LÁ RỤNG

(Ochiba, 1906)

Nguyên tác: Nagai Kafuu

Dịch: Nguyễn Nam Trân

葉 北アメリカ アメリカ合衆国 ペンシルベニア州 自然 落下 秋 昼】の画像素材(58610981) | 写真素材ならイメージナビ

Ảnh minh họa 

Không có ǵ mong manh hơn là những chiếc lá thu trên đất Mỹ. Vào những buổi chiều giữa tháng chín, khí trời hăy c̣n nóng bức không ai chịu nổi và người ta đang than thở tại sao mùa hè dai dẳng đến vậy th́ khi đêm đă về khuya, những chiếc lá sồi, lá du, lá bồ đề dẫm sương, đặc biệt là những cây phong xanh với những cái lá khổ rộng giống như lá bích ngô đồng (aogiri) đă bắt đầu rơi lác đác. Chúng rơi chỉ v́ sức nặng chứ màu xanh của mùa hạ vẫn c̣n chưa phai trên lá và ông trời đă thổi trận gió nào đâu!

Cảnh lá rơi như thế c̣n làm tôi đau ḷng hơn là khi thấy chúng rơi tán loạn khắp nơi trong không khí hay khi nh́n những chiếc lá vàng héo úa đổ xuống như mưa trong sương giá ban mai hay gió lạnh buổi chiều. Chúng gợi cho tôi nhớ về cái chết của một thiên tài giữa độ xuân xanh.

Một buổi chiều, tôi ngồi trên chiếc băng cạnh bờ hồ của Central Park (Công viên trung ương ở New York). Đang là ngày trong tuần nên chung quanh sao mà yên tĩnh, chả bù với cái náo nhiệt của ngày Chủ nhật. Đây là lúc mà mọi người trong cái xứ sở đúng giờ đúng giấc này phải ngồi vào bàn ăn để dùng bữa cơm chiều. Tiếng xe ngựa, xe hơi, ngay cả tiếng chân người, đều đă dừng lại, họa chăng chỉ c̣n tiếng kêu chít chít của lũ sóc vừa mới nhặt xong những mẩu thức ăn cuối ngày, nghe từ phía cao trên đầu ngọn cây. Bầu trời xám tựa hồ báo hiệu cơn mưa tối giờ đây đă đổi thành màu u ám và nặng nề như một người đang buông ḿnh vào trong giấc mơ.

Mặt nước ao vốn rộng như cái hồ lóe lên một thứ ánh sáng màu ch́ khi những ánh đèn khí đốt bắt đầu chiếu lập ḷe trong mấy bụi cây chung quanh hồ mà h́nh ảnh mỗi lúc càng nḥa nhạt.

Trên ngọn của một cây du gần đó, những chiếc lá mảnh mai đang rơi đều đặn từng nhóm ba, bốn, năm hay sáu chiếc.Nếu lắng tai, tôi có thể nghe tiếng lá khi rơi chạm vào những chiếc lá c̣n lại trên cành. Tôi có cảm tưởng chúng đang th́ thào cho nhau nghe và rủ rê nhau rơi xuống, để kết thúc đời ḿnh trong hủy diệt.

Vài chiếc lá đậu trên nón tôi, những chiếc khác ghé trên vai hay đầu gối. Vẫn có những chiếc lá rơi trên mặt nước về phía xa xa cho dù không có luồng gió nào đưa đẩy, và sau đó chúng đă để mặc cho ḍng nước đưa đi và trôi xa, xa măi.

Trong khi đang tựa người và đặt khuỷu tay lên trên thành chiếc băng rồi suy nghĩ hết chuyện này bắt sang chuyện nọ, tôi chợt nhớ lại bài “Thu ca” (Chanson d’Automne) của Verlaine: 

Les sanglots longs,
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur
Monotone.
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l’heure,
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure.
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
De ccà, de là
Pareil à la
Feuille morte
 

(Vĩ cầm nức nở / Tiếng thu / Ḷng ta một mối / Sầu tư /Khôn cầm
(Giờ tàn nghĩ tủi /Chiếc thân / Nhớ ngày vui cũ / Âm thầm / Lệ rơi
(Ra đi trận gió / Tơi bời / Cuốn theo đây đó / Ră rời /
Lá khô)[1]
 

Đây không phải là lần đầu tiên cuộc đời được đem ví với những chiếc lá ĺa cành nhưng bởi v́ sự ví von đó luôn luôn làm tôi xúc động sâu sắc.Nhất là khi tôi nghĩ đến t́nh cảnh tha hương của ḿnh...Ôi đă bao nhiêu lần và ở bao nhiêu nơi tôi đă được ngắm những chiếc lá ĺa cành vùi chôn trong xứ lạ này.

