|
Phiên
dịch để khai sáng - Kinh nghiệm
Nhật Bản
Nguyễn Nam Trân
Người
Nhật có tiếng là một dân tộc
dịch sách và đọc sách nhiều
nhất trên thế giới. Điều đó
cho thấy sự nghiệp dịch thuật, dù
chỉ trong phạm vi tác phẩm văn chương,
đă góp phần vào việc khai sáng và canh tân
đất nước nói chung, làm phong phú cho
hoạt động của giới sáng tác và
nâng cao tri thức và tŕnh độ thưởng
ngoạn của độc giả nói riêng.
 |
|
Mori
Ogai (1862-1922), nhà văn đầu
đàn của Nhật thời Minh
Trị, cũng là một dịch
giả có nhiều dịch phẩm ảnh hưởng
đến các thế hệ sau.
|
Chúng
ta biết rằng thời xưa, Nhật
Bản đă tiếp nhận ảnh hưởng
ngoại quốc, phần lớn từ các
quốc gia Á Đông. Trước
hết là ảnh hưởng Trung Quốc,
Ấn Độ, Triều Tiên và Ba Tư.
Về mặt văn học mà thôi cũng
đă thấy ảnh hưởng của Trung
Quốc vô cùng lớn lao nếu không nói là có
tính quyết định. Nhưng dù sao đi
nữa, Nhật Bản tuy đón nhận
một cách nồng nhiệt văn hóa nước
ngoài nhưng đă biết tiếp thu một
cách khéo léo và chọn lựa những ǵ
hợp với bản sắc dân tộc
vừa mô phỏng vừa sáng tạo để
làm cho phong phú bản sắc ấy.
Tiết
I: Ảnh hưởng của Âu Mỹ:
Sự
thể ấy cũng đă xảy ra một cách
tương tự vào thời cận đại
và hiện đại đối với văn
học Tây Phương. Khi tiếp xúc lần
đầu với văn học Tây Phương
dĩ nhiên người Nhật đă đứng
trước những ngôn ngữ và văn
tự hoàn toàn dị biệt, một trở
ngại ngh́n lần lớn hơn nếu so
với lúc họ tiếp xúc với Trung
Quốc. Cách đột phá duy nhất là phiên
dịch nghiên cứu để giới
thiệu, nhưng muốn nghiên cứu cũng
phải có khả năng thông hiểu ngôn
ngữ. Chúng ta cần phải đánh giá cao
nỗ lực và tinh thần học hỏi
của người Nhật khi biết
rằng Nhật Bản là một quốc gia mà
ngày nay, số lượng tác phẩm phiên
dịch đứng hàng đầu thế
giới.
Bài
viết nầy phần lớn dựa trên tác
phẩm cơ sở của hai giáo sư
Yamauchi Hisaaki (sinh năm 1934, chuyên khoa văn chương
Anh) và Kawamoto Hiroshi (sinh năm 1939, chuyên khoa văn
chương Pháp) xuất bản năm 2003[i].
Nội dung của bài viết không có mục
đích ṭ ṃ t́m hiểu “ai bắt chước
ai” và “bắt chước ở chỗ nào”
mà chỉ để, qua vài thí dụ điển
h́nh, mô tả cách tiếp thu tác phẩm
ngoại quốc như kích thích cho sáng
tạo của các nhà văn Nhật cũng như
quá tŕnh tài bồi từ kho tàng chung của
nhân loại để có được
một nền văn học với bản
sắc riêng.
A)
Văn chương phiên dịch Âu Mỹ
Yoshitake
Yoshitaka[ii],
người nghiên cứu lịch sử ngành
phiên dịch dưới hai triều Meiji
và Taishô, đă viết lịch sử các phóng
tác để t́m hiểu ảnh hưởng
của Tây Âu đối với văn học
Nhật Bản đến được
mức nào. Chỉ riêng trong phạm vi tập
sách nói trên, ông đă đưa ra tên
tuổi 20 nhà văn và khoảng 50 tác
phẩm phóng tác. Điều ấy chứng
tỏ văn chương phiên dịch
đóng cả hai vai tṛ: trực tiếp và gián
tiếp. Nó đến thẳng với người
đọc trong trường hợp thứ
nhất và gián tiếp qua các phóng tác
trong trường hợp thứ hai. Nhờ tài
năng của các nhà văn, nó hoặc
trở thành món ăn hợp khẩu vị người
Nhật hay đă đóng nhiệm vụ
gợi ư để các người nầy
(phần lớn tinh thông ít nhất một
ngoại ngữ, nhưng cũng có người
không biết tiếng nào) có thể viết nên
tác phẩm hay một phần tác phẩm
mới.Công việc phiên dịch có tính
cách quyết định như thế v́ trong
buổi đầu tiếp xúc với Tây Phương,
số người biết ngoại ngữ chưa
nhiều và sự đi lại trên thế
giới hăy c̣n khó khăn.
Nói
về phiên dịch văn học ở
Nhật th́ tác phẩm đầu tiên cần
phải nhắc đến có lẽ là Aesopos
Fabulas dưới cái tên Isoho Monogatari
(Y Tăng Bảo Vật Ngữ) sau đến
một số tác phẩm có tính cách đại
chúng khác.
1)
Truyện Ngụ Ngôn Êzốp (Aesopos Fabulas)
Ngay
trước thời Edo, từ năm Bunroku (Văn
Lộc) thứ 2 (1593), các nhà truyền giáo
của Da Tô Hội Học Vấn Sở
(Collegio) đă nhờ một người
Nhật tên thánh là Fabian (trước vốn
là nhà sư Phật Giáo tên Fukan (Bất Can)
sau cải giáo theo đạo Thiên Chúa)
dịch truyện ngụ ngôn của nhà văn
cổ Hi Lạp Aesopos từ bản La Tinh ra
tiếng Nhật và phiên âm bằng chữ La
Mă viết theo kiểu tiếng Bồ, đồng
thời soạn Nhật Bồ Từ Điển
và sách giáo lư Dochirina Kirisutan. Riêng Truyện
Ngụ Ngôn của Aesopos (Isoho Monogatari
tức Y Tăng Bảo Vật Ngữ)[iii]
có lẽ là tác phẩm văn học Tây Phương
được dịch (và phiên ra âm Nhật
dưới dạng chữ La Mă chứ không
phải dịch ra Ḥa văn) đầu tiên.
Truyện này đă được nhà chung khôn
khéo cho in cùng với Truyện Heike và
tập thơ Kinku-shuu (Kim Cú Tập) là
hai tác phẩm người Nhật yêu
chuộng để làm văn bản hỗ
trợ cho việc truyền bá giáo lư.Tập
ngụ ngôn này đă ảnh hưởng
đến loại văn học có tính cách
giáo huấn về sau, đặc biệt
loại tiểu thuyết kanazôshi (tiểu
thuyết viết bằng văn tự
Nhật kana, dễ đọc, dễ
hiểu). Nhà văn Tamenaga Shunsui (Vi Vĩnh, Xuân
Thủy, 1790-1843) đặc biệt sử
dụng tập ngụ ngôn này rất
nhiều lần trong tác phẩm dạy luân lư
đơn giản bằng tranh vẻ E-iri Kyôkun
Chikamichi (Hội Nhập Giáo Huấn
Cận Đạo) của ông. Nhà tư tưởng
và chí sĩ duy-tân Yoshida Shôin (Cát Điền,
Tùng Âm, 1830-1859) cũng dùng tài liệu từ
bản dịch sang Hán văn của tập
ngụ ngôn nầy mang tên Ư Thập Dụ
Ngôn để nói bóng gió khi b́nh luận
chính trị.[iv]
2)
Cuộc
phiêu lưu của Robinson Crusoe (Robinson
Crusoe)
Có
lẽ là quyển tiểu thuyết Tây Phương
được dịch ra Nhật ngữ trước
nhất. .Người dịch tên là Kuroda
Kikuro (Hắc Điền, Khúc Lỗ) đă
chuyển ngữ một phần từ bản
tiếng Hà Lan năm Kôka (Hoằng Hóa)
thứ 2 (1845) với đầu đề Phiêu
Lưu Kư Sự (Hyôryuu Kiji). Năm Meiji
thứ 5 (1872) lại có Saitô Ryôan (Trai Đằng,
Liễu Am) dịch đầy đủ dưới
cái tên Robinson Zenden (Lỗ Mẫn Tốn
Toàn Truyện). Về sau, có thêm nhiều người
khác dịch truyện này dưới các
dạng khác nhau, nhưng tất cả vẫn
xem nó như truyện mạo hiểm hay văn
chương dành cho nhi đồng chứ không
ai hiểu được dụng ư phúng thích
xă hội sâu sắc của tác giả Daniel
Defoe.
