|
|
TÂM T̀NH GỬI BẠN PHƯƠNG XA (II) (Ikoku No Yuujintachi Ni)
Nguyên tác: Endo Shusaku Dịch: Nguyễn Nam Trân
Nụ hôn ngày Paris giải phóng (ảnh 1945)
I- Tokyo, Thành Phố Hay Hay Dở? (Tokyo: The Mongrel City)
Mong là các bạn Pháp đừng phiền khi tôi nói ḿnh không thích thành phố Paris hiện tại chút nào, cái thành phố đă được Tổng trưởng André Malraux[1] cho chùi rửa đến trắng phau đó. Theo tôi nghĩ, chỉ có Paris, thành phố đen đủi và ám khói 40 năm về trước, thời tôi sang du học, mới là nơi đầy thi tứ và có sắc màu hội họa. Hồi tưởng ngày từ Paris về lại Tokyo, tôi thấy thành phố quê nhà sao mà xấu xí đến thế. Nó chỉ mới được tái thiết đôi chút từ đống tro tàn do ngọn lửa chiến tranh. Dưới mắt một thanh niên vừa được ngắm Paris và những đô thị bên trời Âu, tôi thấy nó quá hỗn độn và vô trật tự. Từ cách nh́n đó, quả t́nh Tokyo không có ǵ đáng để tôi gọi là thành phố đẹp! Thế rồi, vào một trong nhiều chuyến đi đưa tôi trở lại châu Âu, tôi t́nh cờ nghe được một mẫu đối thoại giữa cô tiếp viên hàng không và một bà hành khách người Pháp. Khi bà ấy hỏi: - Cô thấy Tokyo thế nào? Cô tiếp viên đă trả lời: -Một thành phố xô bồ, không có ǵ hấp dẫn! Ngồi sát bên và nghe họ nói chuyện với nhau như thế, nhưng buồn thay, tôi chỉ biết đồng ư với nhận xét của cô. Trước thời chiến tranh, ở Tokyo hăy c̣n những nơi có cái thi vị riêng của nó. Ngay Paul Claudel[2], nhà thơ nổi tiếng từng là Đại sứ của Pháp tại Nhật, đă phải công nhận điều đó! Tôi nghĩ phần lớn các bạn ngoại kiều sống ở đây khi đọc trang báo này có thể đồng ư là Tokyo chỉ gây ấn tượng bởi sự to lớn chứ không phải thi vị của nó. Nhưng chính điều đó lại khiến tôi đâm ra chờ đợi những phản hồi của bạn đọc ngoại quốc để biết rằng họ cũng t́m được ở Tokyo những điều họ bằng ḷng. Riêng phần tôi th́ tôi cảm thấy Tokyo, cái thành phố đáng chán của những ngày c̣n trẻ, cùng với tuổi tác của tôi, dần dần trở thành một nơi đáng yêu thích. Ngay đến bây giờ, tôi vẫn chưa có thể cho rằng Tokyo là một thành phố đẹp. Dù vậy, tôi vẫn nghĩ nó là một nơi hết sức thú vị (dù cũng như các bạn ngoại quốc, một người Nhật như tôi đă phải bực bội khi thấy vật giá cũng như giá đất giá nhà ở đây tăng cao ngất ngưởng). Tokyo đúng là một món sukiyaki với nhiều thức ăn trộn lẫn. Thế nhưng, chính v́ cái vô trật tự và hỗn tạp ấy mà món ăn nói trên mới thấy ngon miệng.Trên sân thượng của bin-đinh nơi tôi làm việc, có một ngôi đền thờ thần Inari nhưng không ai than phiền là nó không nằm đúng chỗ. Bạn không thể thấy một quang cảnh như vậy trên sân thượng một bin-đinh ở New York. Nó giống như cảnh bạn có thể gặp một đền thờ Thần đạo nằm ngang nhiên trong khuôn viên một ngôi chùa Phật giáo, cảnh tượng nhan nhản khi bạn đi về các địa phương bên Nhật.Trong mọi nơi mọi chốn ở Tokyo, và trong mọi khía cạnh của cuộc sống, những sự dàn xếp vô trật tự và nghịch lư như thế này đă được đám đông khoan dung chấp nhận. Ông Katô Shuuichi[3], học giả mà tôi tôn kính, đă dùng chữ “Đa tạp” (Mongrel) để gọi hiện tượng này, vốn xuất hiện trong mọi ngơ ngách của Tokyo và làm nên năng lượng đặc biệt của thành phố. Phẩm chất này th́, cùng với tuổi đời, tôi càng ngày càng thấy rơ ràng hơn và cũng thú vị hơn. Dù với tính cách “Đa tạp” của nó, ở một ư nghĩa nào đó, người Nhật vẫn tỏ ra khép kín và bài ngoại. Có những người bạn ngoại quốc tỏ ra giận dữ khi thốt lên: “Người Nhật luôn luôn chủ trương là dân ngoại quốc không thể nào hiểu những ǵ của Nhật Bản, ngoài ra họ c̣n xem người ngoại quốc chúng tôi là một lũ đầu óc bất b́nh thường (henna gaijin)” . Những lời ta thán ấy nhiều khi đă làm tôi phải cứng họng. Thế th́ đâu là điểm liên kết giữa tinh thần “Đa tạp” vừa kể và tinh thần “Khép kín, bài ngoại” kia? Đây là một vấn đề lớn mà tôi hy vọng có dịp triển khai thêm trong những trang báo tiếp theo. (Illness In A Foreign Land) Khi c̣n là sinh viên ở Pháp, tôi có lần ốm và phải nhập viện. Tôi nhớ lúc đó ḿnh đă lo lắng hết sức v́ không biết giải thích thế nào cho bác sĩ chi tiết các triệu chứng tôi có. Ví dụ có một người than đau bụng nhưng bao nhiêu thứ đau bụng có thể đến trên thân thể con người, từ những cơn đau dữ dội cho đến những cơn đau âm ỉ hay kéo đến từng đợt. Những trạng thái khác nhau của cái đau đều là thông tin cần thiết cho bác sĩ khi chẩn đoán bệnh lư. Nhưng lúc ấy, là một người nước ngoài trên đất Pháp, tôi không biết diễn tả cách nào cho phù hợp. Ở Nhật, những kiểu nói “đau như ai thắt” hay “đau như dao cắt” là cách diễn tả có hiệu quả khi tŕnh bày trạng thái đau đớn của ḿnh cho bác sĩ. Thế nhưng khi ở nước ngoài, hỏi ta có cách nào? Trong trường hợp của tôi, trước khi đến gặp bác sĩ, tôi đă phải tra cứu rất nhiều trong từ điển. Từ một vài năm nay, tôi đă bắt đầu hoạt động trong một phong trào gọi là “Hỗ trợ tinh thần bệnh nhân” trong các nhà thương Nhật Bản. Ngày nay, với sự trợ lực của các bác sĩ, khán hộ và các bà nội trợ, chúng tôi đă gầy dựng được một mạng lưới để làm việc đó. Tôi không khỏi đặt câu hỏi “Đối với những người ngoại quốc sống trên đất Nhật, khi ốm họ phải làm sao?”. Tuy nhiên, ngày nay, nhiều vị bác sĩ Nhật đă có cơ hội du học ở Mỹ, cho nên ngôn ngữ không c̣n là rào cản như trước. Dù vậy, khi đề cập đến những thông tin chi tiết hơn về bệnh trạng của họ, có lẽ các bạn ngoại quốc sẽ vấp phải muôn vàn khó khăn, giống như hoàn cảnh của tôi thời là một sinh viên trao đổi ở Pháp. Những con bệnh không nói được tiếng Anh sẽ c̣n chịu thêm nhiều thua thiệt khi phải giao tiếp với các bác sĩ và khán hộ Nhật Bản. Tôi biết ở Tokyo có những bệnh viện đặc biệt dành cho người ngoại quốc. Nhưng các bậc cha mẹ người nước ngoài biết làm sao khi con cái họ đột ngột lâm bệnh? Tôi cũng muốn hỏi các bác sĩ có đối xử với họ một cách tế nhị và thân thiện hay không? Một người bạn của tôi nói lưu loát cả tiếng Anh tiếng Pháp đang làm công việc thiện nguyện, hay đến nói chuyện và giúp đỡ những con bệnh ngoại quốc neo đơn nằm trong các bệnh viện ở Tokyo. Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi thông cảm được sự cô đơn của những con bệnh khi lưu ngụ trên xứ người. Nhiều người ngoại quốc trong khi du lịch hay sống ở Nhật Bản đă có lần đau ốm và được chữa trị bởi các bác sĩ ở đây. Tôi tin rằng họ có những ư kiến cá nhân về việc họ được chữa trị hay tiếp đăi như thế nào. Tôi muốn nghe những điều ấy từ phía họ! Dĩ nhiên, tôi biết câu trả lời tùy từng trường hợp sẽ rất đa dạng. Nó cũng giống như ư kiến của từng cá nhân chúng ta, v́ ở đời đâu thể có một chân lư tuyệt đối. Dù vậy, nếu việc chữa trị người ngoại quốc sinh sống ở Nhật Bản là mối quan tâm của mọi người, tôi mong được viết về nó trên các trang báo Nhật và t́m những phương pháp giúp họ nhận được sự chăm sóc y tế mà không phải lo lắng. Tôi rất vui nếu được nhiều phản hồi từ quí độc giả. Tôi cũng mong ḿnh sẽ góp phần vào trong việc gây dựng một khung cảnh thân thiện trong các cơ quan y tế Nhật Bản, để cho các bạn ngoại quốc không c̣n bị ám ảnh bởi những h́nh ảnh tiêu cực khi ngả bệnh trên nước này. III Phản Ứng Trước Việc Chữa Trị (Responding to Medical Treatment) Trước tiên, cho tôi được cảm ơn bạn đọc.Trong mục này, tôi vừa nói đến trường hợp người nước ngoài “ốm đau ở Nhật” và đặt câu hỏi cho các độc giả ngoại quốc về kinh nghiệm của chính họ cũng như những điều ǵ họ đi t́m khi được chữa trị tại đây Tôi đă nhận