|
SHUNKAN
(Tuấn Khoan / Đảo Quỷ Sứ)
Nguyên tác: Vô Danh
Dịch: Nguyễn Nam Trân

Shunkan trên sân khấu
Lược truyện:
Thời điểm là cuối đời Heian (thế kỷ 12) khi tập
đoàn quân nhân Heike đạt đến tột đỉnh vinh quang, tha hồ làm mưa
làm gió giữa triều đ́nh. Nhà sư Shunkan (Tuấn Khoan) (1),
người đang lănh chức Shôzu (Tăng đô) (2) và cai quản
(Shuugyô) (3) ngôi chùa lớn Hosshôji (Pháp Thắng Tự) ở kinh
đô (Kyôto) cùng một số đồng chí âm mưu lật đổ chính quyền Heike để
trung hưng vương thất. Âm mưu tiết lộ, ông bị bắt và đày ra ngoài
Kikaigashima (Quỷ Giới Đảo) ngoài khơi vùng Satsumagata (tức mỏm
cực nam của đảo Kyuushuu bây giờ) cùng với đồng bọn là hai ông
Fujiwara no Naritsune (4) và Taira no Yasuyori (5).
Thời gian thấm thoát, trong triều có sự kiện vui mừng là Hoàng hậu
họ Taira tức bà Tokushi (Tokuko) – con gái quyền thần Taira no
Kiyomori – sắp sinh con. Để cầu Trời Phật cho bà sinh được hoàng
nam và mẹ tṛn con vuông, chính quyền Heike ra lệnh đại xá trong
thiên hạ. Triều đ́nh bèn gửi một sứ giả ra Kikaigashima để đọc
chiếu chỉ ân xá cho mấy tù nhân đặc biệt ở đó.
Lúc ấy, trên đảo, hai người tù sùng đạo là
Naritsune và Yasuyori đă lập nên những nơi thờ phượng giống như 3
đền thiêng ở Kumano trên đất liền (6) và đến đó hành hương,
lễ bái đều đặn. Một ngày kia Shunkan gặp họ trên đường đi lễ về và
cả ba cùng uống một chén nước lă lấy trong thung lũng để thay cho
rượu cúc (kiku no sake). Trong khi “yến ẩm”, họ chạnh ḷng nghĩ
tới thời c̣n ở Kyôto và tâm sự cho nhau nghe t́nh cảm nhớ quê
hương. Th́ vừa lúc đó, sứ giả triều đ́nh do Kiyomori gửi tới đă
đặt chân lên đảo và tuyên đọc chiếu chỉ tha tù. Thế nhưng trong số
người được ân xá, không nghe nói tới cái tên Shunkan. Quá đỗi
tuyệt vọng, Shunkan đâm ra thờ thẫn mất hồn. Hai bạn tù may mắn
xúm lại định an ủi ông nhưng họ chỉ nghẹn ngào, không thốt nên
lời.
Chẳng bao lâu hai ông bạn tốt số Naritsune và
Yasuyori leo lên thuyền sứ giả để về đất liền. Tuy Shunkan vật vă
van nài xin được về theo nhưng ông đă bị bỏ rơi một cách không
thương tiếc trên băi biển. Thấy Shunkan nằm lăn lóc trên băi, khóc
lóc thảm thương, không c̣n kiêng dè ǵ nữa, mấy bạn cựu tù từ trên
thuyền mới gọi với: “Rồi sẽ đến phiên thầy được tha về mà. Cố giữ
vững tinh thần nhé!” Thế nhưng tiếng nói của họ nhỏ dần, con
thuyền ra xa bờ và sau đó, mất hút phía chân trời.
Đặc trưng của vở tuồng:
Vở tuồng này dựa lên bi kịch của nhà sư Shunkan,
chép lại trong Truyện Heike (Heike Monogatari). Được biết
Kikaigashima (Đảo Quỷ Sứ), nơi ông bị đày c̣n có tên là Iwojima
(Lưu Hoàng Đảo), một trong 3 đảo nằm ở phía Tây các đảo
Tanegashima và Yakushima trong vùng biển Nam thuộc tỉnh Kagoshima
ngày nay. Tuy tên của nó làm ta liên tưởng tới Iwojima, một nơi
từng xảy ra trận đánh ác liệt giữa hai phe Nhật - Mỹ trong Thế
chiến thứ hai nhưng nó lại là một địa điểm khác, phải đọc là
Satsuma-Iwojima th́ mới phân biệt rơ ràng. Dù sao ḥn đảo nhỏ này
(chu vi 15km, diện tích 12km2) cũng giống như Iwojima nghĩa là một
đảo núi lửa với ngọn Iwodake (Lưu Hoàng Nhạc) cao 703m và cho đến
ngày nay hăy c̣n bốc mùi diêm sinh. Diêm sinh phủ trên các tảng đá
và ḥa cả vào trong nước biển. Thật là một cơi địa ngục, chỗ ở của
quỷ sứ nếu đem so với cảnh trí phong lưu thanh nhă của Kyôto, nơi
mà Shunkan và các bạn từng sống.
