|
Các loại vai diễn:
Tuồng
Nô có rất ít vai diễn tuy số người được phép lên sân khấu ngày nay
đă đông hơn trước nhiều. Có mấy loại chính: Shite, Waki, Tsure,
Tsure Tomo và Ai Kyôgen
Shite:
仕手Người hành động tức Vai chánh. Có hai loại Shite: một cho phần đầu,
một cho phần sau. Trong Nô mộng huyễn chẳng hạn, vai chánh phần đầu
(Maejite) thường là h́nh ảnh giả tạo hay hóa thân của nhân vật và
hăy c̣n sống trong lầm lạc. Vai chánh phần sau gọi là Nochijite mới
là con người thật lúc sinh tiền, nay đă giác ngộ.
Waki:
脇Cái nách, bên sườn tức Vai phụ. Có nhiệm vụ dẫn đường, sẽ giải
thích lư do vai chính (shite) bước ra sân khấu. Các nhà nghiên cứu
cho rằng vai Waki là “con mắt” của khán giả, thay mặt cho họ - những
con người hiện thực - lên sân khấu để đặt câu hỏi cho Shite.Trong
một số tuồng Nô như Funa Benkei, vai phụ này (Benkei) có khi lại
quan trọng hơn vai chính (Yoshitsune).
Tsure:
連れTùy tùng. Mỗi Waki hay Shite có tùy tùng riêng. Tuy nhiên, có khi
các vai này không cần đến họ.C̣n khi dùng tới, họ có thể lên đến
mười hay mười hai người.
Tomo:
ともPhụ tá, đầy tớ của tùy tùng.
Ai: 間Xen kẻ. Vai phụ
chen vào giữa khoảng trống giữa hai màn để diễn một lớp Kyôgen (Cuồng
ngôn) thường có mục đích giải thích sự việc xảy ra trong quá khứ
dưới con mắt khách quan của người thứ ba. Theo nhà nghiên cứu Armen
Godel, vai Ai là một kẻ đồng lơa (complice), tượng trưng cho một kư
ức tập đoàn ngày nay đă nhạt nḥa. Vai Ai đứng bên ngoài ṿng luân
hồi trong khi các nhân vật trong tuồng hăy c̣n vướng mắc bên trong.
Riêng
về Kyôgen, nó c̣n là tên gọi của một lớp diễn độc lập với Nô kèm
thêm yếu tố hài.
***
Về
mặt tổ chức, không phải diễn viên nào cũng có quyền thủ vai Shite.
Thông thường vai này phải do người của các gánh mang danh hiệu
Shitekata đóng. Các Shitekata c̣n độc chiếm cả các vai kép con (kokata),
vai tṛ hát jiutai và nhận cả việc sắp xếp các đạo cụ trên sân khấu
(koken). Do đó, Shitekata có nhân sự rất đông đảo. Những chi lưu có
quyền thủ vai Shite là Kanze, Umewaka, Hôshô, Komparu, Kongô và
Kita.
Đối
xứng với Shitekata có các Wakikata. V́ là những con người hiện thực
nên Wakikata không đeo mặt nạ như các Shite thường làm mà để mặt mộc
(Hitamen / Hita-omote). Nếu có một ngoại lệ th́ đó là vở Kantan khi
vai Waki hiện ra trong một giấc mộng. Tuy vậy, không hẳn vở Nô nào
cũng có Waki, chẳng hạn trường hợp các vở “khuyết Waki” như Hashi
Benkei hay Kosode Soga.
Wakikata
đánh mất vai tṛ đối trọng từ khi Zeami xem nó chỉ là một trong 3
vai tṛ phụ thuộc của Shitekata, cùng với vai tṛ của người chơi
nhạc (Hayashikata) và diễn Kyôgen (Kyôgenkata). Cả ba được gọi là
San.yaku tức “3 chức vụ”. Những Wakikata thường là người của các chi
lớn (za). Ví dụ lưu phái Shindôryuu và Fukuôryuu phát xuất từ
Kanzeza, Shuntôryuu từ Komparuza, Shimogakari Hôshôryuu từ Hôshôza.
Về
mặt âm nhạc th́ có những nhà chuyên chơi nhạc khí (trống đại, trống
lớn, trống nhỏ và tiêu), hợp thành” tứ phách tử”. Họ có tên là
Hayashikata.Trống đại ít khi được dùng. Có vở như Okina chỉ cần 3
tay trống nhỏ và không có các nhạc khí khác đi kèm. Các người chơi
trống lớn (Ôtsuzumikata), trống nhỏ (Kotsuzumikata) đều có lưu phái
của ḿnh. Ống tiêu (Fue) là nhạc khí duy nhất trong tứ phách tử có
đặc sắc là ngoài âm luật c̣n đặt trọng tâm vào sự nhịp nhàng của làn
điệu. Ngày nay, vẫn c̣n 3 phái tiêu (Fuekata) nổi tiếng v́ phong
cách riêng của họ.
Mặt
nạ tuồng Nô:

Nômen能面
hay mặt nạ trong tuồng Nô được dùng để diễn tả h́nh ảnh của những
vai mà mắt thường không thể nh́n thấy được (như quỉ thần hoặc oan
hồn) nhưng có khi cũng là để tŕnh bày một quan niệm thẩm mỹ. Người
Nhật gọi mặt nạ là Men hay Omote. Tính ra xưa có khoảng 60 kiểu mặt
nạ cơ bản nhưng ngày nay đă đến ngoài 200 dù không phải tất cả đều
được đem ra dùng.
Nô
bắt đầu sử dụng mặt nạ từ lúc nào th́ không ai rơ, điều đó c̣n tùy
thuộc vào các giả thuyết về nguồn gốc của Nô. Cụ thể th́ người ta
biết mặt nạ đă được dùng trong Sarugaku no Nô vào thời Kamakura (từ
cuối thế kỷ 12 đến giữa thế kỷ 14).