được rất nhiều thư trả lời. Dù tôi muốn viết thư riêng để cảm ơn từng người một nhưng tôi rất tiếc là đă không đủ phương tiện. Thay vào đó, tôi muốn mượn cột báo này để nói cho quí vị hay rằng tôi đă đọc từng lá thư một và rất kỹ càng cũng như đă hết sức cảm động mỗi người trong các vị đă cho tôi những thông tin quí báu có dịp tiếp cận chủ đề “việc chữa bệnh ở Nhật Bản”. Lá thư đến từ một kiều bào Pháp sinh sống ở Nhật nhưng gốc gác Lyon, đặc biệt đă làm tôi vui v́ nó gợi cho tôi không biết bao nhiêu kỷ niệm của quăng đời du học thời trẻ. Cô ấy cho biết là cô được chữa trị tại Nihon Ichidai Daigaku Byôin (nhưng theo nhà biên tập th́ phải là Nihon Ika Daigaku Byôin tức Bệnh viện trực thuộc Đại học Y Khoa Nhật Bản) ở vùng Musashi Kosugi, phía Tây Tokyo. Câu sau đây tôi đă chép lại nguyên văn lời lẽ trong thư, (Tôi mạn phép dấu tên tuổi thật của cô v́ tôi vẫn chưa thông báo cho cô là tôi sẽ công bố nội dung của bức thư): “Tôi cảm thấy mọi người luôn luôn tỏ ra lo lắng và làm tất cả mọi điều tốt nhất v́ sức khỏe của tôi. Tôi hoàn toàn tin tưởng vào các bác sĩ và các cô khán hộ, bởi v́ họ lúc nào cũng lễ phép và chuyên nghiệp, ngay cả lúc tôi không thể diễn tả cái đau của tôi một cách chính xác. Họ đă t́m ra ngay chứng bệnh dù đó là một ca có thể gọi là hiếm có”. Khi đọc được những lá thư như thế, với tư cách là một người Nhật, tôi hết sức sung sướng. Thế nhưng không phải nội dung lá thư nào cũng ngọt ngào như thế cả. Nhiều bức hàm chứa những điều cay đắng họ gặp phải và đă gây ra bởi rào cản ngôn ngữ. Theo ư tôi, các bệnh nhân người nước ngoài phải biết chắc để thông báo cho nhau vị bác sĩ nào là người có thể nói tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức hay tiếng Tây Ban Nha -ít nhất là vị nào có thể nói được tiếng Anh. Ở các bệnh viện trực thuộc Đại học hay những bệnh viện lớn đều có nhiều bác sĩ được đào tạo ở Âu Mỹ cho nên trong việc tiếp xúc, trở ngại về ngôn ngữ không phải là điều không thể vượt qua. Thế nhưng trong trường hợp Khẩn cấp (Emergency) khi bệnh nhân phải tức tốc đi khám một bác sĩ gần nhất, là lúc các khó khăn sẽ xuất hiện. Chẳng những thế, việc trao đổi thông tin với một nha sĩ cũng có thể trở thành vấn đề nếu nha sĩ đó không hiểu tiếng Anh. Một bệnh viện mà tôi có thể bảo đảm cho các bạn về “sự quan tâm và chất lượng” là Bệnh viện Kitasato (Kitasato Institute Hospital)[4] trong khu Minato ở Tokyo. Một phần cũng vị vị giám đốc ở đây là một người Công giáo và luôn luôn khuyên bảo nhân viên của ông là khi chăm sóc bệnh nhân phải hết sức nhẹ nhàng và ưu ái . Bệnh viện này không chỉ chữa trị các bệnh nhân bằng Âu dược mà c̣n cả các loại dược phẩm cổ truyền của Đông phương. Họ có một phân viện chuyên môn về Đông y, nơi đây những phương pháp chữa trị c̣n bao gồm cả châm cứu. IV- Đ̣i Hỏi Của Các Cô Gái Nhật Về Người Cha: (Japan’s Demanding Daughters) Hôm nay, tôi xin phép bàn về một đề tài ngoài luồng một chút. Gần đây, tôi có đọc một quyển sách (vừa được nhà xuất bản Takeuchi Shobô phát hành) trong đó có 30 lá thư của các cô gái Nhật Bản gửi cho cha ḿnh. Rất tiếc là sách chưa được dịch ra tiếng Anh. Ba mươi bức thư đó hé lộ cho ta thấy cách những cô gái trong gia đ́nh Nhật Bản b́nh thường nghĩ ǵ về người cha của họ. Sở dĩ tôi ṭ ṃ muốn biết nội dung của quyển sách ấy là v́ bản thân tôi không có con gái. Ngoài ra, có lẽ v́ tôi thấy đám bè bạn của tôi thường tỏ ra đau khổ trong ngày lễ vu quy của con gái họ, nhiều khi c̣n mục kích cảnh họ lặng lẽ chùi nước mắt ngay trên bàn tiệc. Nó làm cho tôi muốn t́m hiểu xem những người cha Nhật Bản đă cưng chiều con gái họ đến mức nào? Thế nhưng khi đọc quyển sách nói trên, tôi lấy làm lạ khi thấy các cô gái ở độ tuổi từ 15 đến 20 ở Nhật đă có những cái nh́n nghiêm khắc, tiêu cực và thù địch đối với người cha của họ. Chẳng hạn: “Bố yêu dấu, “Hôm nay, cũng như thường lệ, bố đă đi đến sở làm với cái bụng phưỡn trong bộ đồng phục tư chức hăng buôn (salaryman) xám như bộ lông chuột, Con khuyên bố đừng uống nước tăng lực Yunker (tên một thức uống mà gia đ́nh nào cũng biết đến nhờ xem quảng cáo) ở các máy bán hàng tự động nữa. C̣n như khi về nhà, con lúc nào cũng thấy bố, một là xem TV, hai là đang lầu bầu trách móc từ chuyện này đến chuyện nọ. “Lúc nào bố cũng nghĩ là ḿnh đúng và không bao giờ nghe ư kiến của con. Một khi bố đă quyết định chuyện ǵ rồi, bố không bao giờ chịu đổi ư. Đứng trước bố, con cứ phải sợ hăi như đứng trước một ông thần bí ẩn và luôn luôn lo lắng để khỏi phải chuốc lấy cơn thịnh nộ của bố. Do đó, con không muốn ở một ḿnh bên cạnh bố. “Khi về đến nhà, lúc nào con thấy bố cũng mệt mỏi. Đôi khi con thấy bố say xỉn trong khi bố không hứng thú ǵ với việc uống rượu.” Giữa những ḍng chữ khắt khe này, tôi thấy hiện ra h́nh ảnh của một ông salaryman “mê mải với công việc” (workaholic) trong bối cảnh một nước Nhật sung túc, nơi có những người cha mệt mỏi và đă phải trông cậy vào các loại nước tăng lực để có thể gồng ḿnh làm việc. Qua những lời lẽ tàn nhẫn trong thư, họ đă trút hết những cơn giận dữ, ta không t́m đâu ra một nét của “người đàn ông lư tưởng” nào nơi cha họ. Thường th́ các cô gái ở độ tuổi này hay đi t́m mẫu người đàn ông lư tưởng qua h́nh ảnh của cha ḿnh, nhưng v́ họ không t́m ra h́nh ảnh nào nơi người cha thực sự, các cô ấy đă cảm thấy bị tổn thương và đánh mất niềm tin. Dù sao, một khi bước qua cái tuổi 20, cơn giận dữ của các cô gái Nhật cũng có phần dịu lại. Lư do là lúc đó, họ không c̣n cần đi t́m mẫu người đàn ông lư tưởng nơi cha ḿnh sau khi họ đă có bạn trai hoặc đă đính hôn. Có một bức thư viết như sau: “Từ khi con đi làm, con đă hiểu được những điều cay đắng mà bố đă gặp phải ở ngoài đời. Kể từ đó, con thông cảm với bố hơn, nhưng bây giờ, con c̣n biết nói ǵ đây!. Trong khi đó, một bức khác đă hồi tưởng: Trước hôm về nhà chồng, con đă không có cơ hội để trịnh trọng bày tỏ sự cảm ơn đối với bố. Thế nhưng xin bố biết cho rằng, trong ḷng, con đă tha thứ hết cho bố”. V́ giới hạn của số trang, tôi chỉ có thể đưa lên mặt giấy một vài thí dụ. Nhưng dù sao, chúng cũng đă tóm tắt được tâm t́nh của những cô gái trẻ trước mặt cha ḿnh, tâm lư của họ cũng như những sự tiến triển của nó, Sau khi đă đọc xong quyển sách này, tôi hết sức muốn được đọc những bức thư của các cô gái những nước khác muốn gửi đến người cha của họ. Và lúc đó, ṭa báo The Daily Yomiuri có thể nào đăng giúp những bức thư đó không? Nếu suy ra từ thí dụ của quyển sách này, tôi có cảm tưởng là các cô gái Nhật muốn cha họ xử sự theo khuôn mẫu của các người cha bên Mỹ hay những quốc gia ngoài Nhật Bản, nghĩa là những người “biết hài hước, thích thể thao và có sự cảm thông”. Để tôi xem, qua những bức thư ấy, cha của các bạn có thật sự như thế chăng, hay lại giống h́nh ảnh đáng tội nghiệp của một người cha Nhật Bản? V Một Liên Hệ Gia Đ́nh Đặc Biệt (Japan’s Unique Family Unity) Tôi xin phép tiếp tục chủ đề “Bệnh viện Nhật Bản” trong trang báo này. Khi có cơ hội là tôi bèn nói hay viết cho những vị giám đốc, ban quản lư các bệnh viện hay những quan chức trong Bộ Y Tế và Bảo Hiểm Xă Hội về những điều tôi mong được họ làm cho các bệnh viện. Một trong những yêu cầu của tôi là muốn có chỗ làm nơi tạm trú cho thân nhân của con bệnh đang nhập viện để họ có thể qua đêm ở bệnh viện. Ít nhất là phải có phương tiện giúp họ có thể