệm bằng âm nhạc của một loại ống sáo lớn tên gọi Hitoyogiri (Nhất tiết thiết). Tuy nhiên về sau, loại bài hát ngắn nầy được đệm bằng đàn ba giây Shamisen và được phát triển rộng răi nhờ có mối liên hệ mật thiết với các xóm ăn chơi hay các rạp Jôruri và Kabuki. Như đă tŕnh bày, kayô khác waka ở chỗ nó được dùng để hát, tự do phóng túng hơn waka trong h́nh thức, nhưng vẫn không phải là văn xuôi. Nó có từ xa xưa. Người ta đă thu lượm được cỡ 200 bài từ Kojiki và Nihon shoki rồi. Thời Trung Cổ đă có các h́nh thức kagura-uta, saibara, azuma-uta rồi đến imayô,. Có 600 bài kayô gồm cả imayô tức kayô xưa làm theo lối “bây giờ” (ima) được thái thượng hoàng Go-shirakawa. cho thu thập trong Ryôjin Hishô (Lương Trần Bí Sao). Ngoài các kayô có tính cách tôn giáo, phần lớn nó nói lên t́nh tự dân gian và t́nh luyến ái, mộc mạc (nhiều khi tối nghĩa), sống động chứ không văn vẻ và g̣ bó như waka cung đ́nh. Để hiểu sự phát triển của loại h́nh nầy vào thời cận đại, ta có thể bắt đầu với Matsu no ha[12] (Tùng diệp) “Lá tùng”, tập bài hát thu thập các bài ca lưu hành ở các xóm ăn chơi vùng kinh kỳ vào đầu thời cận đại. Đến giữa thời cận đại th́ kayô đă nhường bước cho loại ca khúc mang tên Bungo-bushi (Phong Hậu[13] tiết) và những phân nhánh của khúc nầy như Tokiwazu-bushi (Thường Bàn Tân tiết), Kiyomoto-bushi (Thanh Nguyên tiết). Những khúc này hưng thịnh được một thời bởi v́ qua mối giao lưu thường xuyên với âm nhạc các xóm ăn chơi và kịch trường, nó đẻ ra vô số khúc hát khác được quần chúng b́nh dân ưa thích. Thế rồi, cuối đời cận đại, có thêm loại Itakobushi (Triều Lai tiết), dân dao địa phương, ăn lấn ra thành thị và sau đó phổ biến ra khắp nước. Matsu no ha gồm những bài của tác giả vô danh, chủ yếu nói đến cuộc sống hưởng lạc như thấy trong Kangin-shuu (Nhàn ngâm tập, 1518) của thời Muromachi trước đó nhưng với bối cảnh bây giờ là các xóm b́nh khang (kuruwa) mà nội dung của nó cũng sâu lắng hơn v́ đượm nỗi buồn của các cô gái lầu xanh than thở cho cuộc đời ngắn ngũi và cảnh phong lưu không bền lâu măi măi.Có những câu: Lẳng lơ trai gái dẫu là, (Matsu no ha, Date mo uwaki mo, quyển 2, bài 5) Sắc hương nào tiếc chi
ai, (Matsu no ha, Yoshiyawazakure, quyển 3, bài 7) Có những bài thơ viết về cảnh sinh hoạt trong xóm lầu xanh với nhận xét tâm lư nam nữ rất tinh tế: V́ chàng,
mái tóc xổ tung, Đêm mấy giờ, trễ phải về, Thời Tokugawa bắt đầu bằng sự phân ly giữa hai giai cấp thống trị và bị trị, cũng là lúc có sự phân ly giữa bổn phận (giri) và t́nh cảm (ninjô), giữa bề ngoài (omote) cứng nhắc và bên trong (ura) lỏng lẻo. Đến đời Genroku (1688-1704), xu hướng nầy sẽ sáng tỏ ra và sẽ đạt đến đỉnh cao để h́nh thành văn hóa Genroku xán lạn. Xin đóng dấu ngoặc về kayô ở đây để trở lại với sự phát triển của waka về hướng tanka, h́nh thức ngắn và giản dị nhất của nó. TIẾT III: TANKA THỜI MEIJI: a) Tanka cải cách: Đầu đời Meiji, khi thơ chữ Hán trên đường tàn lụi th́ thơ mới đă được du nhập từ phương Tây vào đất Nhật. Haiku vẫn c̣n đó nhưng cũng đang chờ đón những biến chuyển lớn. Song song cạnh thơ mới và haiku là tanka (xin giới hạn waka ở tanka v́ tanka tức h́nh thức waka mang tên đoản ca vẫn được phổ biến vào thời hiện đại trong khi h́nh thức waka mang tên chôka (trường ca) đă biến mất).Thơ tanka cổ điển của hai phái Dôjô[14] (Đường thượng phái) và Keien [15](Quế Viên phái) hăy c̣n ngự trị trên thi đàn cho đến khoảng năm Meiji thứ 30 (1897). Hai trường thơ này dựa trên sách gối đầu giường của họ là Kokin waka-shuu (Cổ kim hoà ca tập, ra đời khoảng 905 hay 914), lấy sự phong nhă làm điều kiện tiên quyết chứ không chú trọng tới cá tính của người làm thơ. Ochiai Naobumi (Lạc Hợp, Trực Văn, 1861-1903): Từ ḍng thơ tanka cổ điển này bỗng nẩy ra một thi nhân gây được sự chú ư hơn cả là Ochiai Naobumi. Lư do là năm 1893, ông đă thành lập tổ chức gọi là Asaka-sha (Thiển Hương Xă), nơi mà mỗi thành viên đều có cơ hội sáng tác tanka (thay v́ chỉ làm khán thính giả). Môn hạ của Naobumi có Yosano Tekkan (Dữ Tạ Dă, Thiết Cán, 1873-1935) và vợ ông ta là Akiko (Tinh Tử,1878-1942). Hai người này đă cộng tác với tạp chí thơ Myôjô “Sao Mai” và phát triển được phong cách lăng mạn của tanka, qui tụ được nhiều người đồng điệu. Naobumi người phiên Sendai, thưở nhỏ theo học quốc học và Thần Đạo, sau đó đă lên Tôkyô vào năm 1889 và nhập nhóm Shinseisha (SSS hay Tiếng Nói Mới), một tổ chức gây dựng bởi Mori Ôgai. Ông có dịch một số thơ cho tập Omakage “Vang Bóng” (1889). Năm 1893, cùng người em là Ayukai Kaien và các bạn trong đó có Tekkan, qua việc điều hành hội Ayaka-sha (Thiển Hương Xă), có mục đích cải cách tanka. Ông cũng hợp tác với Masaoka Shiki (Chính Cương, Tử Qui, 1867-1902) và Sasaki Nobutsuna (Tá Tá Mộc, Tín Cương, 1872-1963) để làm thơ mới nhưng không mấy thành công. Việc cải cách cũng chỉ thực hiện được nửa vời v́ dù sao, ông vẫn là người của cổ học, không thoát ra nổi ảnh hưởng của phái Keien. Hơn thế, tài thơ của ông cũng có giới hạn. Một bài tanka ông làm năm 1892 vẫn c̣n rất sáo rỗng: Mặc áo giáp, lại mang bào. Lưng đeo trường kiếm, ngắm đào trên non. (Bài Hiodoshi no, thơ Ochiai Naobumi) Khác với tanka phái Keien (Quế Viên), bài thơ này có vẽ hùng tráng mạnh mẽ nhưng nó không có ǵ gọi là mới mẽ v́ chỉ lập lại một h́nh ảnh rập khuôn của người Nhật “hoa anh đào là hoa đứng đầu trong muôn hoa, người samurai là người đứng đầu trong đám đàn ông”. Trong không khí hứng khởi sau trận Nhật Thanh (1894-95), bài này được nhiều người xưng tụng nhưng không phải là thiếu người chế nhạo. Chỉ có đến lúc cuối đời, ở trên giường bệnh, Ochiai mới có những vần thơ mới mới hơn một chút: Gió đêm đông ơi, ta mơ, Chốn người thổi đến lặng lờ hư không (Bài Kogarashi yo, thơ Ochiai Naobumi) Mặt khác, Masaoka Shiki (Chính Cương, Tử Qui, 1867-1902, xin xem tiểu truyện ở phần nói về haiku) phê phán cách viết waka của người xưa trong Kokin-shuu (Cổ kim ḥa ca tập)[16]. Ông coi trọng truyền thống Man.yô-shuu (Vạn diệp tập) có trước đó hơn, chủ trương một ca phong thiên về tả thực, không tu sức, dựa trên đó, xây dựng cơ sở cho phái Araragi (A la la mộc) và tạp chí mang tên nầy. Dưới thời Meiji, hai nhà thơ tanka của nhóm Myôjô “Sao Mai” đă hoạt động mạnh mẽ dưới ảnh hưởng chủ nghĩa tự nhiên. Đó là Ishikawa Takuboku (Thạch Xuyên, Trác Mộc, 1886-1912) và Wakayama Bokusui (Nhược Sơn, Mục Thủy, 1885-1928). Thông qua chủ nghĩa tự nhiên, nhóm Myôjô hướng về khuynh hướng duy mỹ để gặp gỡ các nhà thơ Kitahara Hakushuu (Bắc Nguyên, Bạch Thu, 1885-1942) ,Yoshii Isamu (Cát Tỉnh, Dũng, 1886-1960) trong khi phái Araragi