Trong
số người dịch Robinson Crusoe có
Inoue Tsutomu (Tỉnh Thượng, Cần),
một trong những nhà dịch thuật sung
sức đầu thời Meiji. Ông là người
dịch chuyên nghiệp cho Bộ Ngọai Giao
và Bộ Giáo Dục. Ngoài Tuyệt thế
kỳ đàm. Lỗ Mẫn Tốn phiêu
lưu kư tức Robinson Crusoe, tiểu
thuyết của Defoe, ông c̣n dịch các tác
giả Jules Verne (Tam Vạn Anh Lư Hải
Để Lữ Hành = Ba vạn
dặm Anh dưới đáy biển ),
Thomas Moore (Lương Chính Phủ Đàm
= Truyện Trị Dân Tốt), và
Shakespeare (Nhân Nhục Chất Nhập Tài Phán[v]
= The Merchant of Venice = Con buôn thành Vơ-Ni)
[vi].
3)
Gulliver Phiêu Lưu Kư
(Gulliver’s Travel)
Có
thuyết cho rằng tác phẩm tên gọi Ḥa
Trang Binh Vệ Dị Quốc Kỳ Đàm
xuất bản năm An-ei thứ 3 (1754) chính
là bản đầu tiên được
dịch sang tiếng Nhật. Ngày nay, không c̣n
cơ sở vật chất nào được
lưu lại giúp ta kiếm chứng điều
đó. Đến năm Meiji thứ 13 (1880), Gulliver’s
Travel mới được một người
tên Hirayama Katasaburô (B́nh Sơn, Phiến Tam
Lang) dịch ra dưới cái tên Nga Lê Bá
Nhi Hồi Đảo Kư, sơ biên
Tiểu Nhân Quốc chi bộ nghĩa là Phần
một: Truyện Gulliver đi đến ḥn
đảo nước người tí hon.
Truyện được Nhất Lục Cư
Sĩ đề tựa bằng chữ Hán và
kèm tranh màu minh họa. Trong sách c̣n có chỗ
cho biết sẽ in thêm tập thứ hai nói
về chuyến đi của Gulliver đến
nước người khổng lồ nhưng
rốt cuộc tập thứ hai nầy
chỉ được dịch năm Meiji 20
bởi một người khác tên là Okubo Jôkichi
(Đại Cữu Bảo, Thường Cát).
Chính ra truyện Gulliver có cả thảy
bốn tập, hai tập sau có nói cả
việc Gulliver, tự xưng là thương
nhân Ḥa Lan biết y học, bị đắm
thuyền và muốn trở về Âu Châu nên
được phép đặt chân lên đất
Nhật (ở các hải cảng Shimonoseki, Edo
và Nagasaki). Gulliver được giới
thiệu đến gặp cả Shôgun trước
khi trở về Anh bằng tàu Ḥa Lan theo
đường Mũi Hảo Vọng (Cap
Hope). Người Nhật không mấy quan tâm
đến mấy chuyện ấy nên chỉ
chọn dịch hai tập đầu.