Vào mùa thu khi tôi vừa đến Mỹ, đó là bờ biển Thái B́nh Dương, và năm sau, đó là giữa những cánh đồng Missouri bên bờ Hồ Michigan và trên những con phố của Washington (D.C.) và nay là lần thứ hai với những chiếc lá rơi ở New York.

Năm ngoái, lần đầu tiên tôi được nh́n những chiếc lá rơi trong thành phố này, tôi đă ngạo nghễ, hào hứng và hạnh phúc biết bao. Tôi tưởng tượng rằng ḿnh đă thấy được hết mọi điều kiện xă hội và thiên nhiên của lục địa mới – và với một sự tự tin quá lố - là nếu muốn quan sát cuộc sống của đại đô thị lớn thứ hai trên quả đất, tôi chỉ cần đến gần bên bờ hồ trong công viên vào mỗi ngày Chủ nhật và xem đám đông đi dạo là đủ

Lá đà rụng hết chưa được bao lâu th́ những cơn gió lạnh đă ào ào kéo tới, bẻ găy những cành khô và sau đó, tuyết sẽ phủ lấp hết mặt cỏ. Đây là lúc mà cái mùa của nghệ thuật và giao tế xă hội mới bắt đầu.

Được đi xem đủ loại tuồng kịch, từ Shakespeare đến Racine, sang tới Ibsen và Sudermann, tôi có cảm tưởng ḿnh như được tắm ḿnh trong kịch nghệ của thế giới, từ cổ điển cho đến hiện đại. Tôi tin rằng ḿnh biết cách thưởng thức những viễn tưởng của Wagner và kỹ xảo của Verdi. Chẳng những thế thôi, tôi cảm thấy ḿnh như sắp trở thành một trong những nhà tiên khu cho một loại h́nh nhạc kịch mà trong tương lai có thể gây tiếng vang trên đất Nhật. Tôi đă có dịp nghe những bản ḥa tấu của các giàn nhạc giao hưởng, thưởng thức cái tinh tế và cái đẹp của nhạc cổ điển, cũng như có một đam mê không bờ bến với loại tân nhạc lăng mạn. Tôi ngưỡng mộ cái bất hài ḥa và phong cách phi h́nh thức của ḍng nhạc Richard Strauss vốn chưa từng có trước đây. Hơn thế nữa, tôi thường đến thăm các bảo tàng viện nghệ thuật để chiêm ngưỡng điêu khắc của Rodin và hội họa của Manet.

Chương tŕnh, bảng liệt kê, mẩu báo cắt ra được chồng thành đống trên mặt bàn viết nhưng trong khi tôi c̣n chưa sắp xếp được chúng th́ trời đă sang mùa. Ngọn cây tiêu điều nay đă được trang sức bằng những chồi xanh hay chùm hoa, trong lúc đó, người người đem cất đi những cái áo khoác nặng trĩu để đổi lấy mấy bộ cánh nhẹ mát của mùa xuân. Bắt chước họ, tôi cũng sắm sanh quần áo mới, giày mới và mũ hẹp vành mới. Thế nhưng, thời trang ở Mỹ là thời trang của một đất nước coi trọng việc buôn bán nên có hơi kém thẫm mỹ. Để chứng minh rằng ḿnh sẽ không bao giờ chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng theo lối Mỹ, tôi đă nghiên cứu kỹ càng và tạo cho ḿnh một dáng vẻ của Daudet thời trẻ, lúc ông viết quyển “Người con gái đang yêu (L’Amoureuse) hay hơn một bậc nữa là phải làm sao để cho giống Byron. Do đó mà mỗi buổi sáng, tôi đều uốn tóc cho quăn và mang một cái cà vạt khổ rộng với một vẻ lơ đễnh nhưng thật ra là có nghiên cứu hẳn hoi.

Mọi người có thể cười cợt sự lố lắng của tôi nhưng bản thân, tôi không hề nghĩ là ḿnh lố lăng hay ngốc nghếch. Sau khi Ibsen qua đời, tôi được đọc trong một tờ báo ở Boston cho biết nhà biên kịch này có một nhược điểm không ai ngờ tới. H́nh như ông ta thích nh́n ḿnh trong gương khi đeo trên người một tấm huy chương do nhà vua ban tặng, và cố ư làm cho mái tóc bạc của ḿnh rối bù để tạo dáng và cho biết ḿnh không bao giờ dùng đến một cái lược.