Lúc
mới xuất hiện mặt nạ chỉ có công dụng diễn tả h́nh dạng của thần
linh và hồn phách, sau đó cùng với sự phức tạp hóa của kịch bản, đă
trở nên đa dạng. Từ thời Kamakura bước qua đầu thời Nam Bắc Triều (Nhật
Bản, từ giữa thế kỷ 14) th́ chỉ có các loại mặt nạ chính như mặt nạ
người già, đàn ông, phụ nữ và quỷ thần.
Chính
ra vào lúc Nô mới xuất hiện, mặt nạ đă được dùng trong các h́nh thức
nghệ thuật sân khấu khác như Bugaku (Vũ nhạc) 舞楽, Gyôdô (Đạo hành)
道行, Gigaku (Kỹ nhạc) 伎楽,Tsuina (Truy na) 追儺vốn có nguồn gốc nước
ngoài (Ấn Độ, Trung Quốc). Thế nhưng người Nhật đă sớm nhận ra rằng
họ không cảm thấy thoải mái khi đeo lên để tŕnh diễn v́ họ thấy
chúng không phù hợp với cử chỉ, động tác quen thuộc của ḿnh. Từ đó
mới nẩy sinh ra nhu cầu sáng chế những mặt nạ thuần Nhật (dĩ nhiên
là sau khi đă trải qua một giai đoạn bắt chước).
Phải
nói là vào buổi đầu Nômen rất nặng màu sắc tôn giáo và điều đó chúng
ta có thể thông cảm được. Sách Sarugaku Dangi của Zeami đă kể ra một
số tên mặt nạ như sau: Okina, Ôbeshimi, Kobeshimi, Tobide, Akujô,
Tenjin, Onnamen, Otokomen, , Jômen...Ngoài các mặt nạ quỷ thần (gạch
dưới) th́ các mặt nạ về con người (không gạch dưới) hăy c̣n rất đơn
thuần chứ chưa được phân biệt một cách phức tạp như ngày nay. Cùng
lắm th́ bên cạnh chúng chỉ kể thêm được Wakai Onna (Đàn bà trẻ),
Wakai otoko (Đàn ông trẻ), Waraijô (Ông già cười) vv...mà thôi. Có
thể nói hệ thống các Nômen chỉ được hoàn thành vào khoảng giữa 80
năm của thời Muromachi (1392-1573) và kể từ dạo ấy, chúng bớt đi
tính cách tôn giáo và có thêm tính sáng tạo. Các mặt nạ với những
nét sống thực của con người lần lượt được đem ra sử dụng bên cạnh
các mặt nạ có tính tôn giáo nhưng với mục đích là che dấu những nét
xấu xí, suy yếu trên khuôn mặt và nhấn mạnh về những nét đẹp. Có thể
đây là ảnh hưởng đến từ Nô huyển mộng của thời đại trước vốn đặt ưu
tiên cho cái đẹp u huyền.
Kẻ
từ cuối giai đoạn Muromachi cho đến thời tiền cận đại, nhiều chuyên
gia chế mặt nạ (gọi là men.uchi面打) cha truyền con nối đă xuất hiện.
Có thể kể đến gia đ́nh Deme出目 ở vùng Echigo, Izeki 井関ở Ômi là những
men.uchi nổi tiếng. Trước đó, tổ tiên họ đă là những nhà chuyên môn
điêu khắc tượng Phật (gọi là Busshi = Phật sư), chế tạo tượng thần (Jinin
= Thần nhân) hay làm các loại trống (Tsutsumishi = Cổ sư). Nhân v́
có nhiều kẻ muốn kiếm ăn bằng cách mô phỏng lối chế tạo của họ nên
đến đời Edo th́ đă nẩy sinh ra nhu cầu giám định tác phẩm để ǵn giữ
bản quyền.Tuy vậy, nh́n chung th́ khi mà khuynh hướng mô phỏng lấn
lướt, tính sáng tạo cũng theo đó mà mai một dần.
Theo những ghi chép
vào thời Muromachi th́ từ thời Kamakura cho đến lúc đó, những
Men.uchi tên tuổi là Nikkô, Miroku, Shakuzuru, Echi, Yasha, Tokuwaka,
Tatsuemon, Koushi, Chigusa ...nhưng tác phẩm của họ có c̣n không th́
không ai được biết, họa chăng là một cái mặt nạ nhỏ dành cho đàn bà
(ko-omote) của Tatsuemon mà ngày nay mẫu mực vẫn c̣n được phục chế.
Nói
chung, mặt nạ tuồng Nô được chia theo những hệ thống như sau:
1) Hệ Okinamen 翁面 (Mặt
nạ ông lăo và có tính cách thiêng liêng): Gồm có các kiểu mặt nạ
Okina, Sanbasô, Chichinojô, Enmei Kaja.
2) Hệ Jômen 尉面 (Mặt nạ
người già): Gồm có Koushijô, Akobujô, Sankôjô, Asakurajô, Waraijô,
Maijô, Ishiôjô.
3) Hệ Kijinmen鬼神面 (Mặt
nạ quỷ thần): Gồm có Beshimi, Tobide, Tenjin, Akujô, Shikami,
Kurohige, Ikazuchi, Shishiguchi.
4) Hệ Onryô no men怨霊面
(Mặt nạ oan hồn). Đó là những kẻ chết v́ chiến tranh hay oan ức,
điên cuồng v́ ganh ghét, ghen tương. Bên nam giới th́ có các loại
mặt nạ như Ayakashi, Mikazuki, Awaotoko, Kawazu, Taka. Phía nữ giới
th́ có Ryô no Onna, Hashihime, Hannya, Deigan, Yamamba...