Shunkan đă trải qua những tháng ngày tuyệt vọng
trên đảo, hoàn toàn không có ngày mai. Cũng may lúc đầu ông c̣n
hai đồng chí, hay là hai cộng phạm, để tâm sự và uống với nhau một
cốc nước lă thay rượu để an ủi nhau. Khi sứ giả đến, ḷng ông c̣n
chứa chan hy vọng. Thế nhưng tia hy vọng le lói ấy đă lịm tắt khi
trong chiếu chỉ, ông không nghe nhắc đến tên ḿnh. Ông cầm tờ giấy
đọc tới đọc lui nhưng hoàn toàn không là không. Lúc đó, sự thất
vọng đă làm ông run rẩy và giận dữ, nhất là sau khi bị bỏ lại một
ḿnh trên hoang đảo, ông càng ch́m sâu trong uất hận. Không có
hoàn cảnh nào tàn khốc hơn.
Vở tuồng này tuy không có sự bộc phát t́nh cảm dữ
dội nhưng qua động tác của người diễn và lời ca thê thiết của ban
hợp xướng, khán giả có thể h́nh dung ra sự thất vọng cùng cực của
Shunkan.
Thông tin cơ bản về vở tuồng:
Trường phái.
Năm lưu phái chính đều diễn vở này. Chỉ có phái Kita đặt tên vở là
Kikaigashima thay v́ Shunkan.
Lớp diễn:
Lớp 4 (Cuồng nam) Ninjô-mono (Loại t́nh người).Có thể xem như
thuộc lớp 2 trong một chừng mục nào đó.
Soạn giả:
Vô danh.
Xuất điển:
Truyện Heike, chương 2 và 3. Truyện Genpai Jôsuiki (Nguyên B́nh
thịnh suy kư) các chương 9 và 10.
Mùa:
mùa thu (tháng 9 âm lịch).
Màn
: 2
Maeba: Thành phố Kyôto đầu mùa thu năm1178.
Nochiba: Tháng 9 cùng năm trên đảo Kikaigashima
(nay gọi là làng Mishima quận Ôshima thuộc tỉnh Kagoshima) cực nam
nước Nhật.
Đồ cần thiết kế:
Một chiếc thuyền.
Phối vai:
Shite: Shunkan
Waki: Sứ giả
Tsure: Fujiwara no Naritsune (Thành Kinh)
Tsure: Taira no Yasuyori (Khang Lại)
Ai-Kyôgen: Người chèo thuyền cho sứ giả.
Mặt nạ:
Shunkan: Mặt nạ đặc biệt mang tên ông chỉ dùng cho
vở này.
Trang phục
(lược thuật):
Shite:
đội mũ sumi-bôshi có góc cạnh của nhà sư (hay hana- bôshi dành cho
cao tăng hay tô-bôshi kiểu Tàu dành cho người lớn tuổi hay mang
tóc giả đen và dài), mặc mizugoromo tức kimono thường và ngắn, chỉ
tới đầu gối) màu nâu, thêm áo kitsuke / noshime trơn hay kitsuke /
atsuita dày có vân, koshimino (váy làm bằng rong biển), có thắt
lưng koshi-obi, giắt quạt và tay cầm một cái chậu gỗ nhỏ có quai
(mizuoke).
Waki:
trên dưới mặc đồ bộ suô tức trang phục ngày thường của samurai,
ngoài ra c̣n thêm áo kitsuke / dan-noshime có gạch dài và to bản,
đeo gươm ngắn, giắt quạt.Trong áo có cất một bức thư.
Tsure
(Naritsune): mizugoromo, kitsuke / noshime / koshi-obi, giắt quạt.
Tsure
(Yasuyori): ăn mặc như Naritsune, ngoại trừ việc đội mũ sumi-bôshi
và mang tràng hạt v́ là tăng lữ.
Ai:
trên dưới mặc kimono dành cho kyôgen-kata. Thêm vào đó là kitsuke
/ noshime với gạch sọc, quấn koshi-obi, giắt quạt. Sau đó có vác
thêm một cái sào.