Tôi không muốn kiểm tra xem tin ấy đúng hay sai nhưng bất cứ cái ǵ các nhà thơ Tây phương làm, tôi đều cảm động đến muốn khóc và không thể nào không bắt chước. V́ thế, tôi cũng đội mũ lệch nhưng với tác phong hững hờ của một kẻ không chú tâm, cũng một tay cầm cây ba-toong bằng gỗ anh đào, kẹp dưới nách tập thơ hay cái ǵ giống thế, và sau khi đứng ngắm bóng dáng ḿnh trong tấm kính một hồi, cuối cùng tôi mới bước ra công viên nơi thiên hạ dập d́u trong những buổi chiều xuân. Sau khi dạo một ṿng quanh bờ hồ như thường lệ, tôi sẽ tản bộ về phía con đường lớn có cây viền hai bên lề, nơi các bức tượng đồng của Shakespeare, Scott, Burns[2] và một số nhân vật khác được đặt cạnh nhau, rồi sẽ ngồi trên một chiếc băng dài trước mặt họ và thủng thỉnh châm một điếu thuốc lá.

Đến một lúc nào đó, khi mà hơi ấm của mặt trời mùa xuân đă đưa tôi vào trong trạng thái mơ màng, tôi có cảm tưởng rằng ḿnh đang được đứng ngang hàng với những nhà thơ bất tử kia. Mấy bắp thịt chung quanh miệng tôi sẽ thư giăn hơn để làm thành những lúm đồng tiền sâu. Nhưng rốt cuộc, tôi có  hơi ngượng về ḿnh nên đă đưa mắt lơ đăng đảo chung quanh ḿnh và nhận ra rằng đang có những búp lá non xinh xắn trổ ra trên thân cây bên đường, bầu trời trong xanh bên trên ṿm lá, cũng như màu xanh mát mắt của lớp cỏ trải rộng ra hai phía của con đường trông như là biển cỏ, và mùi hương dịu ngọt của những đóa hoa thoảng đến từ một nơi nào không rơ. Phải nói là tôi chưa bao giờ cảm thấy ḿnh hạnh phúc như vậy. 

Trước mắt tôi, các bà các cô trong những bộ áo mát đi qua đi lại không ngớt, hoặc đánh xe ngựa hoặc ngồi trên lưng ngựa nhưng khi đi ngang qua, h́nh như tất cả đều nh́n về phía tôi và mỉm cười.

Mỗi khi nh́n thấy vẻ mặt tươi cười của một cô gái thật trẻ và xinh đẹp tuyệt trần, tôi đều tự ru ḿnh vào trạng thái mộng mơ của một câu chuyện t́nh hạnh phúc...Chẳng hạn tôi sẽ viết một cái ǵ đó bằng một thứ tiếng Anh duyên dáng và một nữ độc giả hâm mộ t́m đến gặp tác giả là tôi. Chúng tôi sẽ nói với nhau từ chuyện đời, chuyện thơ phú rồi đến cả những bí mật của nhau. Chúng tôi sẽ cưới nhau và sống chung ở một miền quê cách New York chừng hai giờ tàu, nơi đó có thể là Long Island hay bờ biển New Jersey. Ngôi nhà của chúng tôi sẽ là một ngôi nhà nông thôn có sơn màu nằm giữa khu vườn cây ăn quả với những giống anh đào hay táo. Đằng sau vườn sẽ có một cánh đồng cỏ dùng vào việc chăn nuôi, từ đó nh́n về phía xa tít tắp là mặt biển.Vào những buổi chiều xuân hay chiều hè, trong hoàng hôn mùa thu hay ban ngày giữa mùa đông, tôi có thể nằm trên một chiếc ghế bành dài bên cửa sổ và lim dim ngủ sau khi đă mệt mỏi v́ đọc sách. Thế rồi tiếng đàn dương cầm réo rắt ở căn pḥng bên cạnh sẽ đánh thức tôi. Tôi thích điệu nhạc ấy phải là một bản Sonata của Listz mà vợ tôi đang dạo...Tới chỗ đó tôi bỗng choàng tỉnh rồi nhận ra rằng ḿnh vẫn nằm trên chiếc băng trong công viên và cơn gió lạnh buổi chiều đang thổi thốc vào mặt.  