ngủ nghỉ. Các độc giả ngoại quốc cư ngụ ở Nhật có thể ngạc nhiên trước đề nghị đó. Sau thời chiến và nhiều năm về trước, với một định chế gọi là “Hệ thống chăm sóc toàn diện” (Complete Nursing System) của Bộ Xă Hội dưới sự chỉ đạo của Lực Lượng Chiếm Đóng Mỹ (G.H.Q.), đă có qui tắc là thân nhân của con bệnh không được phép qua đêm ở bệnh viện. Tuy rằng việc đôi lúc thân nhân được vào bệnh viện để thăm nom con bệnh (mimai) là một tập quán có khắp nơi trên thế giới, nhưng ở nhiều quốc gia, việc cho phép thân nhân ngủ lại trong bệnh viện (shukuhaku) lại bị xem như là một điều bất thường. Dù sao, người Nhật Bản vẫn muốn có phương tiện để qua đêm trong bệnh viện và điều này đến từ mối liên hệ gia đ́nh giữa họ, vốn khác với văn hóa những nước khác. Trong những cuộc thăm ḍ dư luận, đa số những người cao niên Nhật Bản khi được hỏi: “ Ông (hay bà) muốn được chết ở đâu?” đă trả lời: “Ở nhà ḿnh và bên cạnh những người thân”. Tuy nhiên, đối với hầu hết cư dân Tokyo, mong ước này là một điều không thực tế, nếu xét đến điều kiện sinh hoạt ở thủ đô vào thời buổi này. V́ nạn thiếu thốn nhà cửa đất đai nên chỉ có một số ít là có đủ không gian sống như pḥng riêng và thiết bị dành cho thân nhân đang mắc bệnh. Đó là một thực tế phũ phàng của Nhật Bản ngày nay cho dù quốc gia này được xem như một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới. Dù sao, kết quả cuộc thăm ḍ dư luận này đă là một động cơ khiến tôi muốn điều tra xem tại sao những người cao niên ấy, lúc chết lại muốn được ở nhà ḿnh và có thân nhân quây quần chung quanh. Dĩ nhiên là trong những quốc gia khác, họ cũng có những mối liên hệ gia đ́nh rất mật thiết. Thế nhưng tôi e rằng không nơi đâu mà số người cao niên lại thường xuyên phát biểu mong được chết ở nhà và bên cạnh thân nhân của ḿnh lại đông đến thế! Có thể một trong những nguyên nhân của sự dị biệt này là người Âu Mỹ thường suy nghĩ rằng mỗi con người đều có một cuộc sống riêng tư và ông (hay bà) ấy phải chịu trách nhiệm về nó như một cá nhân. Một lư do khác có lẽ người Âu Mỹ đa phần là tín đồ Cơ Đốc Giáo. Về điểm này th́ người Nhật vẫn chưa sẵn sàng để sống lẻ loi và một ḿnh chịu trách nhiệm về cuộc đời của ḿnh. Thế nhưng, muốn cho chính xác hơn, có lẽ ta nên nói rằng cho đến ngày nay, bao giờ người Nhật cũng đều đặt ưu tiên cho lối sống có những liên hệ gia đ́nh thay v́ lối sống cà nhân đơn lẻ. Theo tôi nghĩ, đa số người Nhật không theo một tôn giáo nào đặc biệt nhưng những mối liên hệ gia đ́nh đă tạo cho họ một h́nh thức tôn giáo nào đó rồi. Nói một cách ngắn gọn th́ những điều trên đây vốn xuất phát từ t́nh cảm gọi là “Amae”[5] (trông cậy vào sự bao dung của người khác), một khái niệm mà người Nhật và người ngoại quốc đều coi nó như một trong những quốc-dân-tính của Nhật Bản kể từ khi Giáo sư Doi Kenro[6] đề xuất khái niệm này. Có một sự thực mà tôi vẫn c̣n nhận ra, đó là việc người Nhật phần đông làm việc như những con kiến, trong khi ấy, liên hệ giữa họ với gia đ́nh lại giống như một con ốc sên đối với cái vỏ nó mang theo. Ở Nhật, khi ai đó không có thể có mặt trong giờ lâm chung của cha mẹ ḿnh, thân tộc và bằng hữu sẽ buộc tội là đứa con bất hiếu. Thực vậy, kẻ ấy sẽ nghe nhiều điều tiếng, bị ghẻ lạnh suốt đời v́ đă không xử sự đúng đắn. Những t́nh cảm như vậy từ lâu đă cắm rễ rất sâu trong trái tim người Nhật. Tôi cũng không thể nào mường tượng cái cảnh trong giờ ḿnh hấp hối mà không có thân nhân (gồm gia đ́nh nghĩa hẹp cũng như những đứa con đă ra riêng) ở bên cạnh. Do đó, tôi xem “Hệ Thống Chăm Sóc Toàn Diện” cho phép các bác sĩ và khán hộ độc chiếm việc săn sóc bệnh nhân chỉ là một phương thức chăm sóc kiểu Mỹ chứ không mang chút màu sắc Nhật Bản nào. VI-Linh Mục Mở Quán Rượu Để Cứu Vớt Linh Hồn (Priest Saves Soul While Tending Bar) Bốn mươi năm về trước, ở Lyon trên đất Pháp, tôi đă gặp một người đàn ông trẻ mới vừa được thụ phong linh mục. Đó cũng là năm mà cuộc Chiến Tranh Triều Tiên vừa bộc phát. Người linh mục ấy nuôi mộng có ngày sẽ đến Nhật Bản truyền giáo.Về sau ông có cho tôi biết rằng v́ ông nghe nói sau khi bại trận trong Thế Chiến Thứ Hai, nhiều người Nhật đă muốn vào đạo Công giáo. Dù sao, chuyện xảy ra là vị linh mục đó đă vượt qua bao đại dương để sang Nhật. Thế nhưng lúc mới đến nơi, ông đă gặp nhiều khó khăn về vấn đề ngôn ngữ cho dù đă từng theo học tiếng Nhật ở Đại học London cũng như Trường Sinh Ngữ Đông Phương Paris. Có một dạo, ông ta đă tạm trú ở nhà cha tôi. Tôi có may mắn được quan sát ông một cách gần gũi và dùng ông làm h́nh mẫu cho một nhân vật trong cuốn tiểu thuyết của tôi.Cuốn tiểu thuyết đó đă được dịch qua tiếng Anh với nhan đề “Anh Khùng Đáng Yêu” (Wonderful Fool) cho nên một số bạn đọc chắc có lần biết đến. Sau khi đă thử làm một số hoạt động truyền giáo ở Nhật, chợt một hôm, vị linh mục này đă nói với tôi một câu làm tôi sửng sốt: -Tôi dă tương tác với các bạn Nhật trong một thời gian dài và biết thêm rằng người Nhật không bao giờ hé lộ những ǵ họ nghĩ trừ những dịp uống đến say!”, rồi nói tiếp: “Tôi đă suy nghĩ lung lắm rồi, nhưng để có ích cho đời sống tâm linh của các bạn Nhật, chắc tôi phải mở một cái sunaku (snack bar) mới được. (Đây là một cái tên mượn từ tiếng Anh để chỉ tiệm có quầy bán rượu và đồ ăn nhẹ). Thực t́nh, tôi đă hết sức kinh ngạc và phản đối cái ư định đó. Lư do là, khác với nhân vật xuất hiện trong tiểu thuyết của tôi, ông ta là một chuyên gia về Thần học. Tôi nghĩ không cần mở quán rượu chi cho phức tạp, ông hăy c̣n bao nhiêu cách để có thể giúp ích cho những người Nhật đang có nhu cầu tâm linh. Dù vậy, ông ấy vẫn xúc tiến kế hoạch của ḿnh. Trong một bin-đinh nằm kế cận Ṭa Hành Chính quận Shinjuku, ông đă mở quán Epopée, và dù là một linh mục, ông đă mặc áo gi-lê và thắt nơ con bướm để ra pha, khuấy, lắc cái “shaker” trộn rượu, giống như một anh bồi đứng quầy chính hiệu. Đám người Nhật Bản, có lẽ v́ ḷng hiếu kỳ, đă bắt đầu tụ tập ở Epopée, cái quán mà họ nghe nói có một tu sĩ đứng tiếp khách ở quầy rượu. Được khoảng một năm hay hơn, một số đă trở thành khách quen và khi say xỉn, đă dám đối chất vị linh mục đó về những vấn đề Giáo lư. Cái quán trở thành nơi hội họp của bạn bè và một đôi người đă bắt đầu tham dự “Lớp học Kinh Thánh” (Bible lectures) do linh mục chủ tŕ. Dần dần, một số đă đi đến chỗ chịu phép rửa tội. Tôi kính trọng và ngưỡng mộ vị tu sĩ này. Ông là một người, nếu không trở thành tu sĩ, sẽ có được một cuộc sống phong lưu ở Pháp v́ xuất thân từ một gia đ́nh giàu có ở Lyon.Thay vào đó, ông đă chọn một căn hộ nhỏ bé làm nơi sinh sống và làm việc ban đêm ở quầy rượu. Tôi kính trọng v́ ông đă dám sống cho điều ḿnh tin tưởng (beliefs). (Tôi không dám dùng chữ “đức tin” (faith) bởi v́ những người Nhật Bản không-Công-giáo có thể cảm thấy xa lạ khi nghe danh từ này) Ngày sinh nhật thứ 60 của ông, các khách hàng Nhật Bản của vị linh mục đă tổ chức một buổi tiệc mừng. Có khoảng 200 người đến dự. Bọn họ đă bí mật chuẩn bị một sự kiện gây ngạc nhiên cho ông: họ mời ông anh và bà chị dâu mà ông từ lâu không gặp, sang Nhật chơi và định đưa họ ra tŕnh giữa bữa tiệc. Vào cái ngày trọng thể ấy, sau khi ông đọc một bài diễn văn cảm ơn, một trong những người bạn Nhật mới bảo: “Thưa cha, cha có thể nào nhắm mắt cho chúng tôi một tẹo không? Khi nào tôi bảo “Được!”, cha mới được mở mắt ra nhé!”