4)
Hamlet của
Shakespeare
Năm
Meiji 19 (1886), Kanagaki Robun (Giả Dành Đàn,
Lỗ Văn, 1829-1894) đă đăng liên
tục trên tờ báo Tôkyô E-iri Shinbun (Đông
Kinh Hội Nhập Tân Văn) tức tờ báo
Tôkyô có kèm tranh vẽ (hội (e) = tranh,
nhập (iri) = cho vào) truyện dịch
Hamlet dưới tên Diệp Vũ Liệt Sĩ
Nụy Cẩm Hội. Diệp (Ha) Vũ
(Mu) Liệt Sĩ (Let) chỉ là cách
phiên âm tiếng Nhật của Hamlet chứ
không có nghĩa ǵ đặc biệt.
Truyện được đăng tất
cả 22 hồi, mất một tháng.
5)
Tám Mươi Ngày Ṿng Quanh Thế Giới
(Voyage autour du monde dans 80 jours):
Năm
Meiji thứ 11 (1878), Kawashima Chuunosuke đă
dịch phần đầu truyện của
Jules Verne dưới nhan đề Truyện
Mới: Tám Mươi Ngày Ṿng Quanh Thế
Giới (Shinsetsu Hachijuunichi Kan Sekai Isshuu,
Tân thuyết- Bát thập nhật gian
thế giới nhất chu). Đến năm
Meiji 13 (1880) th́ chia truyện làm 2 bộ và
được xuất bản cả hai. Đặc
điểm của Kawashima là đă sống
ở Pháp (Lyon) nên đủ sức dịch
truyện nầy từ nguyên tác Pháp văn.
6)
Ngh́n Lẻ Một Đêm (Arabian Nights)
Ngh́n
Lẻ Một Đêm
(Thiên Dạ Nhất Dạ) và tập thơ
Rubayat (của thi nhân Ba Tư Omar Khayam) là
hai tác phẩm của văn học Trung Đông
đă được người Nhật
biết đến rất sớm. Người
ta biết Ngh́n Lẻ Một Đêm
đă được hoàn thành dần dần
từ thế kỷ thứ 9 đến 19,
theo hai đường truyền khẩu và văn
tự. Một văn bản của nó đă
được in ra hồi thế kỷ 17 và
nhà học giả đông phương người
Pháp Antoine Galland (1646-1715) dịch sang tiếng
Pháp. Nguyên bản truyện đầy đủ
sự tích 1001 đêm chỉ in xong vào năm
1835 ở Ai Cập và khoảng 1839-1842 ở
Ấn Độ. Sau đó, nhiều người
như Edward Lane (1801-1886), Joseph-Charles Victor
Mardrus (1868-1949), Richard Burton (1821-1890) đă
dịch lại qua Anh và Pháp ngữ.
Ở
Nhật, có nhiều bản dịch và phóng tác
Ngh́n Lẻ Một Đêm từ thời
Meiji với mục đích giáo huấn và mua
vui. Tuy nhiên, hai bản có tiếng hơn
cả là của Nagamine Hideki (Vĩnh Phong, Tú
Thụ, 1848-1927) năm 1875 dưới nhan
đề Arabiya Monogatari (Bạo Dạ
Vật Ngữ = Đêm Ả-Rập) và
của Inoue Tsutomu (Tỉnh Thượng,
Cần, 1850-1928) năm 1883 cái tên Quyển Sách
Kinh Dị Nhất Thế Giới (Zen
Sekai Daiichi Kysho) (v́ đánh giá nó c̣n cao hơn
tứ kỳ thư Trung Quốc). Nagamine đă
dịch theo bản tiếng Anh ra đời năm
1866 của G.F. Townsend tham khảo bản
của Antoine Galland. C̣n Inoue Tsutomu không rơ
đă dùng bản nào nhưng xem ra th́ đă
sử dụng bản tiếng Anh The Arabian
Nights’ Entertainments dịch từ Galland
của một nhà xuất bản ở
Edimburgh năm 1865 thêm tranh vẽ của
S.J.Groves in trong đó và tham chiếu bản
tiếng Đức của Gustav Weil. Vai tṛ
của Ngh́n Lẻ Một Đêm ở
Nhật quan trọng ở chỗ nó vừa có
tính cách truyện nhi đồng vừa có tính
cách truyện sắc dục, đă gây tranh căi
nhưng cũng kích thích cho sự phát
triển của hai thể loại nầy.