Mùa xuân đắm ḿnh trong mộng như thế này rồi cả mùa hạ cũng đi qua nhưng ôi chao, chưa chi trời đă vào thu, bây giờ khi ngắm những chiếc lá vàng rơi và bày ra trên mặt đất, tôi thấy chúng như gợi cho tôi nhớ lại mối t́nh đă bị cuốn đi theo bước thời gian.

Mai mốt thôi, sẽ không c̣n một chiếc lá nào nữa. Với những cơn gió bấc lạnh lùng, mùa của các kịch trường và giàn nhạc giao hưởng sẽ quay về. Các góc phố hay nhà ga sẽ được trang hoàng bằng những tấm áp-phích với các khuôn mặt nhạc sĩ và tài tử sân khấu. Nhưng tôi không biết lúc đó ḿnh có c̣n là một kẻ hâm mộ nghệ thuật với một thái độ táo bạo, bất cần đời, nhưng rất hạnh phúc như hồi năm ngoái hay không? Và mai kia, khi xuân lại đến, tôi có c̣n dễ dăi để cho phép ḿnh vùi đầu vào những giấc mộng phù du ấy nữa chăng?

Mơ mộng, tự đầu độc, sống trong ảo ảnh, đó là tất cả cuộc đời chúng ta. Chúng ta mong đợi t́nh yêu và mơ đến thành công nhưng thực sự không hề có ư định đạt được nó. Chúng ta chỉ đeo đuổi những ảo vọng mà chúng ta nghĩ rằng chúng có thể trở thành hiện thực và chúng ta tự đầu độc ḿnh bằng sự phỏng đoán và mong ngóng này.

Baudelaire nói rằng, câu hỏi duy nhất được đặt ra là “Có nên tự đầu độc hay không?” Nếu bạn muốn tránh khỏi phải gánh lấy sức nặng khủng khiếp của thời gian đè lên vai ḿnh và d́m bạn xuống đất đen, bạn nên để cho ḿnh “say” và không nên lưỡng lự về điều đó. Bạn “say” với cái ǵ cũng được, dù là rượu ngọt, thi ca, đạo đức, vv..Không thành vấn đề. Nếu đôi khi, trên bậc thang của một lâu đài, trên băi cỏ một thung lũng hay trong căn pḥng hoang vắng, th́ xin bạn hăy đặt câu hỏi cho gió, cho sóng, cho ngàn sao, cho chim trời, cho đồng hồ, những cái ǵ biết bay, biết chuyển động, biết nói, biết hát, xem bây giờ là thời gian ḿnh phải làm ǵ? Gió, sóng, ngôi sao, chim trời  và đồng hồ sẽ trả lời bạn là bây giờ bạn phải “say” bất luận với món ǵ dù là rượu ngọt, thi ca, đạo đức hay là một thứ nào khác. Nếu bạn không muốn trở thành nô lệ của Thời gian, bạn phải luôn luôn tự đầu độc.[3]

Chung quanh tôi, màn đêm đă trùm lên tất cả. Khu rừng sẫm đen, bầu trời đen và mặt nước cũng đen. Thế nhưng, tôi vẫn c̣n ngồi trên chiếc băng, nh́n những bóng lá đang bay tan tác dưới ánh đèn điện lóe lên giữa hàng cây.

 (New York, tháng 10/1906)

 

Dịch ngày 13/07/2021

[1] Bản dịch của Trần Mai Châu (trên trang mạng Thi Viện). Xin cám ơn.

[2] William Shakespeare (1564-1616), Sir Walter Scott (1771-1832), Robert Burns (1759-96), ba nhà văn hóa lớn người Anh

[3] Phần này trông giống như bản dịch bài thơ “Hăy say đi!” (Enivrez-vous!) của Baudelaire sang tản văn. Có thể xem nguyên tác trong thi tập nhan đề”Le Spleen de Paris” (1869) của nhà thơ.

 

Thư mục tham khảo: 

1-     Nagai Kafuu, Ochiba trong Amerika Monogatari (Truyện Bên Mỹ),  tùng thư Iwanami Bunko, Nxb Iwanami, Tôkyô.Sơ bản năm 1952, tái bản lần thứ 4 năm 2005. Nguyên tác Nhật ngữ.

2-      Nagai Kafuu, Fallen Leaves trong Amerika Monogatari (American Stories) do bà Iriye Mitsuko dịch Ochiba sang Anh văn từ Zenshuu (Toàn tập) về Nagai Kafuu , tập 18 của nhà Iwanami ra đời năm 1964. Columbia University Press (London, New York) xuất bản năm 2000. Bản ngoại văn tham chiếu.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com