. Linh mục bèn che mắt ḿnh bằng cả hai bàn tay. Khi mở mắt, ông nhận ra trước mặt ḿnh là ông anh bà chị. Cả đám bạn Nhật bèn phá lên cười trông khi ông kêu lên “Ôi chao ôi!” với vẻ hết sức ngạc nhiên. Khi chứng kiến cảnh tượng này (v́ tôi cũng có mặt trong bữa tiệc), tôi đă vui khôn tả. Đó là những ngày mà người Nhật đang bị cả thế giới dán cho cái nhăn hiệu “Con thú kinh tế” (The economic animal). Thế nhưng trong giây phút đó, người Nhật đă tỏ ra được cái hồn hậu và t́nh thân ái của họ đối với vị tu sĩ mà chắc bạn sẽ không thấy có ai cùng tầm cỡ ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Nói theo tiếng Pháp, họ đáng được gọi là những con người chân chính và hào hiệp (gentilhomme). Nếu các bạn muốn gặp vị tu sĩ đứng quầy rượu ấy, xin mời đến quán Epopée vốn nằm trướcṬa Hành Chính quận Shinjuku. Ở đây, bạn sẽ gặp một ông ngoại quốc khổ người to lớn đang lắc lắc “cốc tai” (cocktail) cho đám khách Nhật Bản của ông ta. VII- Chúng Ta Biết Ǵ Về Đông Y Dược? (Oriental Medecine Still Held In Diferend Light) Trên thế giới, có nhiều trường phái y dược. Tuy cái mà người Á Đông gọi là “Tây y”, “Âu dược” đă phổ biến toàn cầu, nhưng ít nhất, trong các nước phương Đông, hăy c̣n có những cách trị liệu đặc thù tùy theo nước sở tại và chúng tồn tại song song với cái gọi là Tây y hay Âu dược. Trong một thời gian dài, các bác sĩ được đào tạo theo Tây y thường coi nhẹ những phương pháp của Đông y. Măi đến 20 hay 30 năm trước đây, các y sĩ theo y thuật phương Tây hăy c̣n cười cợt Kanpô (Hán phương) tức loại thảo dược du nhập nhiều thế kỷ trước từ Trung Quốc và sau đó đă Nhật Bản hóa. Tôi hăy c̣n nhớ lời của một vị bác sĩ “Nó có thể giúp người ta lên tinh thần nhưng hoàn toàn không có giá trị về mặt khoa học!” Thời ấy đă qua rồi. Hiện nay có nhiều bác sĩ trẻ đang nghiên cứu về hiệu quả trị liệu của Kanpô và một số càng ngày càng đông c̣n nghĩ đến việc dùng nó trong thực tế như một trong hai phương pháp trị liệu có thể chọn cho con bệnh. Thử lấy trường hợp viêm gan (hepatitis). Dĩ nhiên, hiện nay các bác sĩ Tây y đă t́m ra một phương thuốc để chữa bệnh ấy. Đó là Interferon. Thế nhưng 10 năm trước đây thôi, các bác sĩ đă không có giải pháp nào ngoài việc khuyên bảo con bệnh ăn ngủ điều độ và tránh uống chất cồn. Giữa khi ấy, ở Nhật, người ta đă xem một thứ nước cất có tên là “Shosaikotô” (Tiểu Sài Hồ Thang)[7] như một món quà trời ban cho những người mắc chứng viêm gan, Toa thuốc này có năng lực chận đứng hoạt động của vi khuẩn. Điều đó có nghĩa là những người dùng nó đều đặn sẽ có khả năng nâng cao sức miễn nhiễm của họ như tránh được các lại cảm cúm có nguyên nhân là vi khuẩn. Loại thảo dược này c̣n chứng tỏ nó có hiệu quả tích cực đối với người bị viêm gan. Giống như thế, những loại thảo dược gọi là Kanpô đôi lúc đă tỏ ra có công hiệu làm giảm đi những triệu chứng của bệnh tật mà trước nó, y lư Tây phương hầu như đă bó tay. Gần đây, khi sang thăm Ấn Độ, tôi đă nhận ra rằng người Ấn cũng dùng một thứ cỏ nổi tiếng là có thể loại bỏ mọi chất ngọt, nên các y sĩ xứ đó đă dùng thứ cỏ ấy chữa bệnh tiểu đường (diabetes). Cũng cậy, ở Đại Học Tottori bên Nhật, có một bác sĩ đang bỏ công sức vào việc nghiên cứu cỏ ấy. Một phần để thỏa tính ṭ ṃ, tôi đă thứ ăn một món đồ mặn sau khi đă nhai loại cỏ này, và nhận ra rằng, vị ngọt đă tan biến. Một bác sĩ cho biết trong trường hợp tiểu đường nhẹ, nếu con bệnh thử dùng loại cỏ này dưới dạng bột phấn sau bữa cơm, sẽ thấy nó làm giảm bớt lượng đường trong máu. Thế th́, tương tự như vậy, chúng ta không thể xem thường việc y dược học có sự gắn kết với một vùng đất nào đó trên địa cầu, đặc biệt là y dược học Trung Quốc cùng với những phân nhánh của nó, ví dụ như “thuốc men cổ truyền của Nhật” (Kanpô). Hiện nay, tôi nghe có người lại bảo là, nếu như thế, Kanpô chỉ dùng dược cho người Á Đông chứ không cho những ai sống bên kia rặng núi Caucase (Caucasians). Tôi tự hỏi không biết điều đó có thực hay không? Nếu có bạn đọc Âu Mỹ nào từng sử dụng Kanpô (không kể đến châm cứu) hay là các thứ thuốc Đông y trong việc trị liệu, xin hăy viết và kể cho tôi nghe kinh nghiệm của các bạn. Lư do là tôi đang muốn biết Kanpô có thích hợp với người không phải là Á Đông hay không? Một ông bạn của tôi là Bác sĩ Tani đang điều khiển một y viện trong khu Akasaka (thuộc Tokyo). Ông chủ trương phải tiến về một phương thức trị liệu kết nối một cách điều ḥa giữa Tây y với Đông y. Ông cũng là người từng khẳng định: “Đông y cũng có hiệu lực cả với người phương Tây (tức các sắc dân Caucase) nữa!” VIII- Giấy Và Những Món Đồ Nhận Từ Bưu Điện (Japanese Wasteful Paper Habit) Tôi không hiểu các bạn ngoại quốc có đồng ư với tôi rằng người Nhật hay xài phí giấy? Chẳng hạn như hôm nay, khi bước ra khỏi cửa, tôi đă thấy nguyên một đống giấy bày dưới chân ḿnh. Tôi dám nói là hầu hết các nhà văn đều trải nghiệm cảnh tượng này. Thế nhưng phân nửa đống giấy được gửi từ nhà bưu điện ấy là những thứ mà cuối cùng tôi phải đem đi vứt. Nào là tập giới thiệu (pamplet), tạp chí thông tin hăng buôn, giấy quảng cáo hay đơn thuần là những thứ giấy tờ tôi không cần thiết. Nếu chuyện này xảy ra một đôi lần rồi thôi, có lẽ tôi c̣n chịu được. Tuy nhiên, giống như dội bom, mỗi ngày mỗi bữa người ta đều đem chúng đến trước nhà tôi, đến độ tôi phát ngấy và tự hỏi viếc xài giấy một cách phí phạm như vậy th́ có đúng hay không? Biết bao nhiêu tiệm sách trên nước Nhật này đă tự động lấy giấy ra bọc b́a sách dù khách hàng có khi không hỏi tới. Con số đó nhiều vô kể. Một điều tôi chưa hề thấy ở nước ngoài. Và những khi đến cửa hàng bách hóa, ta sẽ thấy nhân viên bán hàng goi những món đồ bằng thứ giấy bọc thật trang trọng và đặt chúng trong những cái túi xách bằng giấy cũng trang trọng không kém cho dù món hàng nằm bên trong chỉ là một đôi tất mang khi đi làm. Tôi rất hạnh phúc khi cầm trong tay cái xách giấy trang trọng đó, nhưng là một người từng lớn lên ở Nhật giữa thời chiến tranh khi mà những nhu yếu phẩm đều thiếu thốn, nhiều khi tôi đă rùng ḿnh và mang mặc cảm phạm tội lúc nhận cái xách hào nhoáng ấy. Bỗng tôi nghe có ai đó lên tiếng bên trong tôi: “Không! Cậu phải cầm lấy nó!” và một tiếng nói khác lại bảo “Đáng lẽ ra cậu phải từ chối dù người tặng có nài ép mới phải!”