5) Hệ Onnnamen 女面 (Các
mặt nạ nữ tùy theo tuổi tác): Gồm Wakaonna, Sonjirô, Wakai ko.omote
là những mặt nạ phụ nữ trẻ hay Uba, Rôjô, Fukai, Shakumi ...là những
mặt nạ bà già.
6) Hệ Otokomen 男面 (Các
mặt nạ nam tùy theo vai tṛ): Gồm Taizo dành cho vơ tướng, Chuujô,
Imawaka, Juuroku dành cho quí tộc, Kantan dành cho những kẻ có tâm
sự dằn vặt, Jôji dành cho trẻ con hay Semimaru, Yoroboshi dành cho
người mù.
7) Hệ Tokushumen特殊面 (Mặt
nạ đặc biệt): Mặt nạ Kakekiyo được đeo khi đóng vai Kagekiyo, mặt nạ
Shunkan được đeo khi đóng vai Shunkan. Trường hợp ông tiên Ikkaku
Sennin th́ cũng vậy.
Ngoài
ra c̣n có Hitamen (Mặt mộc) 直面. Thường là khuôn mặt trần không biểu
lộ cảm t́nh. Cho nên mới có câu nói:”Trong tuồng Nô, mặt mộc là một
loại mặt nạ của diễn viên”.Nguyên lai, mặt nạ đă phát sinh ra từ nhu
cầu diễn xuất h́nh ảnh chư thần hay hồn ma cho nên khi diễn vai một
người b́nh thường th́ để mặt mộc là hay hơn cả.
Thông
thường Shite (vai chánh) và tùy tùng của vai này là những người mang
mặt nạ. Khi đóng vai đàn bà hay người già, Shite luôn luôn đeo mặt
nạ. Người trẻ - đặc biệt là vũ sĩ – th́ không đeo, vai trẻ con cũng
vậy.Tuy vậy, trong tuồng Atsumori chẳng hạn, lớp đầu Shite để mặt
mộc (Hitamen) nhưng trong lớp sau th́ mang mặt nạ gọi là Juuroku (Thập
lục) ư nói vai chánh đă trở về với cái tuổi 16 lúc chết của ḿnh.
Trang
phục diễn viên:
Vào
thời của Kan.ami và Zeami th́ người ta c̣n ăn mặc b́nh thường khi
lên sân khấu. Thế nhưng ngày nay y trang diễn Nô đă trở thành lộng
lẫy diêm dúa. Lư do trước tiên là các diễn viên có nhu cầu chưng phô
cái đẹp khi tŕnh diễn nhưng một phần cũng đến từ tập quán là lớp
quí tộc vũ gia đến dự khán thường cao hứng cởi bớt áo xống lụa là
gấm vóc của họ để ban thưởng cho diễn viên ngay tại chỗ. Tập quán
này gọi là “Kosode-nugi” 小袖脱 hay “Suô-nugi” 素袍脱. Đặc biệt vào thời
Azuchi Momoyama, kinh tế phát triển và ngành dệt và nhuộm cũng phồn
vinh cho nên quần áo mặc diễn Nô càng ngày càng đẹp mắt. H́nh thức
trang phục của Nô xem như đă được cố định hóa vào thời Edo trung kỳ
(thế kỷ 18).
So với mặt nạ th́ y
trang của Nô đơn giản hơn (nhưng dù sao, đối với chúng ta, nó vẫn
c̣n phức tạp). Thường gồm 6 loại đồ bộ (kitsuke), 6 loại áo nhẹ (kosode),
9 loại áo bào (hô), 4 loại quần váy (hakama). C̣n về h́nh thức th́
có 4 kiểu: áo thêu kiểu Trung Quốc (như gấm đất Thục) hay kiểu Triều
Tiên (cả hai gọi là Karaori), áo mỏng và nhẹ kiểu Nhật Bản b́nh
thường (Mizugoromo), áo bằng vải hay lụa có hoa văn hoặc gắn kim nhũ,
ngân nhũ (Surihaku) và áo tay thụng không cài khuy ngực dùng trong
lúc múa (Maiginu).Những diễn viên đóng vai một nhân vật có chức vụ
nào đó th́ mặc y theo trang phục của chức đó ngoài đời nhưng cũng
cần được thêm thắt đôi ba chi tiết khi lên sân khấu.
Áo
xống có màu đỏ gọi là Iroiri色入り, nếu chỉ có màu trắng hoặc những màu
khác th́ gọi là Ironashi色なし. Màu đỏ dành cho vai nữ ở lứa tuổi 20
trong khi vai nữ 30 đến 40 tuổi th́ phải dùng những màu khác. Dĩ
nhiên màu áo của diễn viên phải tương ứng với ư nghĩa của kiểu mặt
nạ nhân vật trong tuồng.
Diễn
viên c̣n mang nhiều thứ trang sức phụ thuộc khác như các loại thắt
lưng (hachimaki, koshiobi...), giải giây dài buộc tóc (kazuraobi...)
và đội mũ măng, đóng khăn (kanmuri, eboshi, zukin...) với mẫu mă và
màu sắc khác nhau tùy theo vai diễn.
Mái
tóc (kazura) cũng dùng để định h́nh các vai. Có vai không tóc nhưng
có vai để tóc dài và buông phủ (tare) màu trắng (shirotare) hay đen
(kurotare). Tóc trắng tượng trưng cho tuổi già, tóc đen để chỉ nam
hay nữ thần.Thường là tóc mượn làm bằng lông ngựa. Có khi chỉ tuyền
một màu và chụp lên đầu. Loại chụp đầu tuyền đen (kurogashira) dành
cho các vai thần linh và yêu quái, đồng tử, trong khi loại tuyền
trắng (shirogashira) dành cho người già với ư nghĩa là kẻ đă sống
qua nhiều kiếp, c̣n loại tuyền đỏ (akagashira) dành cho long thần,
quỷ súc (quỷ sứ, súc vật) hoặc tượng trưng cho hoang thần tức những
v́ thần dữ tợn.