7)
Vai tṛ công cụ phổ biến của báo chí
trong phiên dịch:
Những
ví dụ vừa kể cho ta thấy tác
phẩm phiên dịch qua văn Nhật đến
từ những chân trời khác nhau. Không
những Pháp, Anh, Bồ, Hà Lan mà cả Nga như
Nhật Kư Của Người Đi Săn
của Tourgueniev đă được Futabatei
Shimei dịch rất sớm trên tờ Kokumin
no Tomo (Quốc Dân Chi Hữu) năm Meiji 11
(1878). Và cùng với Tourgueniev, Futabatei đă
đưa cả phong cách của văn
học Nga đến với văn đàn.
Tờ báo nầy c̣n đăng trong số 32
một phần Paul et Virginie của
Bernardin de Saint Pierre, truyện t́nh bất
hạnh của đôi trai trẻ trên đảo
Saint Maurice ngoài khơi Ấn Độ Dương.
Tội và Phạt [vii]
của Dostoievski cũng đă được
dịch ra Nhật Ngữ và đăng trên
tờ Kokkai Shinbun (Quốc Hội Tân Văn)
từ 1892. Vai tṛ của các tạp chí văn
học như phương tiện du nhập và
phổ biến văn học ngoại quốc
rất đáng kể. Ngoài Kokumin no Tomo và
Kokkai Shinbun vừa đơn cử, c̣n có
tạp chí Myôjô (Minh Tinh) từ 1895
đăng tải tác phẩm của Leconte de
Lisle, Baudelaire, Verlaine, Browning đến với
độc giả. Tờ Shinshôsetsu (Tân
Tiểu Thuyết) c̣n giới thiệu văn
hào Goethe qua Nổi khổ tâm của chàng
trẻ tuổi Werther (Die Leiden des Jungen
Werthers) vào năm 1893.
8)
Thơ dịch:
Về
thơ th́ năm Meiji 15 (1882), theo Tomita Hitoshi (sđd,
tr.108), nhóm ba ông Tôyama Seiichi (Ngoại Sơn,
Chính Nhất) đă cho in Shintaishi-shô (Tân
Thể Thi Sao) tức Tập Thơ H́nh
Thức Mới, gom góp thơ Tây Phương
họ tuyển dịch kèm thêm sáng tác
của chính ḿnh. Thơ Tây Phương
(poetry) mà họ tŕnh bày ở đây là h́nh
thức mới (tân thể) khác với thơ
chữ Hán và thơ Nhật [viii]
(thể
5/7 âm tiết) đă có từ trước. Ngôn
ngữ của thơ mới gần gủi
với nếp sống hàng ngày, điều mà
người làm thơ cũ vẫn cho là
thấp kém, không văn vẻ.
Năm
Taishô thứ 2 (1913), Nagai Kafuu từ Pháp du
học trở về cũng đă xuất
bản Sango-shuu (San Hô Tập) góp lại
38 bài thơ dịch mà ông đă đăng
trong quảng thời gian 22 tháng (1909-1910) trên
các tờ Joshi Bundan (Nữ Tử Văn
Đàn), Shin Bunrin (Tân Văn Lâm),
Nhật Báo Yomiuri (Yomiuri Shinbun), Shusai
Bundan (Tú Tài Văn Đàn) và Subaru (Sao
Măo). Ngoài 38 bài thơ dịch Charles Baudelaire,
Arthur Rimbaud, Paul Valéry vv...c̣n có thêm mười
bài văn xuôi.