. Hai tiếng nói ấy đă đến cùng một lúc và đối kháng với nhau. Tôi nghĩ nếu số giấy được dùng đă tăng mạnh như vậy là v́ Nhật Bản có rất nhiều lâm sản và văn hóa Nhật Bản là một văn hóa cây cỏ (mộc văn hóa) chứ không phải là một văn hóa đá (thạch văn hóa). Thế nhưng chính v́ lư do này mà khi nh́n phong cảnh nước Nhật qua cửa sổ tàu bay, tôi đă nhận ra rằng cái gọi là “cảnh sắc tuyệt vời” của nó đă trở thành một cái ǵ xấu xí. Nhiều ngọn núi đă bị xén lở và cây cối ngả rạp bên trên. Có một lần tôi được nghe thông tin từ một chương tŕnh truyền h́nh cho biết người Nhật là khách hàng số một trong việc tiêu thụ những súc gỗ đến từ Costa Rica.Thế th́ lượng khổng lồ của những súc gỗ này đă biến thành ǵ rồi? Có lẽ nó đă được chế thành giấy! Đống giấy được dùng một cách vô nghĩa nằm trong thùng thư bưu điện trước cửa nhà tôi, giấy dùng để bọc lên b́a những cuốn sách, giấy hoa ḥe đẹp đẽ dùng để gói hàng trong cửa hiệu bách hóa ...Nếu v́ những cách sử dụng đó mà Nhật Bản phải nhập cảng một khối lượng giấy lớn như thế th́ tôi mong người Nhật nên làm được đôi điều để ngăn bớt. Tiết kiệm giấy là bảo vệ được rừng, bảo vệ rừng là bảo vệ được sinh mạng của điểu thú côn trùng sống nơi đó. Nói cách khác, đó là bảo vệ chất lượng của môi trường sinh thái, tránh được những đau đớn mà địa cầu đang chịu v́ sự tàn phá thiên nhiên đang xảy ra mỗi ngày trong cuộc đời của chúng ta. Tôi tin chắc mọi người Nhật Bản đều ngạc nhiên trước sự thiếu trân trọng đối với bao b́ ở các nước khác nếu đem so với những ǵ xảy ra trong nước. Ở Đông Âu, có lần họ đă dùng giấy nhật tŕnh để gói món hàng tôi mua. Thế nhưng, điều đó đă nói lên một sự thực khác: giá trị của món hàng vốn nằm trong nội dung của nó chứ không tùy thuộc vào tấm giấy bọc bên ngoài. IX Đi Theo Người Dẫn Đường (Following the Leaders) Đôi khi tôi được các phái viên nước ngoài thường trú ở Nhật đến phỏng vấn. Sau khi tôi dành thời gian cho họ, họ đă đặt cho tôi đủ loại câu hỏi trong ṿng hai, ngay cả ba tiếng đồng hồ. Tuy nhiên chỉ có khoảng phân nửa các người phỏng vấn là gửi lại cho tôi bản chụp các trang báo đăng tải mấy kư sự đó. Kỳ thực phần lớn trong đám họ không thèm bỏ chút thời giờ để thông tin là họ có sử dụng những kư sự nói về tôi không. Mỗi lần những chuyện như vậy xảy ra, tôi có cảm tưởng như họ đă chơi khăm tôi bởi v́ họ chưa bao giờ hứa sẽ gửi cho tôi những bản sao chụp. Kư giả các nhật báo ở Nhật không bao giờ làm những chuyện như thế. Lúc này, câu hỏi tôi hay nghe từ những người ngoại quốc xin phỏng vấn, thường là: “Nhật Bản đă trở thành cường quốc hàng đầu như thế nào?” Hôm khác, có nhà ngoại giao cũng đặt cho tôi một câu hỏi tương tự. Tôi không nắm được ư nghĩa của danh từ “cường quốc hàng đầu” nhưng tôi đoán họ họ ám chỉ vai tṛ của các nước như Anh, Mỹ vào một thời điểm nào đó. Có thể nói những quốc gia ấy từng có sức mạnh đủ xoay chuyển vận mệnh thế giới. Dù cố tưởng tượng đi nữa, tôi có cảm tưởng là nhiều người Nhật vẫn không cho rằng Nhật Bản là một trong những nước đang dẫn đầu thế giới. Thực vậy, người ngoại quốc có thể nghĩ rằng Nhật Bản là một quốc gia giàu có. Thế nhưng chắc quư độc giả cũng thấy rằng cuộc sống của một người dân Nhật trung b́nh không thể nói là sung túc.. Thật khó ḷng tưởng tượng là cuộc đời cư dân những thành phố lớn là đầy đủ tiện nghi. Họ phải bó ḿnh trong những ngôi nhà ở chật hẹp và chen chúc như cá hộp trong toa tàu khi đến sở làm. Tôi không tin rằng họ có thể sống đầy đủ tiện nghi và họ cảm thấy vui thỏa. Không những thế, tôi c̣n ngờ rằng đa số dân chúng Nhật Bản không muốn nước ḿnh đi đầu thế giới. Tôi hoài nghi việc họ mong ngóng Nhật sẽ đảm nhận vai tṛ lănh đạo kiểu Hợp Chủng Quốc (Mỹ) hay Liên bang Xô Viết (Nga) những cường quốc mà trong một giai đoạn lịch sử nào đó, đă can dự vào mọi diễn biến xảy ra trên phần c̣n lại của thế giới. Ấy thế mà người phái viên ngoại quốc kia vẫn hỏi dồn tôi: “Nhật Bản đă trở thành cường quốc bằng cách nào?” Sự thực th́ Nhật Bản – không giống như Đức là quốc gia đang chuẩn bị để nắm vai tṛ lănh đạo Âu Châu trong ṿng 20 hay 30 năm tới – vẫn chưa đủ tự tin trong lănh vực chính trị lẫn ngoại giao. Về mặt chính trị, rơ ràng là Nhật Bản vẫn chấp nhận tiền đề Mỹ là một cường quốc hàng đầu và họ muốn đồng hành sát cánh với quốc gia này. Mới đây thôi, một phái đoàn gồm các nghị viên của Quốc hội Nhật Bản (Japanese Diet) đă viếng thăm nước Mỹ. Họ có vẻ hạnh phúc khi bắt tay Tổng Thống Bush (cha). Dĩ nhiên họ phải làm vậy v́ hành động tích cực đó sẽ gây ấn tượng tốt nơi cử tri trong địa phận của họ. C̣n đối với cử tri th́ – theo chỗ tôi suy đoán – có lẽ họ cho rằng việc đồng hành với Mỹ trong đường lối ngoại giao sẽ giúp cho họ có được một nước Nhật no cơm ấm áo. Theo ư tôi, điều kiện trở thành một cường quốc không chỉ là việc sở hữu một sức mạnh kinh tế. Một sức mạnh đáng kể khác là sáng kiến trong lănh vực văn hóa và nghệ thuật nhằm tạo ra những sản phẩm có thể kích thích được sự năng động trong phần c̣n lại của thế giới. Thành thực mà nói, quê hương Nhật Bản của tôi vẫn chưa cống hiến được như thế. Tuy nhiên, tôi luôn cầu nguyện rằng những thế hệ đến sau tôi sẽ cho ra đời những công tŕnh nghệ thuật tuyệt vời, đầy sáng tạo và thực sự phục vụ được cho nhân loại. X Một Thái Độ Rất Nhật Đối Với Người Cao Niên (Selective Apathy Toward Elderly) Nhật báo Yomiuri vừa thực hiện một cuộc thăm ḍ ư kiến trên toàn quốc, trong đó họ đă đặt câu hỏi: “Khi bạn trở thành người cao niên trong xă hội, cái ǵ khiến bạn thấy đời c̣n đáng sống?” Khác với lớp trẻ hoặc trung niên vốn xếp những chọn lựa như “vui với những sở thích riêng” hoặc sống hạnh phúc bên người phối ngẫu”, người cao niên xếp việc “ngắm các cháu lớn lên” hay “ở bên cạnh những người cùng lứa tuổi” là những ưu tiên của họ. Lạ thay, không mấy ai thấy việc “giúp đỡ người khác” hay “làm công việc thiện nguyện” trong cái bảng xếp hạng đó. Tôi ngờ rằng, nếu là ở Âu châu, sẽ có kẻ bảo rằng khi về hưu trí, họ muốn có dịp chăm sóc những người tuổi tác đang có nhu cầu”. Cuộc thăm ḍ của báo Yomiuri c̣n đặt ra câu hỏi: “Quư ông bà có ước muốn trở thành một người giúp việc nhà hay trông coi người lớn tuổi ở nhà họ hay không?”. Chỉ có 3% trả lời “Có, rất muốn!” trong khi 26% cho biết “Vâng, nếu có thể” và 64% trả lời là “Tôi không định làm chuyện đó!” Một bạn người Anh cho tôi biết ở Glasgow, nơi ông ta lớn lên, những người đă nghỉ hưu thường xung phong đến chăm sóc các người già! Khi nghe được những câu chuyện như vậy, tôi bèn suy nghĩ kỹ về những kết quả mà cuộc thăm ḍ của báo Yomiuri đă đem lại. Dĩ nhiên chúng ta không thể kết luận một cách đơn thuần rằng con số 64% không có ư định giúp đỡ nhưng người tuổi không họ hàng ǵ với ḿnh là những kẻ ích kỷ! Có thể họ đă nghĩ rằng việc bảo hộ người già sẽ tốt hơn nếu có những bác sĩ, y tá hay người chuyên môn việc săn sóc bên giường bệnh. Có khi v́ họ e rằng ḿnh không đủ sức để làm những việc nhiều đ̣i hỏi ấy. Hơn thế, có khi họ muốn dành ưu tiên chăm sóc cho cha mẹ của chính ḿnh thay v́ cho người lạ. Hoặc giả ư nghĩ đầu tiên của họ phải hướng về người phối ngẫu. Thực ra, một kư sự đăng trên Nhật báo Yomiuri ngày 9 tháng 11 đă chứng minh được điều đó.Bài báo đăng tin một ông Giám đốc già của hăng buôn ở Tokyo đă từ chức để có thể dành thời giờ theo dơi bệnh t́nh bà vợ đang mắc chứng lú lẩn của người già. (senile dementia). Nhà báo đă dẫn lời ông: “Nếu tôi không làm, ai sẽ thay tôi chăm sóc bà ấy?”