Phông
cảnh và đạo cụ cần thiết:
Là
một h́nh thức sân khấu có tính tượng trưng, Nô không cần nhiều phông
cảnh hay đạo cụ. Nói chung th́ ngoài cây lăo tùng nằm giữa sân khấu
tượng trưng cho ḍng thời gian và mấy cây tùng để định vị trí, các
tsukurimono (phông cảnh đặc chế), dôgu (đạo cụ) và shôdôgu (tiểu đạo
cụ) được dùng tối thiểu và làm bằng những liệu nhẹ (giấy, lụa, vải
vóc, tre, lá...) hay là vật có thực để các kokennin (người lo sắp
xếp bày biện) có thể đem ra và dọn vào một cách gọn gàng theo cánh
cửa hông (kirido).
Xưa
kia, có những người chuyên môn chế tạo phông cảnh được gọi là
tsukurimono-shi (tạo vật sư), nhưng ngày nay công việc này đều do
các Shitekata đảm nhận. Xe, ghế, thuyền, đài, giường, lều cỏ ...hay
hang động, lâu đài, cung điện, núi non chăng nữa đều có thể thiết kế
một cách khéo léo và nhẹ nhàng.
Dôgu
(đạo cụ) đa dạng nhưng không khó thực hiện. Gậy đi đường, cần câu,
mái chèo, chỗi, liềm cắt cỏ...có thể làm bằng tre trúc hay cành lá
nhỏ...Shôdôgu (tiểu đạo cụ) như chuỗi hạt, lồng, lưới, bút giấy ..th́
dùng ngay những vật có thực miễn là không quá khổ. Đặc biệt là sự đa
năng của lá quạt (ôgi) v́ hầu như trong vở tuồng nào nó cũng có mặt.
Tùy lúc x̣e ra lúc khép vào, nó có thể tượng trưng cho nhiều vật
dụng khác nhau và c̣n dùng để đánh nhịp hay cầm trên tay làm các
động tác bổ sung ư nghĩa cho vũ khúc.

Bốn nhạc công trong “Tứ phách Tử”
Các
loại động tác và vũ khúc:
Trước
tiên, trong tuồng Nô có một số động tác (Hataraki) 働 ước lệ. Ví dụ
động tác Uchiawase 打合せ(dang rộng hai cánh tay, nghiêng ra đằng trước
rồi khẽ chập tay vào nhau) diễn tả những t́nh cảm như giác ngộ hay
kinh ngạc. Shiori シオリlà động tác khóc. Nếu là một vai nam th́ đưa
bàn tay phải lên che ngang tầm mắt, c̣n diễn viên nữ th́ đưa bàn tay
trái. Động tác Kumorasuクモラス (cúi gầm mặt) tượng trưng cho tâm trạng
ưu tư và sầu khổ. Động tác Terasu 照ラス(ngửa mặt lên trời) là để biểu
lộ một niềm vui. Động tác Yubiori 指折り(mở ḷng bàn tay và gập lại
từng ngón tay một) làm ra vẻ đang tính toán thời gian. Động tác
Tobikaeri 飛び返り(lùi ra sau, nhảy dựng và vặn ḿnh trong khi mặt vẫn
hướng ra phía trước) biểu lộ một sự kích động dă lên đến cao điểm,
thường được thấy trong các tuồng thuộc lớp 2 (tu-la). Các động tác
Kakeri カケリ(nhiều h́nh thức tùy theo vai) miêu tả nỗi thống khổ và
hoang mang cũng có thể thấy trong những vở thuộc lớp 2 này.
Có
những động tác phối hợp với lá quạt. Số lượng ấy khá phong phú. Quạt
ở đây là quạt kiểu Nhật thời Heian (Ôgi) 扇xếp lại x̣e ra đều được
chứ không phải quạt Trung Quốc (Uchiwa / Đoàn phiến) 団扇 nguyên một
tấm. Giả dụ khi muốn cho biết ḿnh đang ngắm trăng th́ diễn viên lấy
tay phải nâng tấm quạt lên bờ vai phải và ngước mắt nh́n lên về phía
tay phải. Động tác đó gọi là Kakae-ôgi抱え扇. C̣n như muốn giả vờ ngủ
hay làm bộ ẩn nấp để không ai thấy th́ lấy tay trái x̣e quạt rồi
ngồi xuống và đưa quạt ấp vào mặt ḿnh. Động tác đó gọi là Makura no
ôgi枕の扇.
Ngoài
các động tác mà một số không nhất thiết phải có nhạc khí chơi kèm,
đặc biệt Nô có rất nhiều vũ khúc diễn với nhạc đệm, gọi là Mai舞. Hầu
như mọi vở tuồng đều có vũ khúc. Vũ trong tuồng Nô gồm những động
tác rời rạc và chậm chạp, trịnh trọng chứ không linh hoạt như vũ Âu
Mỹ. Shite có năm động tác chính trong khi các vai phụ chỉ có ba.
Trong khi vũ hay lúc làm điệu bộ mà không nói năng (monomane), những
cái dậm chân xuống sàn để đánh nhịp (ashibyôshi)足拍子 đóng một vai tṛ
quan trọng.