tiến về phía Saitô Mokichi (Trai Đằng, Mậu Cát, 1882-1953), một nhà thơ có khuynh hướng t́nh cảm, miêu tả sự vật và cảnh sắc một cách khách quan như nhà hội họa. Đến thời Taishô, trường phái Araragi là ḍng thơ chính nhưng Kitahara Hakushuu và Kinoshita Rigen (Mộc Hạ, Lợi Huyền, 1886-1925) đă lập ra tờ Nikkô (Nhật Quang) “Ánh Mặt Trời” để chống lại ảnh hưởng trường phái tả thực của Araragi cũng như của những nhà thơ đă thành danh. TIẾT IV : TANKA ĐỜI TAISHÔ TIẾT V : TANKA ĐỜI SHÔWA (TIỀN CHIẾN) Sự ra đời của tạp chí Nikkô (Nhật Quang, từ 1924) như đă nói, đă điểm hỏa cho ng̣i thuốc nổ. Trên thi đàn, không thiếu chi những lời phê b́nh phong cách viết tanka đă có. Một nhóm người đă muốn làm sống lại tanka bằng cách sử dụng văn nói khi sáng tác kiểu thơ cổ truyền này. Chỉ dùng văn nói để làm tanka vẫn c̣n chưa đủ v́ c̣n có sự phân chia các khuynh hướng như tanka định h́nh hay tanka thoát khỏi ràng buộc của âm luật, tanka theo khuynh hướng sinh hoạt hay khuynh hướng vô sản, khuynh hướng nghệ thuật. Những sự đối lập ấy cứ quanh đi quẩn lại không thôi. Phái vô sản có người đại diện là Nishimura Yôkichi (Tây Thôn, Dương Cát, 1892-1959) với tập tanka Midori no hata “Lá cờ xanh lục” (1929), và Watanabe Junzô (Độ Biên, Thuận Tam, 1894-1972) với Reppuu no machi “Con đường gió giật” (1929). Cả hai ông đều v́ cảm động khi đọc thơ Takuboku hay Aika mà chọn con đường văn học vô sản. Phái nghệ thuật th́ vẫn c̣n những nhà thơ lớp trước như Ishihara Jun và Maeda Yuuzuru tiếp tục hoạt động. Phong trào phục hưng tanka c̣n đi xa hơn nữa, đến nỗi trong nhóm Araragi đă có người lên tiếng chủ trương phải tiến đến việc làm thơ theo lối văn xuôi nữa. Để chỉ trích khuynh hướng này, Hakushuu (thành danh thời Taishô nhưng vẫn c̣n hoạt động mạnh trong giai đoạn Shôwa tiền chiến) cho ra mắt tạp chí Tama (Đa ma) “Tinh hoa” (1935), đề xướng chủ nghĩa tân lăng mạn (neo-romanticism) và gầy dựng những cây bút trẻ như Kimata Osamu (Mộc-mata [26], Tu, 1906-1983), tác giả Koshi [27]“Xứ Koshi” (1942), Oka Fumoto[28] (Cương, Lộc, 1877-1951) và Miya Shuuji (Cung, Shuu[29]+ Nhị, 1912-1986), tác giả Gunkei “Đàn gà” (1946). 1) Kimata Osamu (Mộc-mata, Tu, 1906-1983): Người tỉnh Shiga, thuở bé đă có thi tài, làm thơ gửi đăng báo nhi đồng Akai Tori “Con Chim Đỏ”. Sau theo học Kitahara Hakushuu, làm thơ với thi phong lăng mạn với ca tập “Xứ Koshi”. Sau thời chiến, ông chấp nhận quan điểm phê phán haiku hiện đại chỉ là một “nghệ thuật hạng nh́” của Kuwabara Takeo (1946) và bắt đầu chấn chỉnh lại cách làm thơ.Trong bài tuyên ngôn đăng trong số đầu của tạp chí Yakumo (1946) do ông sáng lập, ông viết: “Chúng ta hăy tranh đấu để phá vỡ cung cách phong kiến của các hội đoàn tanka, và với bối cảnh là sự hưng thịnh của văn học dân chủ hậu chiến, làm được một cuộc cách mạng trong thi ca”. Tạp chí rất nặng tay đối với những nhà thơ có thành tích cộng tác với chính quyền thời chiến, đ̣i hỏi nhà thơ tinh thần trách nhiệm, không được làm thơ chỉ để mua vui. Ông lập ra tờ Keisei “H́nh thành” và có các tác phẩm như Tôreki “Cuốn lịch mùa đông” (1948), Rakuyô no shô “Chương lá rụng” (1955) Aizen Mugen “Yêu đương khôn cùng” (1974). Kimata sẽ kế tục sự nghiệp của Hakushuu sau khi thầy mất, điều khiển tờ Tama và nghiên cứu lịch sử waka ( 1964) .