. Việc coi trọng mối liên hệ bền chặt giữa những người cùng một gia đ́nh vẫn là lối suy nghĩ phổ biến trong quần chúng Nhật Bản. Có lẽ v́ lư do đó mà nhiều người Nhật muốn lúc về già, ḿnh được chăm sóc bởi những thành viên trong gia đ́nh. Kết quả cuộc thăm ḍ ư kiến của Yomiuri cho thấy 48% mong được chăm sóc bởi “vợ hay chồng” họ. Những ông lăo trở thành cô độc sau khi người bạn đời khuất bóng sẽ nghĩ đến “con trai hay con gái” của họ (30%). Cho đến 20 năm về trước, con cái nào muốn đem cha mẹ già bỏ mặc cho nhà dưỡng lăo hăy c̣n bị xă hội kết án là những “đứa con bất hiếu” (Hiện nay đă có sự thay đổi trong thái độ của cư dân các khu vực đô thị nhưng h́nh như nguyên nhân chính của hiện tượng này chỉ là nạn thiếu thốn nhà ở). V́ thế thái độ của người Nhật khi trả lời “không muốn giúp ai lo việc nhà” hay “không có ư định làm thiện nguyện” cũng chưa chắc là đă v́ động cơ ích kỷ. Thế nhưng dù gạt số người đó qua một bên, tôi vẫn thấy là qua kết quả của cuộc thăm ḍ toàn quốc này, người Nhật tuy có một ư thức gia đ́nh mạnh mẽ, nhưng bù lại, ư thức xă hội của họ hăy c̣n thấp kém, mong manh.Thật ra th́ tôi có lập đề án “Hăy dùng người già chăm sóc người già” nhưng không tụ tập được bao nhiêu ông bà lăo. Chẳng những thế, tôi c̣n ngạc nhiên khi thấy dù chúng tôi đă giải thích rằng những người thiện nguyện này sẽ không lấy tiền công nhưng con số các gia đ́nh đến nhờ chúng tôi thật ra không có bao nhiêu. Lư do là các gia đ́nh có những người già mắc bệnh lú lẩn không muốn cho những t́nh nguyện viên đến từ bên ngoài nh́n thấy thân quyến già nua của họ gây ra những điều bất tiện hay đáng xấu hổ. Nguyên do “không muốn ai chứng kiến” theo tôi là một khuynh hướng hết sức Nhật Bản. Tôi cũng tự hỏi nếu chúng ta làm một cuộc điều tra dư luận y hệt mà đối tượng là người ngoại quốc th́ không biết kết quả những câu trả lời sẽ ra sao? XI- Người Ngoại Quốc Nghĩ Ǵ Về Đám Cưới Ở Nhật? (Japanesse Weddings: Pomp and Yen) Trong một tạp chí, tôi thấy có đăng bài về cuộc điều tra với tiêu đề “Người ngoại quốc nghĩ ǵ về đám cưới ở Nhật Bản?” . Những người trả lời phỏng vấn đều là kẻ sống nhiều năm ở Nhật và hiểu biết cách sinh hoạt của đất nước này, nhiều người lại có cảm t́nh sâu đậm với nó nữa. Thế nhưng họ đă đồng thanh cho rằng cách tổ chức đám cưới ở Nhật là một điều tệ hại. Điều thứ nhất là họ phê b́nh rằng người Nhật đă chi quá nhiều tiền cho nó v́ cứ nghe theo những lời quảng cáo các khách sạn, địa điểm tổ chức cho nó. Ngày nay (thập niên 1990, NNT) tiệc cưới tại một khách sạn hàng đầu ở Tokyo có lẽ phải tốn ít nhất là hai triệu Yen (khoảng USD 20.000 theo thời giá, NNT). Không đâu! Nó cũng có thể tốn từ ba đến bốn triệu Yen nữa ḱa! Chẳng những thế thôi. Vào dịp đó, lại có cả bạn bè và người quen biết của hai bên cha mẹ (vốn không liên hệ ǵ đến cô dâu chú rễ) cũng được mời đến tham dự. Do đó mà con số ước lượng ban đầu là 50 có thể phồng to thành 100, 200 rồi 300. Nó chỉ giúp cho các khách sạn có cơ hội kiếm chác. Những lời phê b́nh của các bạn ngoại quốc ấy thật trúng phong phóc. Giữa người Nhật với nhau, đa số cũng lầu bầu là sao tốn chi cho khách sạn nhiều tiền như thế! Dầu vậy, những cơ hội tiêu pha phung phí này vẫn diễn ra và không có ǵ thay đổi. Khách được mời tới độ rày lại có thói quen mang phong b́ đến quầy lễ tân của tiệc cưới. Cũng có trường hợp nếu không đưa khoảng 5 vạn Yen một người th́ họ sẽ cảm thấy xấu hổ. Thật ra họ có mừng ǵ đâu! Việc bỏ ra 5 vạn Yen là chi phí để có thể bước vào hội trường dự một bữa ăn với giá đó. Trong khi buổi tiệc đang diễn ra, có lúc cô dâu phải vào bên trong để phấn son trở lại. Đang mặc một bộ áo cưới kiểu Tây phương (wedding dress), cô dâu phải bỏ giữa chừng bữa ăn và đi khuất vào trong rồi trở ra với y trang Nhật Bản để chào quan khách. Trong khi đó, chú rễ cũng phải thay bộ đồ dạ hội với áo đuôi én (Tuxedo) để mặc lấy Ḥa phục. Theo tạp chí nói trên th́ về điểm này, người ngoại quốc cũng có nhiều lời b́nh phẩm như “Làm như thế thực vô ích!” “Phong tục ǵ mà kỳ quặc!” Lời bàn của các bạn thật chí lư! Không chỉ riêng tôi mà rất nhiều người Nhật đều nghĩ rằng cô dâu th́ c̣n được, chứ chú rễ nếu không bảnh trai th́ khi ra trước mặt quan khách trong y phục dân tộc, thế nào cũng nghe những lời phê b́nh đầy ác ư từ các dăy bàn. Dù thế, có lẽ từ nay về sau, người Nhật sẽ tiếp tục tổ chức tiệc cưới theo cách thức như vậy. Theo tôi, một trong những nguyên nhân của việc này là các lễ cưới ở Nhật thiếu sự tuyên thệ t́nh yêu trong ḷng ḿnh như kiểu chúng ta thấy trong nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Tuy con số những cuộc hôn nhân Nhật Bản được tổ chức trong một giáo đường càng ngày càng nhiều nhưng v́ bản thân các nam nữ đó không có ḷng tin cho nên họ không nghĩ rằng ḿnh đang tuyên hứa t́nh yêu trước một Đấng Thiêng Liêng. Do đó mà bữa tiệc cưới mới là nơi họ dùng để nói lên lời tuyên hứa đó. Nghĩa là với tiệc cưới, họ mong rằng sự kết hợp giữa hai bên sẽ có nhiều người chứng kiến và chấp nhận. Nó đă thay thế cho một khế ước hôn nhân. Thêm một điểm khác. Theo truyền thống th́ hôn nhân ở Nhật Bản không phải là một sự giao ước giữa hai người trong cuộc nhưng c̣n mang ư nghĩa là sự kết gắn giữa hai gia tộc. Tập quán đó đến nay hăy c̣n tồn tại bởi v́ nếu mời đến chừng ấy khách khứa th́ họ không chỉ v́ cô dâu chú rể nhưng là v́ cả hai nhà. Cho nên mới thấy có những vị khách không hề quen biết hoặc không trực tiếp liên quan ǵ đến cặp vợ chồng trẻ cũng đến dự tiệc. Do đó những hơi phê b́nh của các bạn ngoại quốc với cách tổ chức hôn lễ ở Nhật thật là chí lư. Tuy nhiên quí vị cũng nên thông cảm cho những sự t́nh mà tôi vừa nhắc đến bên trên. XII- Cái hấp dẫn của miếng Sushi: (The Allure of Sushi) Cơ quan đại diện cho tôi về việc xuất bản ở hải ngoại đặt cơ sở ở London. Gần đây, ông Tổng Giám Đốc của cơ quan ấy đă đến thăm Nhật Bản. Tôi muốn được mời ông một bữa cơm tối nên đă hỏi ông thích ăn ǵ. Câu trả lời của ông là “Sushi”. -Ủa! Ông đang ăn kiêng à? Ông bèn đáp: -Không. Sushi ngon chứ ông! Ở London, tôi cũng đă ăn mà! Khi ông nhắc tới điều đó, tôi mới chợt nhớ là khi được dự một cuộc chiêu đăi do hăng ông chủ tŕ ở London, tôi đă được họ cho ăn Sushi như một món đầu bữa (hors d’oeuvres). Tôi cũng nhớ một người bạn cho hay là bên Mỹ nhiều người cũng yêu chuộng Sushi. Tôi cũng rất thích Sushi nhưng không thường xuyên đi ăn ở những quán Sushi trong thành phố Tokyo. Lư do rất đơn giản: nhiều tiệm Sushi tính giá cắt cổ nếu như khách mới đến ăn lần đầu. Bên trên tất cả, c̣n cái nỗi là những ông chủ quán Sushi ở Tokyo không biểu v́ bản tính của họ hay v́ một xung động nào đó khiến cho họ hay xử sự một cách thô bạo hoặc thiếu niềm nở. Không ai bắt họ phải cười nhưng tôi nghĩ rằng họ phải vui vẻ với khách hàng thay v́ cố t́nh tạo ra một bộ mặt lầm ĺ, ngoan cố. Trải nghiệm đó giống như khi ta ngồi trên một chiếc tắc-xi mà ông tài xế là một ủng hộ viên của đội bóng chày Yomiuri Giants vào một ngày hội này bị đánh bại, nghĩa là đám khách hàng trong một quán Sushi vừa gọi món ăn mà cứ phải lo ngay ngáy, không biết lúc nào ḿnh sẽ khiến cho ông chủ tiệm cáu tiết? Tôi không biết việc ǵ sẽ xảy đến cho các bạn ngoại quốc yêu thích Sushi khi lâm vào hoàn cảnh như vậy. Từ xưa đă có một câu tục ngữ để nói lên tính nết của những ai giỏi giang về một ngón nghề ǵ (chẳng hạn như Sushi) ngầm nói đến thái độ khắt khe đến tàn nhẫn trong công việc là dấu hiệu chứng minh cho một tinh thần chuyên nghiệp và chính trực. Thực ra th́ nhiều người Nhật Bản có ấn tượng tốt trước quang cảnh một ông đầu bếp Sushi đang làm việc mà mặt khó đăm đăm. Đối với tôi, cử chỉ ấy không có tính thuyết phục. Tôi không nghĩ rằng có người nào lại cảm thấy ngon miệng khi phải ngồi ăn trước một khuôn mặt lầm ĺ. Thêm một điều c̣n khó ḷng tha thứ là ông đầu bếp kia tự ư tính giá tiền khách phải trả theo ư thích hôm đó của ông ta. Riêng tôi, tôi sẽ nói “Không là không!” trước một thứ tính khí như vậy. Dù thế, mỗi lần ra nước ngoài và trở lại Nhật Bản, tôi luôn luôn cảm thấy thoải mái v́ không bao giờ phải cho tiền nước. Tôi nói với ông Tổng Giám Đốc của cơ quan đại diện cho tôi là: “Ở Nhật, tôi chẳng cần phải trả “tiền boa” cho ai, từ ông tắc-xi, ông gác cổng cho đến chị làm giường trong khách sạn. -Thật sao? -Thật chứ. Đó