Hai
loại Senzai no mai (Thiên tuế vũ), Okina no mai (Ông vũ) có thể thấy
trong các tuồng dùng để chúc tụng. Cũng vậy, Tennyo no mai (Thiên nữ
vũ) có mặt trong các vở thuộc nói về các hung thần hay Long thần và
do các vai tiên nữ đảm nhiệm. Jo no mai (Tự vũ) là khúc múa của hồn
ma các du nữ ( và kỹ nữ), mỹ nữ hay lăo nữ. Chuu no mai (Trung vũ)
là khúc múa dành cho phụ nữ và các cuồng tăng, Haya no mai (Tảo vũ)
là điệu múa của nam giới hay phụ nữ đă giác ngộ Phật đạo, Kyuu no
mai (Cấp vũ) là điệu của vai thần hay quỷ với đặc điểm là theo một
nhịp điệu dồn dập. Cũng có các điệu múa cho quỷ và súc vật, ví dụ
Shôjô no mai (Tinh tinh vũ) dành cho con tinh tinh say rượu và điệu
Shishi no mai (Sư tử vũ) hay múa sư tử, múa lân.
Ca
từ và âm nhạc:
Yôkyoku
(Dao khúc) có nghĩa là ca từ tuồng Nô. Một phần được viết bằng văn
xuôi, một phần bằng thơ, có thể hát được. Chúng hết sức diêm dúa,
đẽo gọt, liên kết với nhiều điển cố và nặng về từ hoa (luyến láy,
gợi ư và sử dụng các h́nh thức chơi chữ), nói chung là rất ư nhị,
phát huy bằng cách dựa trên khả năng liên tưởng của người xem thường
bắt buộc phải có kiến thức. Do đó, khán giả của Nô rất chọn lọc.
Trước tiên, chúng ta thường gặp những thuật ngữ như sau trong lời
chú dẫn của ca từ:
Kakeai:
掛合Bắt chuyện với nhau (từ đó sinh ra Kakeai no uta: hát đối đáp).
Katari: 語
Là từ thu ngắn của Monogatari tức kể chuyện. Đó là lối kể lể b́nh
thường trên sân khấu, không theo âm vận và không có nhạc đệm.Tuy
nhiên giọng kể cũng phải diễn tả được sự biến chuyển trong tâm lư
nhân vật (phấn khích, thoải mái hay dằn nén) ở mỗi giai đoạn.
Michiyuki:
道行Một đặc điểm của văn nghệ Nhật Bản gắn liền với sở thích hành
hương và t́nh yêu thiên nhiên của người Nhật. Để chỉ một đoạn văn tả
cảnh đi đường (Michiyukibun = Đạo hành văn) đến một nơi nào đó nhưng
cùng lúc, tŕnh bày tâm t́nh của lữ khách. Thường được viết một cách
uyển chuyển, hoa lệ, gợi nhiều điển xưa tích cũ. Được sử dụng trong
Nô (qua vai Waki), trong cả Jôruri lẫn Kabuki.
Mondô:
問答đối đáp, thảo luận.
Về
mặt âm nhạc, giữa một rừng thuật ngữ, cần phân biệt một số khái niệm
thường xuất hiện như sau (nhưng cách phân biệt hay nhất vẫn là đi
xem tại chỗ sau khi đă nắm được những khái niệm trên lư thuyết):
Ageuta:
上歌Điệu hát với cung bậc cao nhưng theo nhịp b́nh thường. Dùng khi
hát Michiyuki (văn đi đường) hay hát Machiutai (hát chờ) khi đang
đợi Nochijite (vai chánh trong lớp sau) bước ra sân khấu
Ashirai:
会釈Điệu nhạc nhàn nhă được tấu lên khi nhân vật bước ra sân khấu hoặc
rút lui.
Hayafue:
早笛Tiếng tiêu là chính, tiếng trống là phụ, tất cả theo một nhịp
nhanh để bày tỏ sự mừng rỡ của nhân vật sắp xuất hiện. Cũng có
trường hợp tiếng tiêu không kèm theo tiếng trống.
Nori:
ノリCách nhả chữ. Gồm nhiều loại như Hiranori (Cách hát một câu theo
điệu 7/5 trong ṿng 8 nhịp phách là lối hát thông thường nhất của Nô,
thích hợp cho tự t́nh hay thuật sự như trong văn tả cảnh đi đường),
Chuunori (Cách hát hai âm trong một nhịp phách, dành cho các vở
tuồng tu-la có chiến đấu và khổ muộn) và Ônori: (Cách hát kéo dài
một chữ cho hết một nhịp phách để bày tỏ thái độ ung dung như khi
hồn ma, quỷ thần xuất hiện).
Ikkan: 一管Dùng
ống tiêu như nhạc khí duy nhất để đệm theo bài hát.
Issei
: 一声Cách hát khúc ageuta với nhịp điệu 5/7/5/7/5.
Itchô:
一調Cách hát gồm một tay trống và một người hát. Trống là chính và hát
là phụ.
Ji:
地tên tóm gọn của Jiutai (địa dao) tức bài hát dân dă ở địa phương
hay lời ca của những bài ấy.
Rengin:
連吟Hai, ba người ngâm nga liên tiếp một đoạn thơ.
Sageuta:
下歌Bài hát với cung bậc thấp, gồm 2 đến 4 câu theo nhịp 7/5.
Shibyôshi:
四拍子Tứ phách tử hay 4 nhạc khí cơ bản của Nô gồm ống tiêu, trống nhỏ,
trống nhỡ và trống lớn.
Shidai:
次第Bài hát định h́nh với ca từ gồm 3 cầu theo điệu 7/5/7/5 theo nhịp
trung b́nh.Thường thấy trong đoạn giáo đầu lúc vai Waki bước ra sân
khấu.
Gin: 吟Cách phát âm. Có
ba loại gồm loại yếu (yowagin hay jakugin = nhược âm), vừa phải (chuugin
=trung âm) và mạnh mẽ (tsuyoin hay gôgin = cường âm).
Tsukizerifu:
着ゼリフđoạn văn tả cảnh đi đường cho biết ḿnh đă đến nơi.
Tsubu:
粒tiếng trống nhỏ hay trống lớn nếu được đánh rời rạc từng âm một.