Màn: 2 (Kyôto và Kikaigashima)
Thời lượng: khoảng 1h30
Để tiện việc theo dơi, xin chia vở tuồng thành 6
tiểu đoạn theo thứ tự ABCDEF.

Mặt nạ ưu tư thống khổ đặc chế cho vai Shunkan
Văn bản tuồng với lời giải thích (in nghiêng)
A)
Sứ giả cho hay ḿnh sẽ đem lệnh ân xá ra đảo:
Một bộ hạ của Kiyomori được chọn làm sứ giả đem
lệnh ân xá ra đảo. Ông ta bước vào sân khấu với một người tùy
tùng. Ông giải thích tại sao có lệnh ân xá và chuẩn bị chuyến đi.
Sứ giả:
Như ta đây là người phục vụ trong phủ quan Thái chính đại thần là
ngài Taira no Kiyomori. Mới đây, để cầu nguyện cho Đức Hoàng Hậu
sinh đẻ b́nh an nên mới ban lệnh đại xá trong thiên hạ. Ngoài
những người khác, ta c̣n đem lệnh ân xá đặc biệt đến cho Shôshô
(Thiếu Tướng) xứ Tamba là Naritsune và chức Hangan (Phán Quan) tên
Yasuyori thuộc nhà Heike. Do đó mà tôi phải gấp gấp ra ngoài
đảo..
B)
Naritsune và Yasuyori đi hành hương đền thần trên
đảo:
Fujiwara no Naritsune và Taira no Yasuyori đang đi
hành hương ba ngôi đền trên đảo Kikaigashima mà họ xem như là phân
nhánh của Kumano sansha tức ba đền Thần đạo danh tiếng của
vùng Kumano, thánh địa trên đất liền, mà họ đă cung thỉnh về đây.
Naritsune / Yasuyori:
Nhân v́ Kikaigashima c̣n được gọi là Iwo-ga-shima (Đảo lưu hoàng),
mà chữ “iwo” đồng âm với “chúc mừng thần” (kami wo
iwau), Kikaigashima c̣n được gọi là Iwo-ga-shima với
ư ḥn đảo chúc mừng thần, nếu như chúng ta cung thỉnh (7)
được thần linh của 3 đền Kumano về đây th́ chắc lời khấn nguyện
của chúng ta sẽ được chư thần đoái tới.
Chúng ta vừa bị lưu h́nh ra ngoài đảo Kikaigashima
ở vùng biển Satsumagata phía nam Kyuushuu.
Naritsune:
Tôi đây là Naritsune, chức Shôshô, vơ quan xứ Tamba.
Yasuyori:
C̣n tôi là Yasuyori,nguyên quan án ḍng dơi Heike đă xuất gia.
Naritsune / Yasuyori:
Thảm thiết thay khi chúng tôi phải ra nông nỗi này!
Khi c̣n ở kinh đô, chúng tôi đă khấn nguyện sẽ đến
hành hương các đền Kumano 33 lần trong đời ḿnh. Thế nhưng khi
chưa xong được phân nửa con số trên, chúng tôi đă bị đày ra chốn
xa xôi hoang vắng này. Những lời khấn nguyện của chúng tôi nay trở
thành vô nghĩa. Do đó, chúng tôi muốn chứng minh tấm ḷng thành và
sự tin kính của ḿnh nên đă quyết định xin được nghênh đón chư
thần của Kumano tam sơn lên đảo.Từ kinh đô cho đến Kumano c̣n có
99 địa điểm thứ yếu thờ các vị nhỏ (vương tử mạt xă) hơn, chúng
tôi cũng xin cung thỉnh các vị ấy nữa.
Trên con đường hành hương 3 đại thần xă, chúng tôi
cũng đến dâng chùm giấy thiêng (nusa) (8) ở các đền thứ yếu
ấy nữa.
Ngay ở trên ḥn đảo hiu quạnh này, chúng vẫn xem
như (minashi) ḿnh có các đền tạm đủ thay thế cho 3 đền thiêng ở
Kumano. Áo gai mỏng dính làm bằng vật liệu thô sơ trên đảo, lúc
nào cũng ướt đầm nước triều cùng nước mắt là lễ phục hành hương.
Chúng tôi lấy cát làm gạo xay để dâng lên chư thần như đồ cúng và
mượn những cánh hoa trắng của cây bông vải trên băi biển (hama
momen) thay cho chùm giấy thiêng (nusa) khi làm nghi thức tẩy uế.