9)
Tiếp xúc trực tiếp Tây Phương:
Chúng
ta đều biết các nhà văn Nhật
Bản không những chỉ biết Tây Phương
qua sách vở mà c̣n có cơ hội tiếp xúc
với người bản xứ trên đất
nước họ. Từ khi có cuộc duy tân
thời Meiji, du học sinh Nhật Bản ra
ngoại quốc rất nhiều. Trong đám
các nhà văn, hai du học sinh có tiếng
nhất là Ôgai (đi Đức) và Sôseki
(Anh), nhưng cũng đừng quên Futabatei
Shimei (Nga), Takamura Kôtarô (Mỹ, Pháp), Kafuu
(Mỹ, Pháp), Arishima (Mỹ), Hori (Pháp)... Ngược
lại, các nhà văn Âu Mỹ cũng đă
đặt chân lên đất Nhật. Tuy
ảnh hưởng của họ đến văn
học Nhật Bản đến đâu th́
chưa đánh giá hết được nhưng
không thể quên nhà văn Pháp Pierre Loti
(1850-1923) tức sĩ quan hải quân Julien
Viaud đă có lần dự tiếp tân ở
dinh Rokumeikan ngay giữa Tôkyô, người
Anh-Hi Lạp Lafcadio Hearn (1850-1904), giáo sư Anh
văn Đại học Tôkyô, sau nầy
sẽ trở thành nhà văn Nhật Koizumi
Yakumo (Tiểu Tuyền, Bát Vân) hay nhà
ngoại giao kiêm nghiên cứu Ái Nhĩ Lan
William George Aston (1841-1911), tới Edo năm 1864,
hai năm trước cuộc duy tân và
dịch quyển văn học sử Nhật
Bản đầu tiên năm 1898 [ix].
Tiết
II: Nhà văn Nhật Bản sử dụng
kiến thức Âu Mỹ như thế nào?
1)
Trường hợp các nhà văn
thời Meiji:
Ta
có thể nghĩ văn nhân đời Meiji
dễ dàng thu nhận ảnh hưởng văn
học Edo là ảnh hưởng bản địa
hơn văn học Thái Tây. Điều đó
chưa hẳn đúng. Con Quỉ Kim
Tiền (Konjiki Yasha, 1897) của Ozaki Kôyô,
nhà văn xă hội có khuynh hướng mô
phỏng cổ nhân, chẳng hạn, đáng
lư ra chỉ là cái vạch nối dài của
văn chương thời Genroku (Nguyên
Lộc, 1688-1704). Nhưng không! Kôyô đồng
ư với quan điểm về viết
tiểu thuyết theo lối mới mà
Tsubo-uchi Shôyô tŕnh bày trong Tinh Túy của
Tiểu Thuyết (Shôsetsu Shinzui) và
đă bắt đầu dịch tác phẩm
của Molière và Zola. Cho nên sẽ không có ǵ
nghịch lư khi ta bảo Konjiki Yasha có
thể chịu ảnh hưởng của
tiểu thuyết tên Hoa huệ trong thung lũng
(White Lily in the Valley) của một nữ
tiểu thuyết gia Mỹ. Tuy nhiên gần
đây giới nghiên cứu (Yasuda Yasuo, theo
Tomita, sđd, tr. 50) lại cho rằng dịch
phẩm Cuộc Hẹn (Aibiki) mà Futabatei
Shimei dịch từ văn Tourgueniev mới
thực sự ảnh hưởng tới
tiểu thuyết của Kôyô, nhất là chương
bảy (cảnh rừng mơ ở Atami) và chương
8 (cảnh chia tay trong tủi hận trên
bải biển giữa đôi t́nh nhân).
Một lập luận khác (của Yamomoto
Kenkichi, theo Tomita, sđd, tr. 50) qui cho mô típ «người
đàn ông phục thù» thấy trong Đỉnh
Gió Hú (Wuthering Height) của Emily
Bronte... như là điểm then chốt
của tiểu thuyết ấy. Ngoài ra,
ảnh hưởng của Người
Biển Lận [x]
(L’avare) của Molière
đối với Con Quỉ Kim Tiền
(Konjiki Yasha) và trên Áo Mát Mùa Hè (Natsusode,
Hạ Tiểu Tụ) tức, một tác
phẩm khác của ông, cũng được
đề cập tới.