2) Kondô Yoshimi (Cận Đằng, Phương Mỹ, 1912-2006):
Kondô Yoshimi kêu gọi người viết tanka phải vượt tinh thần phe phái. Kondô Yoshimi là một trong những nhà thơ tanka dấn thân thời hậu chiến. Ông sinh ở Mă Sơn (Masan), Triều Tiên và lớn lên ở Hiroshima. Từ trẻ đă gia nhập nhóm Araragi và theo học Nakamura Kenkichi rồi Tsuchiya Bunmei. Học khoa kiến trúc Đại Học Công Nghiệp Tôkyô, ra trường hành nghề kiến trúc sư. Hoạt động thơ song song. Về thơ, đă thành lập nhóm “Nhóm những nhà thơ tanka mới” (Shin Kajin Shuudan) vượt lên trên phe phái. Năm 1948 ra mắt Sôshunka “Khúc mùa xuân sớm” và Hokorifuku machi “Phố bụi bay”. Lại thành lập tạp chí tanka Mirai “Tương Lai” , ra tập thơ Shizukana ishi “Ư chí lặng lẽ” (1951), Kurohyô “Báo Đen” (1968), viết hồi kư và nghị luận về thơ. Năm 1945, trong khi các nhà thơ tanka phần lớn đau khổ trước cảnh Nhật bại trận, Kondô viết: Chẳng hiểu tự khi nào, (Bài Itsu no ma ni, thơ Kondô Yoshimi) Khi mọi người giương cao, (Bài Yo wo agashi, thơ Kondô Yoshimi) 3) Miya Shuuji (Cung, Đông Nhị, 1912-1986):
Miya Shuuji, chủ trương đi t́m căn nguyên của sự vật qua thơ Người Niigata, lúc trên ghế trường Trung Học Nagaoka đă sáng tác tanka. Học xong đă sớm ra đời, giúp việc ở quán sách của gia đ́nh. Sau nhập môn Kitahara Hakushuu và hoạt động với tạp chí Tama. Năm 1939 ông đầu quân và đă kể lại kinh nghiệm chiến tranh ở Trung Quốc trong Sanseishô “Tỉnh Sơn Tây” (1949). Năm 1953, lập tạp chí tanka mang tên Cosmos và giữ vai tṛ điều khiển. Cái đặc sắc của thơ ông là khuynh hướng đi t́m căn nguyên của sự vật. Miya Shuuji có thi phong hắc ám, cô độc, t́m đến với Shaku Chôkuu và được ông nầy nh́n nhận tài năng. Cũng cần nhắc đến hai nhân vật có ca phong độc đáo tuy không lui tới sinh hoạt với ca đàn thời đó: Aizu Yaichi và Akashi Kaijin. 4) Aizu Yaichi (Hội Tân, Bát Nhất, 1881-1956): Người Niigata, biệt hiệu Thu Thảo Đạo Nhân. Thời trung học đă yêu thơ tăng Ryôkan (Lương Khoan) và thích đọc Man.yô-shuu. Bắt đầu làm thơ haiku nhưng sau chuyển qua tanka. Aizu chuyên dùng văn tự hiragana khi làm thơ. Là người nhiều tài, ông c̣n bước sang lĩnh vực lịch sử mỹ thuật và thư đạo (calligraphy) nữa. Aizu có Rokumei-shuu (Lộc minh[30] tập) “Nai kêu” 1940. 5) Akashi Kaijin (Minh Thạch, Hải Nhân, 1901-1939): Kaijin cũng rành về cả haiku, tanka và thơ mới, bị bệnh hủi phải chữa trị suốt 7 năm trong viện cho đến ngày chết. Kaijin để lại tập Shironeko “Con mèo trắng” (1939). TIẾT VI: TANKA THỜI SHÔWA (HẬU CHIẾN) Trong thời chiến tranh, hầu hết người làm tanka hoặc v́ sợ sệt không dám lên tiếng, đă giữ im lặng, hoặc có thái độ a ṭng với phía quyền lực nên khi chiến tranh kết thúc, ca đàn thường mang mặc cảm bất lực, nếu không nói là phạm tội đối với xă hội. Cho nên ta không lấy làm lạ nếu từ ngày hoà b́nh lập lại, không thiếu chi những người lên tiếng phủ nhận tanka. Usui Yoshimi (Cửu Tỉnh, Cát Kiến) chẳng hạn, viết Tanka e no ketsubetsu “Cắt đứt với Tanka” (1946), Ôno Tozaburô trong “Tanka teki jojô ni kôshite” đ̣i (Chống loại thứ t́nh tự kiểu tanka” (1947)…Một số người đứng ra ngăn chặn bớt lời buộc tội và đề