Ấy là cách thức chúng tôi t́m về các đấng thần linh ở nơi đây. Ấy
là cách thức chúng tôi t́m về các đấng thần linh trên đảo này.
C)
Shunkan xuất hiện và chuyện tṛ với hai bạn đồng
tù:
Shunkan xuất hiện trước mặt họ, trên tay là một cái
chậu gỗ có quai. Ông ta gọi nước vừa múc được từ một ḍng suối là
rượu cuc và mời hai người bạn đồng cảnh ngộ.Họ nâng chén mời nhau
và bày tỏ ḷng tưởng nhớ kinh đô cũng như than thở cho kiếp sống
khổ đau hiện tại.
Shunkan:
Không cần đợi đến lúc đi qua thế giới bên kia, giờ đây tôi đă trở
thành người canh gác (shimamori) cho ḥn đảo nơi bọn quỷ sứ cư ngụ
(Kikaigashima).Bản thân tôi nay đă rơi vào trong cảnh mê lầm tối
tăm và chẳng bao lâu nữa sẽ hoàn toàn bị bóng đêm của cơi minh đồ
bao phủ.
Con thỏ ngọc (ngọc thố) trên cung trăng ban ngày
ngủ trong vùng núi đá vân mẫu, con gà vàng (kim kê) ban đêm đậu
trên cành cây không đâm nổi chồi xanh, c̣n như ve mùa thu (thu
thiền) th́ bám vào cành cây khô đét mà rên rỉ cho đến kiệt sức.
Chúng không thể quay đầu sang một nơi nào khác (9). Thỏ
ngọc, gà vàng hay ve mùa thu, cảnh ngộ của chúng sao mà giống
Shunkan tôi đến thế. Chúng nó làm tôi nhận ra thân phận của ḿnh
trong lúc này.
Yasuyori:
Ô ḱa! Không phải Shunkan hay sao? Thầy làm ǵ mà đi măi tận đây?
Shunkan:
Ông nh́n ra tôi ngay đấy nhỉ? Tôi mang ít rượu sake đến mừng các
ông vừa đi thăm đền trở về.
Yasuyori:
Trên đảo này làm ǵ có sake hở ông? Cho tới gần xem một tí nào!
Ôi, nước lă mà!
Shunkan:
Đúng là nước lă. Thế nhưng ông không nghe nói có loại “thuốc làm
bằng nước” ư?
Yasuyori:
Chịu thua thầy vậy! Bây giờ chúng minh đang ở giữa tháng 9...
Shunkan:
... đúng mùa hoa cúc, gặp tiết Trùng Dương.
Naritsune / Yasuyori:
trên con đường núi...
Shunkan:
Nước là nước lấy từ thung lũng...
Naritsune / Yasuyori / Shunkan:
Nhớ xưa cụ Bành Tổ sống tới 700 năm cũng là nhờ uống nước múc từ
dưới vực sâu...
Hợp xướng: Ta nghe nói uống nước hoa cúc (nước lă
múc lên) (10) sẽ có công hiệu trị bệnh như khi uống thuốc,
nước hoa cúc hiệu nghiệm như là dược phẩm. Thế nhưng ta không hiểu
được ư nghĩa thâm sâu của lời nói đó (lời nói có tính bùa chú của
kinh Pháp Hoa). Người ta bảo rằng trên tiên giới, khi đi trên
đường núi, muốn làm khô thật nhanh một tấm áo ướt đẫm sương hoa
cúc, dưới trần cũng phải mất cả ngh́n năm (11). Tâm cảnh
tôi giờ đây cũng vậy. Tôi không biết ḿnh c̣n phải ở lại trên ḥn
đảo lưu đày này cho đến lúc nào? Mùa xuân đă qua đi, những ngày hè
nóng nhất cũng qua rồi, mùa thu đă hết và mùa đông đang kéo đến.
Tôi chỉ biết bước mùa đi khi nh́n theo sắc lá. Nhớ làm sao chuỗi
ngày xa xưa! Mỗi kỷ niệm đều làm cho tim tôi tan nát. Than ôi, ở
kinh đô, lúc c̣n sống trong những ngôi chùa lớn như Pháp Thắng Tự
(Hosshôji) và Pháp Thành Tự (Hôjôji), tôi đă vô tư tận hưởng cuộc
sống vinh hoa như những đóa hoa xuân nở trong Hỷ Kiến Thành
(Kikenjô) (12) ngài Đế Thích Thiên (Sakro Devanam Indraha).