là một lợi thế của những người sống trên đất Nhật. Thực t́nh mà nói, tập tục này làm tôi hơi tự hào. Bởi v́ khi ai du lịch ở nước ngoài, đều phải để lại chút đỉnh tiền nước trên cái gối ở pḥng khách sạn cũng như canh chừng kim tính giá trên đồng hồ tắc-xi và nơm nớp không biết ḿnh phải trả thêm bao nhiêu “tiền boa” sau đó. Ở Nhật th́ khác, bạn không cần làm việc ấy. Và đấy là một khía cạnh của văn hóa Âu Mỹ mà tôi thiết tha mong rằng Nhật Bản không cần phải học theo. Lâu lắm rồi (tính ra cũng phải 20 hay 30 năm về trước), du khách ngoại quốc (thường là người Mỹ) hay cho tiền nước nhân viên nam nữ phục vụ ở các khách sạn trước cặp mắt sững sờ của những người khách Nhật. Điều đó đă khiến cho các “ryokan” (lữ quán) phải dán yết thị thông báo rằng:”Nhân v́ quán chúng tôi đă tính cả mọi thứ phụ đảm vào trong phiếu thanh toán rồi, quí vị không cần phải cho riêng tiền phục vụ”. Lời nhắc nhở đó đă duy tŕ tập quán tốt đẹp của chúng tôi. Thế nhưng nơi các quán trọ kiểu truyền thống (ryokan) ở Nhật, có trường hợp du khách để lại một thứ tiền nước cho ông quản lư (banto) và các cô hầu pḥng của họ. Thế nhưng việc cho tiền nước ở một lữ quán kiểu Nhật mà lại không cho ở một khách sạn kiểu Tây phương th́ quả là mâu thuẫn. Cũng vậy, nhiều người khách đă biếu tiền mặt cho nhân viên các hiệu ăn mà họ đặc biệt yêu thích vào những dịp cuối năm, Dù là tiệm kiểu Tây hay kiểu Nhật, đó là cách ghi nhận với ḷng biết ơn sự thù tiếp mà họ được hưởng suốt năm qua. XIII Trơ trẽn không phải là văn hóa (Boorishness is not culture) Gần đây, tôi có cơ hội tṛ chuyện với vị Tổng Giám Đốc của một ngân hàng. Câu chuyện giữa hai bên đôi khi phớt qua đề tài “Văn hóa và xí nghiệp”. Trên thực tế, lúc sau này, nhiều xí nghiệp cỡ lớn của Nhật Bản v́ ư thức được những lỗi lầm của họ như trốn thuế hay chỉ nghĩ đến việc kiếm lợi (tôi không rơ tất cả mọi lư do) nên đă không tiếc ǵ những khoản tài trợ để mời các dàn nhạc giao hưởng, đoàn kịch Opera hay vũ đoàn Ballet đến Nhật tŕnh diễn. Thực ra, Văn hóa là ǵ? Có lẽ nó có rất nhiều định nghĩa nhưng theo tôi nghĩ, chúng ta cần phân biệt Văn minh (Civilization) với Văn hóa (Culture). Văn minh có nghĩa là sự tích lũy những hành động có ích và hiệu quả, trực tiếp ảnh hưởng một cách hiện thực đến đời sống xă hội. Giả dụ việc sử dụng điện khí hay khai phá những kỹ thuật có liên quan đến sản phẩm ngành điện, cũng như việc phát minh các loại dược phẩm ngăn được bệnh lú lẫn (Alzheimer) đều thuộc về phạm trù văn minh. Thế nhưng Văn hóa lại khác với Văn minh v́ nó không có hiệu dụng trực tiếp và hiện thực đối với xă hội. Trường hợp tiểu thuyết của Mishima Yukio hay “Truyện Kể Genji” (Genji Monogatari) th́ dù chúng không có mặt trong xă hội của chúng ta, th́ cuộc sống của chúng ta -trừ trường hợp thiếu xăng dầu hay bị cúp điện – vẫn không có ǵ bất tiện (Tuy nhiên tôi phải xin thưa là người Nhật chúng tôi khi đọc văn Mishima và tác phẩm của bà Murasaki bằng ngôn ngữ nước ḿnh đều cảm thấy sung sướng). Nói thế nào đi nữa, văn hóa vẫn là cái không đem đến hiệu dụng trực tiếp nào. Thế nhưng Nhật Bản hậu chiến đă nh́n tất cả mọi vật từ góc độ là chúng có được việc cho xă hội và đem đến một lợi ích thực tế nào hay không. Nh́n thấy một vật ǵ mà bề ngoài không có ư nghĩa, họ bèn đẩy nó xuống một chiều (jigen) thứ hai hoặc thứ ba và tỏ ra khinh miệt. Tôi lấy làm cay cú khi nghe thế giới diễu cợt rằng Nhật Bản là đất nước của những “con thú kinh tế” (economic animal). Nhưng khi nhận ra rằng trong xă hội Nhật, người ta có khuynh hướng cân đo giá trị con người và đánh giá sự việc bằng cách xem nó có được việc hay không th́ tôi chỉ c̣n biết gật đầu đồng ư với những lời đám tiếu đó, ít nhất trong một phần nào. Xí nghiệp là nơi có cơ năng đánh giá con người.Thế mà mấy lúc này, các xí nghiệp Nhật Bản vừa muốn đẻ ra văn hóa lẫn tiền bạc. Giới tài phiệt đă dám bỏ ra những món tiền lớn kinh khủng để mua các họa phẩm của Van Gogh hay Renoir. Nhưng tôi lại nghĩ rằng các xí nghiệp chi tiền cho văn hóa nhiều như vậy không phải v́ t́nh yêu của họ đối với văn hóa. Nói trắng ra, họ chỉ muốn dùng văn hóa để quảng cáo cho ḿnh. Họ đă lợi dụng những hành vi đó để phục vụ mục đích quảng cáo xí nghiệp. V́ lẽ đó, khi thưa chuyện với vị Tổng Giám Đốc ngân hàng, tôi đă nói: “Ngày xưa ở Nhật chúng ta đă có văn hóa. V́ vậy, người Nhật đi ra nước ngoài, khi bất chợt va vào ai một cái cũng đă “Sorry!”, thấy một phụ nữ lạ mặt bước vào thang máy là ngả mũ chào ngay, hễ tia mắt giao nhau với mắt ai đó bèn nhoẻn miệng cười...Đó là dấu tích của những tập quán tốt c̣n sót lại từ ngh́n xưa nên tôi gọi chúng là bằng chứng của Văn hóa. Việc mời các đoàn vũ Opera từ nước ngoài đến hay tổ chức những buổi tŕnh diễn để giới thiệu ở Tokyo các nhạc sĩ tên tuổi dĩ nhiên là điều quá tốt. Tuy thế, tôi trộm nghĩ người Nhật Bản chỉ xứng đáng được gọi là con người quốc tế nếu họ biết nói xin lỗi khi lỡ va vào ai hay biết nhoẻn miệng cười khi thấy một tia mắt lạ đang nh́n ḿnh. Vị Tổng Giám Đốc kia đă hết sức đồng t́nh với cách nghĩ của tôi. Ngày xưa người Nhật Bản đă được các dân tộc khác biết như một dân tộc coi trọng lễ giáo. Mới hôm trước, tôi vào ăn tối trong một cái quán Sushi ở một địa phương, đă thấy một phụ nữ đang ngồi với hai người bạn khác. Họ vừa ăn vừa ba hoa như chỗ không người. Dĩ nhiên việc thích thú trước một bữa ăn ngon không phải là điều đáng chê trách, nhưng từ xưa, theo lễ nghi của người Nhật th́ khi ngồi trong một quán Sushi, người ta chỉ có thể nói chuyện với một giọng nhỏ đủ nghe thôi. Lư do là một quán Sushi không bày biện nhiều bàn ghế, thực khách thường ngồi bên nhau, chung một cái quầy. Con số những cô gái hành sử kiểu này càng ngày thấy càng đông trong các quán Sushi ở Nhật. Cô gái đó trước khi ra về c̣n th́nh ĺnh đưa bàn tay ra như đ̣i hỏi tôi --một người đàn ông chưa quen biết – phải nắm lấy nó. Tuy nhiên, tôi đă quay đi chỗ khác để tỏ ra là ḿnh cương quyết từ chối. Thấy thế, cô ta bèn nổi giận và nói với tôi: “Thôi đừng làm phách!” (Ganbaru na!) XIV- Cuộc Dạo Phố Riêng Tư Hàng Năm (My Secret Annnual Tokyo Tour) Tôi muốn chia sẻ quí độc giả ngoại quốc về hành tŕnh bí mật để ngoạn cảnh của tôi xuyên qua Tokyo. Để thực hiện, tôi chỉ cần một số tiền nhỏ là 5.000 Yen. Muốn được như thế, trước tiên bạn (cũng như tôi) sẽ phải dành một phần của số tiền đó vào trong tiệm sách và mua một cuốn trong đó có in lại nhiều tác phẩm các nhà họa sĩ nổi tiếng thời Edo (1603-1868) như Hokusai[8] và Hiroshige. Qua cảm quan của họ, bạn sẽ biết đâu là những danh sở cựu tích của Edo hiện c̣n nằm ở một nơi nào đó trong thủ đô Tokyo và bạn sẽ biết đâu là những nơi đẹp nhất của Edo xa xưa. Thực thế những nhà xuất bản lớn như Kodansha hay bộ phận phát hành của những nhật báo lớn có thể thông tin cho bạn quyển sách nào có in lại những bức tranh thạch bản kiểu Ukiyo-e về những danh thắng ở Edo. Bước qua giai đoạn thứ hai, bạn sẽ truy t́m những nơi đó trên bản đồ của thành phố Tokyo hiện tại. Lúc đầu, công việc có hơi nhàm chán một tí nhưng nếu có một người bạn Nhật nào chịu cùng t́m với bạn, chắc là bạn sẽ thấy vui hơn. Mỗi thắng cảnh như thế đều có một mảng lịch sử thú vị đi kèm, gồm cả những câu chuyện đă khiến cho người Nhật Bản xem những địa điểm đó có giá trị về mặt lịch sử. Chẳng hạn như nhiều bức Ukiyo-e vẽ cảnh sông