Cơ
sở mỹ học Nô: các tác phẩm nghiên cứu
Về
loại sách nghiên cứu Mỹ học Nô, trước tiên phải nói đến
Fuushinkaden (Phong Tư Hoa Truyền) 風資花伝, c̣n gọi là
Kadensho (Hoa Truyền Thư) 花伝書của Zeami Motokiyo, soạn giả và diễn
viên lỗi lạc nhất trong lịch sử sân khấu Nô. Sách gồm 7 quyển, do
Zeami viết ra trong ṿng 5 năm từ niên hiệu Ứng Vĩnh thứ 5 (1398)
tức lúc ông khoảng 36 đến 40 tuổi.
Quyển
1 có tính cách tự truyện nhưng nhằm mô tả 7 giai đoạn trong quăng
đời tu tập của một diễn viên từ năm 7 tuổi cho đến ngoài 50 tuổi,
những ǵ người ấy phải học và phải làm. Quyển 2 nói về 9 đối tượng
diễn xuất: phụ nữ, lăo ông, mặt mộc (hitamen, hitaomote), kẻ điên (monogurui),
pháp sư, hồn ma các vơ sĩ (trong loại Shura = Tu la) thần, quỷ,
người ngoại quốc (trong loại Karagoto = Nô hung hăn). Ngoài ra c̣n
có tiết mục liên quan đến thái độ cần có khi diễn các tṛ nhại (monomane).
Quyển thứ 3 là mục hỏi và trả lời chung quanh những cách diễn xuất
nói trên.
Tóm
lại, trong 3 quyển đầu, Zeami muốn truyền lại những bí quyết để
người diễn bộc lộ được cái Hana (hoa). Hana có thể hiểu là tinh túy,
sự hấp dẫn và sự thanh lịch (grace, charm) mà diễn viên bộc lộ khi
đứng trước khán giả. Có cái Hana tạm thời (Jibun no Hana) 時分の花 diễn
viên có thể đạt được ở một thời điểm (jibun) nào đó cũng như có cái
Hana thực sự (Makoto no Hana) 真の花và vĩnh cửu, đích nhắm họ phải vươn
tới măi.
Quyển
thứ 4 có tên là “Thần nghi” 神儀tŕnh bày cách hiểu về lịch sử tuồng
Nô mà ông xem như một h́nh thức văn nghệ có tính cách thiêng liêng.
Quyển 5 triển khai chủ đề “Áo nghi” 奥儀chứng minh rằng tuy các lối
diễn xuất có khác v́ trường phái nhưng vẫn đồng qui về một điểm là ư
nghĩa uyên áo của Nô và nó được thể hiện qua cái Hana (Hoa) mà một
diễn viên tài năng phải ǵn giữ trọn đời bằng cách thường xuyên trau
giồi. Quyển 6 nhan đề “Hoa tu”花修 đưa ra những điều mà một soạn giả
phải lưu ư khi viết kịch bản.
Quyển
7 “Biệt chỉ khẩu truyền” 別紙口伝nói lên sự quan trọng của việc truyền
thụ kỹ năng bí truyền của Nô và thái độ cảnh giác cần có để không
truyền đạt nó bằng miệng cho những kẻ chưa đủ tư cách.
Chính
ra Fuushikaden là một bí kíp dành riêng cho gia đ́nh Zeami nên không
ai ở ngoài biết tới. Bí kíp này chỉ được ra mắt công chúng vào cuối
thời Meiji nhờ ở nhà giáo và học giả sử địa Yoshida Tôgo
(1864-1918), người đă phát hiện nó.
Tác
phẩm thứ hai có tên là Hanakagami (Hoa Kính) 花鏡 cũng do Zeami
viết để truyền những bí quyết để thực hiện và ǵn giữ cái “Hoa”花.
Nếu Fuushinkaden là nơi ông chép lại những điều mà Kan.ami, cha ḿnh,
dạy dỗ th́ trong Hanakagami ông viết lên mặt giấy những điều chính
ông phát kiến kể từ lúc về già, trong đó đề cập đến 6 đề mục, 12
điều khoản. Tác phẩm viết xong vào năm 1424 và ông đă truyền ngay
cho con trai ḿnh là Motomasa, sau đó (1437) đến lượt con rể là
Komparu Zenchiku. Trong sách, phần khái luận chiếm 6 chương, phần
triển khai gồm 11 chương cùng với 1 chương kết luận, tổng cộng 18
chương. Nói chung, ông cho biết khi diễn Nô, diễn viên phải chuẩn bị
tinh thần như thế nào.Trong chương 1 của phần khái luận, ông đưa ra
thuyết “nhất điệu, nhị cơ, tam thanh” 一調二機三聲đặt nặng vai tṛ của
nhịp điệu trên cả âm thanh. Trong chương hai, ông dặn ḍ phải “động
thập phân tâm, động thất phân thân” 動十分心動七分身, nghĩa là cái di động
của tâm (10 phần) phải quan trọng hơn cử động của châu thân (7 phần).