nghị một điểm khởi hành mới cho tanka như nhà phê b́nh Kubota Masafumi (Cữu Bảo Điền, Chính Văn (sinh năm 1912) và Kimata Osamu qua việc cho ra mắt tạp chí Yakumo (Bát Vân, từ 1946). Hai ca nhân lăo thành là Saitô Mokichi và Shaku Chôkuu, bằng bài vở, đă đóng góp rất nhiều trong việc định một hướng đi mới cho tanka hậu chiến nhưng ca nhân có phong cách tượng trưng cho thời này là Kondô Yoshimi (Cận Đằng Phương Mỹ, 1913 - 2006), nhà thơ vừa nhắc ở trên, với tác phẩm Hokori fuku machi “Phố bụi bay” (1948). Khi cả Mokichi lẫn Chôkuu đều đă qua đời (1953), làng thơ bước vào giai đoạn thứ hai của văn học hậu chiến. Người ta thấy có những nhân tài mới đến với làng thơ tanka. Họ là những nhà thơ nữ như Nakajô Fumiko (Trung Thành, Fumiko) với Chibusa sôshitsu “Mất vú” (1954), Baba Akiko (Mă Trường, Akiko) với Hayabue (Tảo Địch) “Thét C̣i” (1955), Ubukata Tatsue (Sinh Phương, Tatsue, sinh năm 1905) với Shiroi kaze no naka de “Trong luồng gió trắng” (1957). Họ c̣n là những nhà thơ tanka tiền vệ (avant-garde) như Tsukamoto Kunio (Chủng Bản, Bang Hùng, sinh năm1922) đă viết Suisô Monogatari “Truyện đám táng dưới nước” (1951), Okai Takashi (Cương Tỉnh, Long, sinh năm 1928) viết Seishô (Tề Xướng) “Cùng hát lên” (1956), Terayama Shuuji (Tự Sơn, Tu Ty, 1935-1983) viết Sora ni wa hon “Sách có trên bầu trời ”(1958). Cùng với tác giả của Mokkei (Mặc ước, 1955) “ Hiểu ngầm” là Ueda Miyoji (Thượng Điền, Tam Tứ Nhị), tác giả của Shigosen no Mayu “Cái kén trên kinh tuyến chia đôi bầu trời” (1964) là Mae Toshio (Tiền, Đăng Chí Phu), hai ông Okai và Tsukamoto đă thành lập liên minh văn học lấy tên Seinen Kajin Kaigi “Nhóm những nhà thơ tanka trẻ” với mục đích cùng nhau đi t́m đường hướng cho tanka.
1) Baba Akiko (Mă Trường, Akiko, sinh năm 1928) : Nhà thơ tanka nữ Baba Akiko, cũng là nhà nghiên cứu và phê b́nh Người Tôkyô, tên thật là Iwata Akiko, v́ ảnh hưởng trong nhà, đă yêu thích thi tập Kokinshuu và Truyện Heike từ thuở nhỏ. Sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, sống bằng nghề dạy học. Tập thơ tanka Hayabue “ Thét c̣i ” (1955) mở đường cho đời làm thơ của bà. Sau đó bà c̣n xuất bản Chika ni tomoru hi “ Ngọn lửa cháy dưới ḷng đất ” (1959) Hikashô “ Tập thơ hoa bay ” (1972) Ôka denshô “ Truyền thống anh đào ” (1977). Ngoài ra c̣n viết b́nh luận và nghiên cứu (1969) về một nhà thơ nữ thời Heian, công chúa Shikishi. 2) Tsukamoto Kunio (Chủng Bản, Bang Hùng, sinh năm1922) : Tsukamoto Kunio t́m ra người hiểu ḿnh nơi Mishima Yukio Sinh ở tỉnh Shiga, năm 1947 trở thành học tṛ của Maekawa Samio (Tiền Xuyên, Tá Mỹ Hùng). Tác phẩm đầu tay Suisô Monogatari “ Một truyện thủy táng ” có khuynh hướng phản hiện thực nên không được mấy ai trên văn đàn, ngoại trừ Mishima Yukio, chú ư đến. Nhà văn này cho rằng “ Tsukamoto Kunio đă đem lại phẩm cách cho một ḍng thơ sắp sửa bị tiêu diệt ”. Sau đó, Tsukamoto dần dần được nh́n nhận như một cây bút tiền vệ (ngoài thơ ông c̣n viết cả tiểu thuyết). Cùng với Okai Takashi và Terayama Shuuji lập ra tạp chí Kyoku “ Cực ” (1960) đem phong cách mới mẽ đến cho tanka, sử dụng nhiều ẩn dụ và thiên về thẩm mỹ nhiều hơn là hiện thực. Có các ca tập Suigin Densetsu “ Truyền thuyết thủy ngân ” (1961), tiểu thuyết Konjô no wakare “ Cuộc chia tay màu xanh ” (1972) v.v... Sau đây là những vần thơ hiểm hóc ấy mà trong đó Tsukamoto thường dẫn ra những khái niệm về Công Giáo và tên tuổi văn nhân nghệ sĩ phương Tây : Những cái lưỡi màu hồng, Sinh nhật Lautréamont.[31]