Nhưng nay tôi đă rơi xuống đất đen, cảnh ngộ chẳng khác nào những
chiếc lá cuối thu theo nhau lả tả ĺa cành.Tôi đă dùng chiếc lá
rụng làm chén và rượu của tôi chỉ là nước lă múc lên từ thung
lũng. Lệ tôi tuôn như nước một ḍng sông. Vẫn biết rằng ḿnh là kẻ
duy nhất đáng bị chê trách nhưng khi nghĩ đến hoàn cảnh hiện tại,
tôi xem cuộc đời ḿnh đă đến hồi chung cuộc.
D)
Sứ giả đến Kikaigashima:
Sứ giả (xá miễn sứ) đến Kikaigashima bằng
thuyền.Thuyền phu báo tin họ đă đến nơi và sứ giả rời thuyền lên
bờ:
Sứ giả:
Thuyền đi nhanh nhờ gió thổi đúng như lời khấn vái xin cho thuận
buồm xuôi gió.Phu trạo cũng nhờ đó mà phấn khởi nhanh tay chèo.
(Lời sứ giả trao đổi với người chèo
thuyền cho ḿnh)
Sứ giả báo tin đă tới nơi và sau đó lên bờ.
E)
Shunkan hay tin dữ là ḿnh bị lọt sổ:
Khi Yasuyori đọc to nội dung lệnh ân xá, không thấy
có chỗ nào nhắc đến tên Shunkan.Ngạc nhiên, Shunkan đọc đi đọc lại
lệnh ân xá nhưng ông nhận ra rằng tên của ông hoàn toàn không có
nên than khóc và rơi vào đáy sâu của tuyệt vọng.
Sứ giả:
Ơi này! Trên ḥn đảo này có ai là người đang đi đày không? Ta là
sứ giả từ kinh đô mang lệnh ân xá đến đây. Hăy mau đến mà xem nào!
Shunkan:
Ôi chao! Mừng quá đi thôi. Thầy Yasuyori ơi, đọc ngay đi thầy!
Yasuyori:
“Để cầu an cho Hoàng hậu sắp sinh, một lệnh đại xá đă được ban
hành.Tất cả những kẻ bị phối lưu trên toàn quốc đều được
Miễn tội. Liên quan đến đảo Kikaigashima th́ có hai
người sau đây: vơ quan Naritsune, chức Shôshô xứ Tamba và tăng
Yasuyori, ḍng dơi Heike, nguyên lănh chức Hangan, đều được ân xá.
Shunkan:
Cớ sao thầy lại bỏ qua tên Shunkan?
Yasuyori:
Không thấy có tên đó! Xin hăy nh́n vào những ǵ được chép trên tờ
giấy.
Shunkan:
Hay họ chép nhầm chăng?
Sứ giả:
Không. Không có chuyện lầm lẫn v́ hồi ở kinh đô, tôi được lệnh chỉ
đem Naritsune và Yasuyori về, c̣n Shunkan th́ bỏ lại trên đảo.
Shunkan:
Ông ăn nói kiểu ǵ vậy. Cả ba chúng tôi đều phạm cùng một tội,
cùng bị lưu đày trên một đảo, nếu như có lệnh ân xá, tất phải áp
dụng nó cho cả ba chứ! (13) Tại sao tôi phải bị bỏ lại để
càng ngày càng đắm ch́m trong tội lỗi và không được hưởng sự khoan
hồng?
Cho đến nay cả ba chúng tôi đă sống trên ḥn đảo
bao vây bằng những ghềnh đá mọc lởm chởm, ba người mà c̣n cảm thấy
hoang liêu và cô quạnh nữa là. Thế th́ làm sao tôi có thể sống
được một ḿnh, không có một ai để nương tựa, có khác nào một mớ
rong rêu mà những người đánh cá đă quẳng đi và nay đang trôi nổi
vật vờ trên lớp sóng? Khủng khiếp thay! Từ nay tôi có khác ǵ
những con chim di (chidori) đang cất tiếng kêu thương trên băi
vắng dẫu biết rằng than khóc đi chăng nữa cũng không ich lợi ǵ!
Hợp xướng:
Cảm thương thời cuộc, hoa kia là giống vô tri mà c̣n nhỏ lệ, ngay
cả chim kia c̣n thổn thức khi gặp cảnh chia ĺa (14). Nhân
ḥn đảo này có tên là “Đảo Quỷ Sứ” nên nó là một cơi địa ngục
(minh đồ), chỉ có giống quỷ ở. Thế nhưng dù quỷ sứ của địa ngục dữ
tợn đến mức nào, chẳng lẽ chúng không động ḷng thương cảm trước
cảnh ngộ của tôi sao? Tôi thường nghe là t́nh cảm con người có thể
kinh thiên động địa và lay chuyển con tim của quỷ thần kia mà!.