Trong chương ba, ông thuyết giảng về “thân động túc đạp” 身動足踏tức nói
đến các động tác và đặc biệt là những cái dậm chân đánh nhịp. Chương
thứ tư triển khai nguyên lư “tiên văn, hậu kiến” 先聞後見 nghĩa là cho
nghe âm thanh trước khi cho xem động tác, chương năm giảng nghĩa câu
“tiên Năng kỳ vật thành, khứ Năng kỳ vật tự” 先能其物成去能其物似ư khuye phải
nhanh chóng hoàn thiện tư thế của ḿnh (thành) trước khi học đ̣i bắt
chước (tự) theo ai khác. Chương sáu bao hàm trong 4 chữ “vũ thanh vi
căn” 舞聲為根, ư nói cái đẹp của vũ khúc và của âm thanh (khúc hát và
tiếng nhạc) là cơ sở của Nô. Bước vào phần triển khai, ông chú trọng
đến việc giải quyết những vấn đề nội tâm của diễn viên, trong đó có
thái độ nhạy cảm trước tâm cảnh của người xem để nắm lấy cơ hội giữ
thế chủ động (chương 1), việc theo đúng thứ tự “tự-phá-cấp” 序破急khi
tŕnh diễn (chương 2) và tiến lên từng giai đoạn một trong khi tập
luyện (chương 3).Theo ông, nếu có sự mâu thuẫn giữa tâm lư và kỹ
năng th́ kỹ năng bắt buộc phải phát xuất từ chỗ đứng của cái tâm (chương
4), như thể mới tiến bộ được về nghề nghiệp, hơn nữa, khi đạt đến
cảnh địa vô tâm th́ sẽ trở thành diễn viên tiếng tăm. Chương 6 bàn
về “thiển thâm chi sự” 浅深之事. Ở đây, ông dạy cách phân tâm thành
những mảnh nhỏ tinh vi và làm cho thân thể phản ứng tùy theo trường
hợp để lúc th́ bộc lộ cái nông cạn (thiển) lúc th́ cho thấy được
chiều sâu (thâm).Trong chương 7, ông thuyết về tầm quan trọng của
khái niệm u huyền. Chương 8 là nơi ông dạy diễn viên phải t́m cách
hướng thượng nghệ thuật bằng cách lợi dùng hoàn cảnh để t́m đến
những kích thích cao hơn. Chương 9 ông chú ư diễn viên về những lời
phê b́nh và trong phần kết luận, (chương 10), ông khuyên mọi người
phải giữ cho được cái gọi là sơ tâm 初心nghĩa là tấm ḷng trong sáng
lúc mới bước vào nghề .
Tác
phẩm lư luận thứ ba của Zeami nhan đề Shikadôsho (Chí Hoa Đạo Thư)
至花道書 đă được ông hoàn thành vào năm 1420, lúc 58 tuổi. Đây cũng là
một quyển sách ghi chép thể nghiệm của cá nhân ông khi đi t́m cái
Hana (Hoa) tức tinh túy của Nô. Sách gồm 5 chương. Xin được tóm lược
như sau:
Chương
1 nói về “nhị khúc tam thể” 二曲三体. Nhị khúc tức ca khúc và vũ khúc.
Tam thể là ba nhân dáng: nữ, lăo, quân (quân nhân). Chương 2 nói về
“vô chủ phong” 無主風tức kỹ năng đối lập với “hữu chủ phong” 有主風, những
chiêu thức mà nếu chịu khó tập tành, nó sẽ là của ḿnh.Thế nhưng ông
cảnh cáo chớ để rơi vào cái bẩy của “vô chủ phong” v́ ḿnh có thể
không làm chủ được nó. Chương 3 nhận định rằng người diễn giỏi có
thể ḥa trộn hai thứ “phi phong” 非風và “thị phong” 是風nhưng nếu mới
vào nghề th́ chớ nên phá rào đi lan man, v́ như thế sẽ trở thành tà
đạo. Chương 4 nói đến ba bộ phận b́, nhục, cốt 皮肉骨của nghề mà trong
đó, cốt là phần sâu xa nhất. Nhục là năng lực diễn xuất nhị khúc,
tam thể, b́ là cái vỏ u huyền trang sức cho nó trong khi cốt là tài
năng trời phú cho ḿnh. Kẻ thành công là kẻ biết điều ḥa đúng mức,
giữ thế thăng bằng giữa 3 yếu tố đó. Chương 5 bàn đến thể 体và dụng用.
Theo Zeami, thể giống như hoa trong khi dụng giống như hương thơm,
thể là trăng mà dụng là bóng trăng. Nói cách khác, thể là chủ mà
dụng là tùy tùng.
Tác
phẩm cuối cùng trong số 21 quyển nói về lư luận Nô của Zeami là
Sarugaku Dangi (Thân Nhạc Đàm Nghi) 猿楽談儀. Sách chỉ có một quyển,
được viết vào khoảng năm 1428-1430 khi ông đă ngoài 60. Có thuyết
đây là những điều ông đă kể cho người con trưởng mất sớm (Motomasa)
và được người con thứ (Motoyoshi) ghi chép lại. Đầu sách ông thuật
lại lịch sử tuồng Nô và vai tṛ của các nhân vật như Icchuu 一忠, Ki.a,
喜阿Zô.a, 増阿 (của Dengaku), Inuô犬王, cha con Kan. Ami và Zeami (của
Sarugaku) và sau đó mới tŕnh bày những điều tâm đắc của ḿnh về
nghệ thuật phát âm, các tṛ nhại, khúc vũ và tiểu ca, cách sáng tác
tuồng và tổ chức Nô quyên góp cho nhà chùa. Ông cũng nhắc đến nguyên
lai các loại Nô đặc biệt (như Takigi Nô薪能, Dengaku), về nguồn gốc
các trường phái Nô từ Kongô, Komparu, Yamato đến Ômi và Settsu. Dĩ
nhiên, trong khi nghị luận, ông nh́n tất cả từ lập trường của Yamato
Sarugaku mà ông cho là chính thống.
Thay
lời kết: Tương lai của Nô

Ngoài 300 vở gọi là
“cổ điển” c̣n được lưu lại đến nay trong các sưu tập, chúng ta phải
kể đến khoảng 180 vở gọi là Shinsaku Nô 新作能 (Sáng tác mới) - với đề
tài đa dạng, quốc nội cũng như quốc tế, kể cả các tác phẩm “Nô hóa”
kịch Shakespeare như Macbeth, Hamlet, Thomas Beckett, Cleopatra,
Othello và King Lear.