Cocteau[32]
đă chết rồi, Cho dù có Đức Chúa, (Bài Panya kamado ni “ Trong ḷ bánh ḿ ”, thơ Tsukamoto Kunio) 3) Okai Takashi (Cương Tỉnh, Long, sinh năm 1928) : Người tỉnh Aichi, tốt nghiệp y khoa Đại Học Keiô, vừa là bác sĩ vừa là nhà thơ. Cha mẹ đều là nhà thơ tanka. Năm 1945, ông tham gia nhóm Araragi và học thơ với Tsuchiya Bunmei. Đă từng sáng lập tạp chí tanka Mirai với Kondô Yoshimi và Kyoku với Tsukamoto và Terayama. Tác phẩm đầu tay tựa đề Seishô “ Cùng hát lên ” (1956) đă có phong cách tiền vệ. Về sau, lại viết Kinki no kôshoku “T́nh cấm ” (1982), Kyuuden “ Cung điện ” (1991) và một số tập b́nh luận về tanka, đặc biệt thơ Saitô Mokichi. Thơ của ông gần với văn nói hơn Tsukamoto, không “ khiêu chiến ” với truyền thống và có vẻ dể hiểu hơn. Có vẻ thôi ! : Không ! Tại sao không ? (Bài Non, naze ?, thơ Okai Takashi) TIẾT VII : MỘT THOÁNG NH̀N VỀ TANKA ĐƯƠNG ĐẠI : Cuộc đấu tranh chống hiệp ước an ninh hỗ tương giữa Nhật và Mỹ đă để lại dấu vết thời đại trong tác phẩm của rất nhiều thi nhân tanka, ví dụ như Kishigami Daisaku (Ngạn Thượng, Đại Tác, 1939-1960) và Sasaki Yukitsuna (Tá Tá Mộc, Hạnh Cương). Kishigami viết Ishi Hyôji ”Bày tỏ ư chí” (1961) trước đó, đă treo cổ tự tử trong lúc c̣n ngồi trên ghế đại học cũng là thời điểm cao trào chống hiệp ước Nhật Mỹ lên cao. Cùng thế hệ với họ có Kasuga Iken (Xuân Nhật, Tỉnh Kiện (sinh năm 1936) với tác phẩm Miseinen (Vị thành niên, 1959) . Sasaki về sau c̣n được chú ư nhờ sáng tác Gunrei (Quần Lê ) “Nhân dân” (1970). Tawara Machi (Biểu, Vạn Trí, sinh năm 1962)
Tawara Machi, tác giả tập tanka ăn khách “Ngày Lễ Rau Xà Lách” Từ năm Shôwa 62 (1987), có khuynh hướng dùng ngôn ngữ hàng ngày, văn tự katakana[33] và những tiếng nghĩ âm (onomatopoeia) và cứ để nguyên mà viết tanka, nhất là đụng chạm đến những đề tài có tính cách gây bùng nổ như phong cách của Tawara Machi (Biểu, Vạn Trí trong Sarada Kinenbi “Ngày lễ rau xà lách”. Về phương diện sử dụng văn nói tài t́nh để làm thơ, có người xem bà không kém cả Ishikawa Takuboku và thường được ví với nhà thơ tanka nữ Yosano Akiko. Bà sinh ở Ôsaka và từng theo học ở Đại Học Waseda. Trong lúc c̣n đi học, được quen biết với Sasaki Yukitsuna (Tá Tá Mộc, Hạnh Cương) và bắt đầu làm thơ đăng trên tạp chí Kokoro no Hana “Hoa Tim”. Năm 1986, xuất bản ca tập Hachigatsu no asa “Một buổi mai tháng tám”gồm 50 bài và được giải Kadokawa về tanka của nhà xuất bản cùng tên. Sau đó là “Ngày lễ rau xà lách”, tác phẩm gồm 434 bài thơ rất ăn khách ( 2 triệu cuốn) v́ đă biết dùng ngôn ngữ của văn nói để diễn tả những t́nh cảm luyến ái nhẹ nhàng của một phụ nữ trẻ (thơ nhẹ nhàng = light verse) , bắt mạch đúng nhu cầu thời đại của những người gọi là “con người mới” (shinjinrui). Bởi v́ nghe