Ḱa, chim chóc và thú rừng trên hoang đảo này đang cất tiếng kêu
gào, có phải chúng muốn an ủi tôi không?
Shunkan:
Có thể đấy v́ ḷng của người đă chứa quá nhiều thống khổ khiến
cho chúng cũng...
Hợp xướng:
Shunkan mở tờ lệnh kia không biết bao nhiêu lần và đọc đi đọc lại.
Tuy nhiên dù có đọc bao nhiêu đi nữa th́ chỉ có tên Naritsune và
Yasuyori được chép trên mặt giấy. Nghĩ rằng tên của ḿnh nằm trong
phần tái bút, ông đă lật ngược tờ giấy để t́m những chỗ c̣n để
trống nhưng không thấy đâu ghi “tăng đô” hay “Tuấn Khoan” chi cả.
Có phải đây là một cơn ác mộng? Nếu đúng thế th́ xin kết thúc cho
nhanh, thật nhanh đi nào! Cảnh tượng Shunkan trở thành người mất
trí thật không có ǵ xót xa hơn!
F)
Đoàn người lên đường để mỗi Shunkan ở lại:
Sứ giả với người tùy tùng cùng nhau lên thuyền và
gọi Naritsune và Yasuyori cùng đi. Shunkan bám lấy người Yasuyori
nhưng bị sứ giả chận lại và đẩy ra. Khi Shunkan chụp lấy giây
thừng neo thuyền, họ bèn cắt đứt giây. Khóc lóc thảm thiết,
Shunkan gieo người xuống mặt đất. Có tiếng những bạn cựu tù cất
lên an ủi nhưng tiếng ấy cũng xa dần. Shunkan chỉ c̣n một ḿnh
trên băi.
Sứ giả:
Chúng ta phải lên đường ngay thôi. Nào hai ông
Naritsune và Yasuyori.
Naritsune / Yasuyori:
Chúng tôi không đành ḷng để ông ấy lại một ḿnh. Nhưng họ bắt
buộc bỏ người bạn đồng tù để đi về phía hướng chiếc thuyền.
Shunkan:
Nhà sư cũng muốn lên thuyền bèn níu lấy áo Yasuyori.
Sứ giả:
Thế nhưng sứ giả đă chận ông lại một cách phũ phàng và không cho
lên thuyền.
Shunkan:
Có kinh khiếp chưa? Như lời ngạn ngữ có nói “Công trung hữu
tư”(Bên trong việc công cũng có chỗ cho t́nh riêng chứ!) Lẽ nào
các người không cho tôi đến được Satsuma ở bờ bên kia.
Sứ giả:
Không chút xót thương, phu trạo nâng mái chèo lên định choảng ông
ta.
Shunkan:
Sợ mất mạng, ông bèn thối lui.Thế nhưng vẫn bám chặt giây neo,
không cho con thuyền rời bến.
Sứ giả:
Phu trạo bèn cắt giây neo và đưa thuyền ra vùng nước sâu.
Shunkan:
Bị sóng đánh cho nghiêng ngả, ông không biết cách nào, chỉ c̣n
chắp hai tay và gọi “Ới, thuyền ơi!”
Sứ giả:
Ông ta gọi “thuyền” nhưng không ai kéo ông lên.
Shunkan:
Nhận ra rằng ḿnh đă làm hết cách.
Hợp xướng:
Shunkan gieo ḿnh xuống băi cát và kêu gào không dứt. Tiếng ông
c̣n át cả tiếng Công nương Sayô ở Matsura ngày xưa thảm thiết gọi
chồng trong cảnh biệt ly...
Sứ giả / Naritsune / Yasuyori:
Chúng tôi thật tội nghiệp ông. Khi về đến kinh đô, chúng tôi sẽ
nói giúp cho. Hăy kiên nhẫn đợi chờ!
Shunkan:
“Hăy chờ đến ngày về!”. Nh́n thấy được một tia hy vọng trong câu
nói ấy, Shunkan bèn nén nước mắt, đứng tựa vào thân tùng trên băi
biển (15), nghe tiếng gọi ḿnh mỗi lúc mỗi xa dần.