Cũng
một thể ấy, trong Xé Rào (Hakai,
Phá Giới) của Shimazaki Tôson, người
thầy giáo dấu tông tích thấp hèn
của ḿnh cho đến một ngày chịu
hết nổi, phải bộc lộ điều
đó ra khi cương quyết ra mặt
chống đối thành kiến bất công
của xă hội, có thể đă chịu
ảnh hưởng của Xưng Tội
(Confessions) của Jean-Jacques Rousseau,
được dịch ra Nhật ngữ dưới
nhan đề Sangeroku (Sám Hối
Lục), một cái tên rất Phật giáo cũng
như Phá Giới vậy. Tomita cho
biết năm 23 tuổi, Tôson đă có
dịp đọc Confessions qua Anh ngữ
cũng như đă được đọc
cả Tội và Phạt của
Dostoievsky.
2)
Trường hợp các nhà văn
thời Taishô:
Kiến
thức Âu Mỹ của một nhà văn
đời Taishô (1912-1926) như Akutagawa cũng
bắt nguồn từ sách dịch. Katô
Shuuichi [xi]
cho biết Akutagawa đă dẫn ra trong tác
phẩm của ḿnh hết Strindberg, Nietzsche,
Tourgueniev, Tolstoi, Gogol, Dostoevski, Flaubert đến
Baudelaire.., từ những bài viết của
họ được dịch qua tiếng Anh (ông
tốt nghiệp đại học khoa Anh).
Để viết quyển truyện châm
biếm Kappa, ông phải tham khảo
cả Jonathan Swift lẫn Samuel Butler. Kiến
thức của Akutagawa trải rộng từ
Shakespeare cho đến các nhà soạn kịch
Ailen, từ François Villon đến Paul Valéry.
Nhân vật trong truyện của ông biết
cả về Pierre Loti (trong Buổi Dạ Vũ,
Butôkai) và Whilhem Liebknecht (trong Sơn trang
Gengaku, Gengaku sanbô). Tuy ông không từng
đặt chân lên các nước Âu Mỹ như
Ôgai (Đức), Sôseki (Anh) hay Kafuu (Pháp và
Mỹ) nhưng kiến thức của ông không
v́ thế mà kém phần phong phú. Nó đă pha
trộn với cổ điển Trung Hoa mà ông
nằm ḷng, cũng như văn chương
thời Edo (Bashô, Bakin...) mà ông thường dùng
làm đề tài.
Akutagawa
và Yabu
no naka
Ảnh
hưởng của văn chương
ngoại quốc đến một nhà văn
Nhật Bản bằng một cách nhiều
khi phức tạp hơn ta tưởng. Ví
dụ Khuất Trong Lùm Cây
[xii]
(Yabu no naka, 1925) của Akutagawa, đă
trở thành sườn của cuốn phim Rashômon
bất hủ của đạo diễn
Kurosawa Akira. Ta chỉ biết rằng nó
bắt nguồn từ tập Truyện Nay
Đă Xưa (Konjaku Monogatari),
(quyển 29, truyện 23, kể truyện
một cặp vợ chồng nhà quan gặp cướp
núi, sau khi bị cướp làm nhục trước
mặt chồng, vợ lại nẩy ra ư
muốn giết chồng) là một tác
phẩm cổ điển của Nhật ra
đời vào tiền bán thế kỷ 12.
Thế nhưng, có chứng cứ khác cho
thấy Akutagawa cũng đă mượn
nguồn cảm hứng từ văn học Tây
Phương để viết truyện
nầy.