Những vở Shinsaku Nô
đă ra đời từ thời Edo cho đến tận gần đây, với sự góp mặt rộng răi
của cả những nhân vật tên tuổi bên ngoài giới Nô như các nhà thơ
Takahama Kyoshi, Hagiwara Sakutarô, các kịch tác gia Yoshii Isamu,
Kinoshita Junji, các nhà văn Miyazawa Kenji, Setouchi Jakuchô vv...
Các tác giả cũng tiếp thu những đề tài mới mẻ như vụ ném bom nguyên
tử (trong Genbaku), sự truyền bá của đạo công giáo (trong Shito
Paolo = Đời sứ đồ Phao Lồ, Fukkatsu no Kirisuto = Cuộc phục sinh của
chúa Giê-su...), cuộc lữ hành của nhà thơ Bashô (trong Oku no
hosomichi = Đường ṃn miền Bắc), cuộc đời của Yosano Akiko, nhà thơ
tranh đấu cho nữ quyền (trong tập thơ Midaregami = Tóc rối). Một đặc
điểm của Shinsaku Nô là nặng về từ chương hơn là ca vũ và chỉ có một
số mới có thể đem ra tŕnh diễn như một vở Nô.
Mishima Yukio – một
nhà văn nổi tiếng, kịch tác gia tài danh và rất sành Nô - đă chọn
một số tuồng cổ điển và đặt chúng trong bối cảnh hiện đại mà viết
lại. Những vở Kindai Nô (Nô cận đại) 近代能của ông thường có một
kết thúc độc đáo theo phong cách Mishima. Những vở ông đă chọn làm
thí nghiệm thường là những vở đă nổi tiếng và có mang một chủ đề có
tính phổ quát như Kantan, Aya no tsutsumi, Sotoba Komachi, Aoi no Ue,
Dôjôji, Hanjo, Yuya, Yoroboshi vv...
Sân khấu Nô xưa kia
chỉ dành cho một số khán giả chọn lọc, một phần v́ nó có nhiều qui
ước, tập quán mà người diễn phải tuân thủ, phần khác v́ việc thưởng
thức Nô thường đ̣i hỏi khán giả một tŕnh độ học vấn cao. Tuy vậy,
ngày nay Nô đă được phổ cập trong đại chúng nhờ các công tŕnh
nghiên cứu và giải thích sâu rộng cũng như sự giải tỏa một số tập
quán phiền hà (chẳng hạn thời trước khán giả đi xem phải ăn mặc
chỉnh tề với quốc phục: áo haori và quần hakama).
Người Nhật gọi Nô một
cách cung kính là o-Nô (O là một tiếp đầu ngữ tỏ ư trọng thị và gần
gũi). Việc Nhật Bản đă xây dựng một Kokuritsu Nôgakudô (Quốc lập
Năng nhạc đường) hoành tráng ở khu Setagaya (Tôkyô) năm 1983 là một
bằng chứng khác của sự trọng thị đó. Nói đúng ra, vào thời Meiji,
cùng với những biến động đổi đời của cuộc Duy Tân, người ta đă tưởng
Nô sẽ vĩnh viễn lui vào bóng tối. Thế nhưng phép lạ đă xảy ra và
hiện nay Nô đang thu hút được sự quan tâm của rất nhiều người, bên
trong cũng như bên ngoài nước Nhật. Nô c̣n là một công cụ ngoại giao
nữa. Xin nhắc lại một giai thoại: khi Tổng thống Hoa Kỳ Ulysse S.
Grant (1822-85) đến Nhật năm 1879, ông đă được chính phủ thời đó mời
dự một buổi tŕnh diễn Nô.
Học giới và nghệ sĩ
Tây phương biết đến Nô từ cuối thế kỷ 19 qua báo cáo của những nhà
Đông phương học tiên phong như Arthur Waley, Era Pound và Ernest
Fenollosa (khu vực nói tiếng Anh) cũng như Noel Péri, Paul Claudel (khu
vực nói tiếng Pháp).Từ đó, Nô không ngừng được người ngoại quốc quan
tâm và tán thưởng nhờ ở công tŕnh của những dịch giả có thẩm quyền
cỡ Gaston Renondeau, René Sieffert, Donald Keene, Armen Godel...thêm
vào đó là sự thành công đến từ những chuyến lưu diễn của nhà hát Nô
trên đất Mỹ và châu Âu....Theo lời bộc bạch của các chuyên gia sân
khấu Tây phương như Jacques Copeau, Charles Dullin (1930),
Jean-Louis Barrault (1960) (dẫn theo Armen Godel) ..., th́ Nô đă ảnh
hưởng đến lề lối suy nghĩ cũng như phong cách sáng tạo kịch nghệ của
họ.
Những điều nói trên đủ
chứng tỏ rằng ngay giữa ḷng thế kỷ 21, sự phát triển của Nô vẫn
không hề dừng lại.
Tokyo 31/08/2019 (NNT)
Thư
Mục Tham Khảo:
1- Toida Michizô giám
tu, Kobayashi Yasuharu chủ biên, 1993, Nôgaku Handobukku (Cẩm nang
về tuồng Nô), Sanseidô, Tokyo xuất bản (lần thứ 3 năm 2008).
2- Ban biên tập Jiyuu
Kokuminsha, Nihon no Koten Meichô Sôkaisetsu (Giải thích về các tác
phẩm cổ điển danh tiếng của Nhật Bản), Jiyuu Kokuminsha Tokyo xuất
bản.
3- Godel, Armen & Kano
Koichi, 1994, La Landes des Mortifications, Vingt-cinq pièces de Nô
(Cơi thống khổ: Dịch 25 vở tuồng Nô), Gallimard Paris xuất bản.
4- Sieffert, René dịch
Zeami, 1985, La Tradition Secrète du Nô (Fuushikaden), Gallimard,
Unesco, Paris ( édition 2010).
5- H́nh ảnh và tư liệu
mạng.
|