Sứ giả / Naritsune / Yasuyori:
“Ông có nghe tiếng chúng tôi không?” Mọi người gọi Shunkan nhưng
tiếng của họ đă ch́m sau lớp sóng chiều.
Shunkan:
Hăy nhanh nhanh nói giúp cho tôi nhé!
Sứ giả / Naritsune / Yasuyori:
Nhất định có ngày ông sẽ được về mà!
Shunkan:
Thực hay không đấy?
Sứ giả / Naritsune / Yasuyori:
Nhất định chứ!
Shunkan:
Nhờ các ông đấy nhé!
Hợp xướng:
“Hăy chờ đi! Hăy chờ trong hy vọng!” Tiếng nói và gương mặt của
những người đang gọi ông từ phía biển nghe nhỏ dần. Rồi sau đó,
không c̣n ǵ nữa, có chăng là tiếng sóng vỗ. Chiếc thuyền của sứ
giả hoàn toàn khuất bóng, không để lại dấu vết nào.
Phần chú
thích:
1) Shunkan (Tuấn Khoan): Tăng nhân
họ Minamoto, sống vào cuối thời Heian, uất ức v́ tập đoàn Heike
chuyên quyền nên họp nhau ở một sơn trang phía bắc kinh đô (vùng
Shishinotani) tổ chức đảo chánh với sự đồng ư của Thiên hoàng Go
Shirakawa. Chuyện bất thành v́ bị tố giác, đi đày và chết trên
hoang đảo. Không rơ năm sinh năm mất.
2) Shôzu (Tăng đô) một chức vụ rất
cao trong hàng giáo phẩm do nhà nước qui định, chỉ ở dưới Shôjô (Tăng
chính) và trên Risshi (Luật sư).
3) Shuugyô hay shigyô (Chấp hành)
đứng đầu về mặt hành chính một ngôi chùa.
4) Naritsune là một vơ quan khá cao,
con trai Fujiwara no Narichika, một người chủ mưu.Cha ông cũng bị
đày nhưng sau đó, bị giết chết.
5) Ông Yasuyori họ Taira nhưng
chống lại Kiyomori. Chức Hangan (Phán quan) thời ấy c̣n có nghĩa
là chỉ huy cảnh sát công an.
6) Kumano sansha (tam xă) hay
sanzan (tam sơn) là ba ngôi đền Thần đạo danh tiếng ở vùng Kumano
(tỉnh Wakayama bây giờ), một nơi rừng núi thanh u và uy nghiêm,
thánh địa của người Nhật.
7) Tất nhiên hai ông chỉ xây dựng
một cách tượng trưng như lập cổng chào (torii) hay kết hoa kết lá
rồi tưởng tượng thêm chứ trên đảo làm ǵ có nhân công và vật liệu,
huống chi hai ông lại là quan lớn, chắc không quen lao động.
8) Nusa là một chùm giấy làm bằng
cây gai (asa) hay bông vải (momen) làm vật cúng tế hay tẩy uế
trong nghi thức Thần Đạo.
9) Mặt trời, mặt trăng và con ve
mùa thu là ba vật dù ai có gọi chúng cũng chẳng quay đầu (như thể
kẻ chết cứng). Hoán nhi bất hồi thủ.
10) Liệt Tiên Truyện có nói về
Bành Tổ nhờ uống “cúc thủy” 菊水mà sống lâu.”Cúc thủy có nghĩa là
rượu cúc, nước lă ướp hoa cúc hay là nước múc lên. Cúc viết với bộ
“thủ” 掬う(sukuu)có nghĩa là vốc lên bằng hai bàn tay.
11) Điển tích Trung Quốc về một
người sống lâu tên là Từ Đồng. Có một vở tuồng Nô tên là Kiku Jidô
(Cúc Từ Đồng). Ngoài ra c̣n để chỉ sự khác nhau về độ dài giữa
thời gian trên tiên giới với thời gian ở cơi người.
12) Hỷ Kiến Thành hay Hỷ Kiến Cung
là một địa điểm trên Tu Di Sơn do Đế Thích cai quản, một chốn cực
lạc có vườn hoa nơi người tiên đi lại.
13) Khi Naritsune và Yasuyori đi
cầu Kumano Gongen (thần của Thần đạo nhưng là h́nh ảnh Phật A Di
Đà được bản địa hóa), dĩ nhiên họ cầu xin cho cả 3 cùng được về
Kyôto (đúng theo tư tưởng nhiếp thủ bất xả của Phật A Di Đà tức
cứu tất cả không bỏ sót một ai). Việc Shunkan bị ở lại là một sự
oái oăm.