anh nói: (Trong Sarada Kinenbi, thơ Tawara Machi, 1988) Ngoài ra bà c̣n dịch Truyện Ise và tập thơ Midaregami “Tóc rối” của Yosano Akiko ra văn mới. Hai tập thơ Kaze no te no hira “Ḷng bàn tay của gió” (1991) và Chôkoreto Kakumei “Cách mạng xô cô la” (1997) và tập tùy bút Yotsuba no essei “Tập b́nh luận lá bốn cánh”(1988) là những tác phẩm khác cần được nhắc đến. Tạm Kết : Tanka đương đại đă nối tiếp được ḍng Waka cho đến giữa ḷng thế kỷ 20 với tất cả sự tươi mát và hăy c̣n nối tiếp. Có thể xem waka là một trong những ḍng thơ dài lâu nhất của lịch sử loài người. Waka c̣n là một điểm tựa chắc chắn để người Nhật t́m về nguồn cội văn hóa của dân tộc ḿnh trước khi có sự xâm nhập của văn hóa Hán. [1] Hosokawa Yuusai là vũ tướng đă thờ tướng quân Ashikaga Yoshiaki, sau lại theo phục vụ Nobunaga, Hideyoshi và Ieyasu, ba người anh hùng thống nhất Nhật Bản. Có giai thoại kể khi ông bị tướng Ishida Mitsunari bao vây thành tŕ, đă có chiếu chỉ bắt Ishida phải giải ṿng vây để khỏi làm hại ông v́ ông là người hiện giữ bí truyền của thơ Waka. Ông để lại tập thơ “ Lẽ Trời Đất ” (Shuumyôshuu = Chúng Diệu Tập). [2] Kinoshita Chôshôshi vốn là cháu của Hideyoshi, được phong giữ thành Kohama.Từ sau trận Sekigahara (1600), ông về ẩn dật ở Kyôto. Để lại tập thơ “ Mời Rượu ” Kyohaku-shuu (Cử bạch tập). [3] Trong waka truyền thống có nhiều ràng buộc hạn chế ví dụ phép seishi (chế từ), kinshi (cấm từ) nghĩa là một số chữ không nên dùng hay cấm dùng trong thơ như thấy nhắc đến trong tác phẩm lư luận về waka của Fujiwara no Tameie (Đằng Nguyên Vi Gia). [4] Toda Mosui không để lại tập thơ nào nhưng có nhiều bài hay lưu truyền. C̣n có hiệu là Kakureka no Mosui (Ẩn Gia Mậu Thụy) [5] Tức là cách làm thơ của phái Nijô theo truyền thống thầy truyền cho tṛ của Hoshikawa Yuusai. Chữ Dôjôha (Đường thượng phái ) c̣n đọc là Tôshôha là trường thơ waka cao cấp của hạng công khanh, dùng để phân biệt với Jigeha (Địa hạ phái), môn phái waka tuy cũng bắt nguồn từ Yuusai nhưng có màu sắc dân dă, do Matsunaga Teitoku chủ xướng. [6] Shimokôbe Chôryuu (1626-1686) có để lại tập “ Hoa Nở Muộn ” (Banka-shuu = Văn Hoa Tập). [7] Ozawa Roan (1723-1801) lúc đầu đi theo phiên Inuyama ở Owari ( Aichi, gần Nagoya bây giờ ), sau học Waka với Reizei Tamemura (Lănh Tuyền, Vi Thôn) nhưng từ bỏ môn phái. Lư luận về thi ca, ông có “ Đường giữa ngày xưa ” (Furu no nakamichi) và thi tập có “ Sáu thếp ca vịnh ” (Rokujô Eisô = Lục thiếp vịnh thảo) [8] Kagawa Kageki (1768-1843), vũ sĩ cấp bậc thấp thuộc phiên Tottori. Lên Kyôto, làm dưỡng tử (lấy vợ và theo họ vợ ) nhà Kagawa, một gia đ́nh có tiếng về Waka nhưng sau đó ly hôn. Để lại tập “ Một cành vườn quế ” (Keien Isshi = Quế viên nhất cxhi) [9] Trường phái này do học tṛ của Kamo no Mabuchi chủ xướng. [10] Xem Joan Titus-Carmel, Les 99 Haiku de Ryôkan, Verdier, Dijon, France, 1989. [11] Những bài ca ngắn tương truyền do một nhà sư người vùng Sakai (Giới) gần Ôsaka tên là Takasabu Ryuutatsu (Cao Tam, Long Đạt) đầu tiên đă viết trong khoảng năm Bunroku (Văn Lộc), Genchô (Nguyên Trường ) (1592-1615) [12] Tập bài hát do nhà biên