Sumida cho thấy địa điểm của ngôi đền Matsuchiyama Tenjin (Đăi Nhũ Sơn Thiên Thần) vẫn nằm nguyên một nơi từ đó cho đến bây giờ. Nếu bạn có trong tay một bức Ukiyo-e, bạn sẽ nhận ra là trên đó, h́nh ảnh của ngôi đền ấy được vẽ ra. Đó cũng là trường hợp cái hồ Shinobazu (Bất Nhẫn Tŕ) trong khu Ueno.Hay là ngôi đền Mi-meguri (Tam Vi) . Hoặc vườn Hyakkaen (Bách Hoa Uyển). Bạn sẽ thấy rải rác đây đó khắp Tokyo không biết bao nhiêu địa điểm mà tổ tiên chúng tôi yêu mến, tuy chúng đă hồi phục sau những cuộc không kích hồi Thế chiến thứ hai nhưng hiện nay lại bị vây kín bởi những ṭa nhà cao tầng xấu xí! Dù vậy, nếu muốn khám phá những thắng cảnh bao đời truyền tụng như vậy, tôi khuyên bạn nên đến viếng chúng vào trong ba ngày bắt đầu năm mới. Lư do là trong ba ngày đó, giao thông trên các tuyến đường tương đối hăy c̣n thưa thớt. Chứ thực ra việc đi lại ở Tokyo vẫn là một cơn ác mộng ngoại trừ khoảng thời gian ngắn ngủi đó. Tuy nhiên khác với những nơi tên tuổi nổi như cồn như Đền Kannon (Quan Âm) ở Asakusa hay Thần Cung Meiji (Minh Trị), hai ngôi đền Mi-meguri (Tam Vi) và đền Matsuchiyama (Đăi Nhũ Sơn) vốn không đông người lắm và vẫn c̣n giữ được ánh hào quang một thuở của nước Nhật ngày xưa. Những nàng con gái đẹp cùng các em bé gái từ các vùng lân cận trong các xóm b́nh dân của Tokyo vẫn thấy xúng xinh trong bộ kimono và đến kính cẩn gióng chuông ở các đền thần sau khi cầu khấn và chập tay vỗ vào nhau. Trong những giây phút đó, khách nhàn du có cảm tưởng như bước vào một đường hầm cho phép ḿnh đi ngược ḍng thời gian và trải nghiệm cảnh sắc thế giới Kabuki của thời Edo. Để thực sự thỏa măn với chuyến du hành, trên đường về, bạn hăy ghé lại một tiệm ḿ kiều mạch (soba) như hiệu Yabu ở Kanda hay Asakusa và sưởi ấm bằng một be Sake hâm nóng. Trên đây là đoạn đường hằng năm tôi vẫn đi, vào ngày thứ hai hay thứ ba năm mới. Thực ra tôi không muốn nói cho người khác biết lịch tŕnh những ngày đầu năm của ḿnh nhưng tôi muốn hé lộ cho các độc giả của tờ The Daily Yomiuri này như một “Món quà đặc biệt mừng lễ Giáng Sinh”. Tôi nhiệt liệt khuyên các bạn nên theo lộ tŕnh đó. Dĩ nhiên nó sẽ không có giá trị bằng phân nửa công sức bỏ ra nếu các bạn không chuẩn bị trước bằng cách t́m hiểu bối cảnh của những di tích lịch sử . C̣n như nếu các bạn chịu làm chuyến đi này th́ tôi xin bảo đảm là các bạn đă “sống” trong ḷng thành phố Tokyo theo một cách mà những người ngoại quốc khác sẽ không thể nào có được. XV- Ngành Điều Dưỡng Nhật Bản Đang Đi Xuống (Japanese Shun Nursing) Ở Nhật, con số những phụ nữ muốn trở thành khán hộ (hay điều dưỡng) mỗi ngày một giảm. Theo ông Gyoten Yoshio[9], một cây bút đáng kính trong lănh vực Y khoa th́ hiện nay, toàn thể các khán hộ (hay điều dưỡng) thường được chia làm hai nhóm: -Nhóm đầu tiên độ 400.000 người, họ theo học khóa 3 năm và sau đó c̣n phải đậu một kỳ thi cấp quốc gia để trở thành khán hộ chính thức được chính phủ công nhận; -Nhóm thứ hai có khoảng 370.000 người “khán hộ phụ tá”, những người này chỉ được huấn luyện trong một khóa học dài chừng hai năm rưỡi. Thế nhưng các nhà thương tư cũng như các cơ quan y tế khác của những vùng như Tokyo hiện nay đang thiếu thốn trầm trọng nhân viên khán hộ hay điều dưỡng. Lư do của sự việc này là các cô Nhật trẻ có khả năng đi kiếm dễ dàng những công việc đem lại thu nhập cao hơn. Nhiều cô gái trẻ muốn tránh cái công việc khán hộ, điều dưỡng vốn được xếp vào “ba chữ K” nghĩa là “cực nhọc” (kitsui), “bẩn thỉu” (kitanai) và “nguy hiểm” (kiken). Chắc không cần phải giải thích nhiều về 3 chữ K ấy. Các cô khán hộ phải chăm lo cho bệnh nhân và làm một số công việc được xem là “bẩn thỉu (kitanai). Họ cũng phải thận trọng để khỏi bị lây bệnh v́ chúng nguy hiểm (kiken) và nhiều khi phải phụ trách ca đêm nên đương nhiên phải cảm thấy “cực nhọc” (kitsui). Nhiều quốc gia dành cho công việc khán hộ sự kính nể, nhưng điều đó đă không xảy ra ở Nhật Bản. Tuy nhiên, ai nấy đều thấy là những cá nhân này đă có những cống hiến quí giá cho nhân loại. Chúng ta biết các nhân viên khán hộ đều phải qua một quá tŕnh huấn luyện rất kỹ càng. Nếu đúng thế th́ khán hộ là một nghề nghiệp đáng lẽ người hành nghề phải hết sức tự hào, nên khi các cô gái trẻ muốn tránh nó như một trong những nghề không hay, th́ phải chăng, cách nh́n của họ đang có vấn đề nghiêm trọng?. Nghề khán hộ là một nghề “bẩn thỉu” và “nguy hiểm”, điều đó đă hẳn và ta đành chịu. Chính v́ vậy, cái nghề này đ̣i hỏi những người chọn nó một tấm ḷng biết ưu ái tha nhân. Tôi nghĩ nơi những cô gái Nhật thời buổi này, t́nh yêu đối với người đồng loại h́nh như đă dần dần suy giảm.Nguyên do của hiện tượng ấy th́ có nhiều. Chẳng hạn như thế hệ này đă đánh mất niềm tin tôn giáo, họ lại có một quan điểm hết sức thiên trọng về vật chất khi định nghĩa thế nào là hạnh phúc con người. Dĩ nhiên, đây là hậu quả của nền giáo dục Nhật Bản thời hậu chiến vốn nhấn mạnh đến việc đuổi theo mục đích giàu có cũng như dồn hết sức lực học luyện thi để trúng tuyển vào những ngôi trường danh giá. Dù sao, tương lai của Nhật Bản vẫn c̣n tùy thuộc vào vấn đề “xă hội người già” bởi v́ tuổi thọ trung b́nh của người Nhật mỗi năm một cao hơn. Nếu thế th́ vai tṛ của các bác sĩ và khán hộ càng ngày càng trở nên thiết yếu. Tôi tự hỏi ở các quốc gia khác, t́nh trạng này đang diễn tiến thế nào và họ có đang hay sắp phải gặp vấn đề thiếu thốn nhân sự cho việc điều dưỡng hay không? Hoặc giả họ đă t́m ra phương án nào để khích lệ các cô gái trẻ t́nh nguyện bước vào nghề khán hộ, điều dưỡng?
Văn bản: Endo Shusaku, Ikoku no yujintachi ni (Tâm t́nh gửi bạn phương xa), Nxb Yomiuri, Tokyo, 15/8/1992, ấn bản lần thứ nhất. Nguyên tác song ngữ Anh-Nhật. [1] André Malraux (1901-1976), nhà văn, nhà phê b́nh mỹ thuật, tổng trưởng văn hóa trong chính phủ De Gaulle, người đă cho chỉnh trang thành phố Paris với hy vọng bảo tồn cảnh quan và lịch sử của nó. [2] Paul Claudel (1868-1955), nhà thơ, nhà soạn kịch và nhà ngoại giao người Pháp, từng làm Đại sứ Pháp ở Tokyo. [3] Katô Shuuichi (Gia Đằng, Chu Nhất) là bác sĩ tốt nghiệp Y khoa ĐH Todai, nhà phê b́nh, nhà văn hóa lỗi lạc(1919-2008). Từng du học Pháp (1951) tức cùng thời với Endo Shusaku. [4] Bệnh viện đặt tên theo Kitasato Shibazaburo (1852-1931) nhà vi trùng học Nhật Bản, sống cùng thời với bác sĩ Yersin. [5] Tạm dịch là “Làm nũng” [6] Doi Kenrô hay Doi Takeo (Thổ Cư, Kiện Lang, 1920-2009), một bác sĩ khoa tâm bệnh lư, chịu ảnh hưởng Phân Tâm Học của S. Freud, là giáo sư các Đại học Todai và I.C.U., từng tŕnh bày về khái niệm Amae đặc biệt thấy nơi người Nhật, trong tác phẩm nhan đề Amae no Kôzô (Cấu trúc của Amae) viết năm 1971. [7] Người dịch đă đích thân ra hỏi những tiệm thuốc ở Nhật có trung bày dược phẩm này và thấy cần lưu ư người dùng về giá cả đắt đỏ và những phản ứng phụ của nó. (NNT) [8] Tức hai nhà danh họa cuối thời Edo: Katsushika Hokusai (1760-1849) và Utagawa Hiroshige (1797-1858) chuyên vẽ tranh mộc bản gọi là Ukiyo-e ghi lại phong cảnh và sinh hoạt muôn mặt đương thời [9] Gyoten Yoshio (Hành Thiên, Lương Hùng), tác giả chuyên viết về các đề tài Y khoa, nổi tiếng quốc tế, từng làm việc với đài TV NHK
* Nguyễn Nam Trân : Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com ......................... ®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com) |