14) Ư thơ Đỗ Phủ trong bài Xuân
Vọng: Cảm thời hoa tiễn lệ. Hận biệt điểu kinh tâm (Cảm thời, hoa
nhỏ ḍng châu. Biệt ly, chim cũng như đau nỗi ḷng).
15) Chơi chữ: đợi (matsu) th́ phải
ở cạnh cây tùng (matsu).

Sao không thấy tên tôi?
Lạm bàn của người dịch:
Lúc đó, tập đoàn Heike quyền khuynh thiên hạ.Thiên
hoàng Takakura quá trẻ và nhà Taira đă gả được trưởng nữ của
Kiyomori cho ông. Thiên hoàng đă có sẵn 50% ḍng máu Taira (từ
người mẹ), mai mốt con trai ông sẽ là một vị vua có 75% ḍng máu
ấy. Người kiên tŕ kháng chiến là Pháp hoàng Go Shirakawa, cha của
Takakura. Thế nhưng âm mưu đảo chánh của nhóm trung thần pḥ tá
ông thường họp với nhau ở Shishinotani đă thất bại v́ có kẻ tố
giác. Pháp hoàng bị u bế nhưng nhóm trung thần c̣n khổ hơn v́ bị
giết hoặc đi đày.
Ra hoang đảo, hai trong 3 người trong nhóm chủ
xướng c̣n sống chuyển sang khấn khứa, nghĩa là chịu phục tùng.
Trong khi ấy th́ Shunkan, dù là một cao tăng, không theo đường lối
đó. Chắc gián điệp của triều đ́nh đă tâu báo nên chỉ có hai người
v́ có cử chỉ sám hối là được cho về. Cứng đầu và kiêu hănh như
Shunkan th́ không. Do đó, nếu trong lệnh ân xá không có tên ông
th́ cũng là điều không lấy làm lạ. Nhưng dù sao, cũng như mọi
người, ông vẫn muốn trở về đất liền v́ bản thân ông c̣n trẻ và
Pháp hoàng hăy c̣n đó. Thế nhưng tập đoàn Heike ghét cay ghét đắng
ông. Không ai cứu nổi ông, cả sứ giả, Naritsune hay Yasuyori dù họ
đă hứa năm lần bảy lượt trước khi rời đảo.
Tuy nhiên, theo bà Shirasu Masako (xem thư tịch),
không phải tất cả thần thánh và người đời đều quay lưng lại với
Shunkan đâu. Ario, cậu đầy tớ trong nhà đă vượt biển ra ngoài đảo
gặp chủ. Cậu t́m kiếm khắp nơi trên ḥn đảo sặc mùi diêm sinh
nhưng không thấy bóng ông, cho đến một buổi sáng, t́nh cờ cậu nhận
ra Shunkan tiều tụy xác xơ, tóc dài đến vai, trong h́nh dáng của
một người rừng. Chủ tớ gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, hết khóc lại
mếu, nhưng tiếc thay mọi sự đă trễ. Hai mươi ba hôm sau lần gặp gỡ
đó, Shunkan trút hơi thở cuối cùng vào tháng 9 năm Trị Thừa thứ 3
(1175). Ario đem di hài chủ nhân về đất liền và chôn trên ngọn
Kôyasan, thánh địa của phái Chân Ngôn (v́ Shunkan là một nhà sư
tông phái ấy). Năm đó, Shunkan mới có 37 tuổi.
Về phần Ario th́ cậu đă trở thành một du tăng, dành
quăng đời c̣n lại của ḿnh đi khắp nước để cầu siêu cho vong linh
cố chủ. Chưa đầy 10 năm sau cái chết của Shunkan, tập đoàn Heike
hoàn toàn bị tiêu diệt ở eo biển Dan-no-Ura (tháng 3 năm 1185).
Tôkyô ngày 17/5/2020
Thư mục tham khảo:
1)
Shunkan / Kikaigashima, The Noh.com, bản số hóa 2.0
lên mạng ngày 21/10/2014, song ngữ Anh Nhật. Bản kim văn tham
chiếu.
2)
Shunkan, trong Yôkyoku-shuu (Dao Khúc Tập), quyển
trung, Itô Masayoshi hiệu chú, Shinchô xuất bản, Tôkyô, 1986. Bản
cổ văn có chú thích.
3)
Shirasu Masako, Nô no Monogatari (Tuồng tích của
Nô), đoạn nói về Shunkan (trang 89-96), Kôdansha Bungei Bunko xuất
bản, Tôkyô, 1995.
|