tập Shushô Ken (Tú Tùng Hiên) soạn (không ai biết chi tiết về nhân vật nầy) , in ra vào năm Genroku 16 (1703), thu thập những bài hát được lưu hành rộng răi trong dân chúng. [13] Nguyên lai có nghĩa là chi phái Jôruri theo cách kể truyện của Miyako Bingo no Jô (Cung Cổ Phong Hậu Duyện (1660-1740) trước từ Kyôto- Ôsaka dời xuống Edo và lập ra ở đó. Ca khúc gọi là Bungo no Bushi có nội dung dâm đăng lẳng lơ nên bị Mạc Phủ đàn áp, cấm lưu hành. [14] Dôjôha phát xuất từ môn phái Nijô (xin xem thêm phần thi ca trung cổ), tiếp nối với Hosokawa Yuusai (Tế Xuyên U Trai, 1534-1910), dựa trên Kokin-shuu nhưng thơ có khuynh hướng cao sang. [15] Keienha là phái của Kagawa Kageki (Hương Xuyên, Cảnh Thụ, 1768-1853) cuối thời Mạc Phủ. Cũng dựa trên Kokin-shuu do Ki no Tsurayuki biên tập nhưng chuộng thơ b́nh dị. [16] Theo Shiki trong Utayomi ni atauru sho “Sách để thưởng thức tanka”, th́ “ Tsurayuki làm thơ dở và tập Kokin không ra ǵ cả ”. [17] Cần phân biệt với chiến tranh Nhật Thanh (1894-95). [18] Kiểu thơ ẻo lả, nhu ḥa của Kokinshuu và các tập thơ soạn theo sắc chiếu về sau, khác với giai điệu hùng tráng, “ nam nhi ” (masuraoburi) của Man.yô-shuu mà Tekkan cho là lư tưởng. [19] Câu đầu trong sách Senjimon (Thiên Tự Văn), một tác phẩm để học chữ Hán ở Nhật cũng như Tam Tự Kinh đối với người Việt Nam đời xưa. “ Thiên địa huyền hoàng, Vũ trụ hồng hoang ” ư nói lúc tạo thiên lập địa. [20] Gọi là lan tím nhưng hoa murasaki cánh màu trắng, rễ mới tím. [21] Oka Fumoto có tập Niwakoke “ Rêu sân ” đậm đà phong vị, tiêu biểu cho nghệ thuật diễn tả “ shasei ”. [22] Sau nầy lần lượt có thêm các tạp chí Akane và Araragi (từ 1908). Akane (thiến, madder) là tên một loại cây có rễ dùng làm thuốc nhuộm màu đỏ. [23] Araragi, tên một loại lan một loài hoa thuộc họ Azalea (hoa đỗ quyên).Tạm dịch sang từ tiếng Anh Japanese Andromeda, mang tên nữ thần Andromeda trong thần thoại Hy Lạp. [24] Có nghĩa là một loại hoa lan. C̣n là tên gọi cây thủy tùng Nhật Bản (Japanese Yew). [25] Keene, Donald, Dawn with the West, quyển 4 trang 66- 67. [26] Mata = quốc tự của Nhật, không có âm Hán tương xứng, ư là phân nhánh. [27] Tên đất cũ ven biển Nhật Bản, Koshi (Cao Chí) chỉ phần lớn vùng Niigata bây giờ. [28] Oka Fumoto có tập Niwakoke “ Rêu sân ” đậm đà phong vị, tiêu biểu cho nghệ thuật diễn tả “ shasei ”. [29] Tên một loại cây (Mộc+ Đông), không thấy âm Hán tương xứng.Tên Nhật là hiiragi tức cây ô-rô để trang hoàng trong dịp giáng sinh ( holly tree). [30] Chữ trong Kinh Thi chỉ thơ văn làm lúc yến ẩm. Thời Meiji ở Tôkyo có Lộc Minh Quán, chỗ để tiếp tân nổi tiếng. [31] Nhà thơ người Pháp tên thật là Isidore Ducasse (1846-1870), làm thơ tản văn có những h́nh ảnh huyễn hoặc kỳ quái. Tự xưng là bá tước. [32] Jean Cocteau (1889-1963), nhà thơ và nghệ sĩ đa tài người Pháp, nổi tiếng trong nhiều lănh vực kể cả tạo h́nh. [33] Văn tự phụ hiện chỉ dùng để phiên âm tiếng nước ngoài.
* Nguyễn Nam Trân : Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com ......................... ®
"Khi phát hành lại bài viết của
trang này cần phải có sự đồng ư
của tác giả |