Yasuda
Yasuo (theo Tomita, sđd) đă dẫn ra hai tác
phẩm Âu Mỹ có thể liên quan đến
nó: Chiếc nhẩn và quyển sách
của Browning và Phục Thù của Henry
de Régnier [xiii]
mà một nhà văn lớp trước, Mori
Ôgai, đă cho đăng trong Truyện Các
Nước (Shokoku Monogatari, Chư
Quốc Vật Ngữ). Ông đă so sánh và
phân tích từng điểm giống nhau
giữa 2 truyện đó với Yabu no naka.
Ngoài ra, vẫn theo Tomita, Yoshida Seiichi lập ra
mối liên hệ giữa Con Đường
Trăng Sáng (The Moonlight Road) trong tập
truyện Sao Lại Xảy Ra Được?
(Can Such Thing Be?) của nhà văn Mỹ
Ambroise Pierce.Trong truyện của Pierce, nhân
một vụ án mạng, ba người trong
cuộc đă tŕnh bày sự việc liên quan
tới họ và cuối cùng, người
vợ là kẻ bị giết đă mượn
lời đồng cốt để tŕnh bày
sự thật về phía ḿnh. Thế nhưng
theo Tomita Hitoshi (sđd, tr. 66) th́ Khuất
Trong Lùm Cây (Yabu no naka) gần với
“Người con gái của bá tước
Ponthieu”, một tác phẩm của Pháp
thế kỷ 13 hơn là truyện của
Pierce.Tác phẩm của Pháp kể truyện
con gái của bá tước Ponthieu, v́ không
con nên cùng chồng là Thibaut đi hành hương
ở Santiago bên Tây Ban Nha để cầu
tự, giữa đường gặp cướp.Thibaut
dũng cảm chống cự nhưng rốt
cục bị trói, chứng kiến cảnh cướp
làm nhục vợ trước mắt. Khi cướp
đi rồi, Thibaut nhờ vợ cởi trói
hộ nhưng ngạc nhiên thay, lúc đó,
vợ lại dùng thanh kiếm tên cướp
bỏ lại định chém chết
chồng. Thibaut khéo léo tránh và nhờ đó,
dây trói trái lại được cắt
đứt. Thibaut thoát hiểm, lôi vợ
xuống núi và gửi vào tu viện làm ni,
một ḿnh về nước. Bá tước
biết chuyện, nhục nhă quá nên t́m đến
nơi, đóng con gái vào thùng rồi
quẳng xuống biển.
Có
một sự t́nh cờ lạ lùng là Akutagawa
đă viết tiểu luận tốt
nghiệp đại học với nhan đề
Nghiên cứu về William Morris [xiv].
Thêm một sự trùng hợp nữa là câu
chuyện dịch qua tiếng Anh của Người
con gái của bá tước Ponthieu đă
được in trong toàn tập của Morris
nữa. Vẫn chưa t́m ra bằng chứng
xác thực xem Akutagawa đă đọc nó
trong đó hay không nhưng chi tiết
“vợ muốn giết chồng” của
truyện Pháp nầy trùng hợp với
mấu chính thấy trong truyện kể
của Truyện Nay Đă Xưa (Konjaku)
[xv].
Ảnh
hưởng nơi các nhà văn khác:
Cũng
vậy, kinh nghiệm sống ở Pháp đă
làm văn chương của Hori Tatsuo mang
dấu ấn của Zola và Maupassant. Một
người đàn bà (Aru Onna) của
Arishima Takeo cũng mang h́nh ảnh của Anna
Karenina. Trực tiếp hay gián tiếp, văn
học ngoại quốc không ngừng ảnh
hưởng tới văn học Nhật
Bản từ những cuộc tiếp xúc
đầu tiên.
Tiết
III: Đặc điểm của văn
học đến từ mỗi nước:
A)
Nga:
Người
đă đưa văn học Nga vào nước
Nhật là một nhà truyền đạo Chính
Thống Giáo tên Nikolai (1836-1912). Ông đến
Nhật năm 1861 với
tư cách viên chức phụ trách vấn
đề tôn giáo ở Lănh Sự Quán Nga
ở Hakodate, miền bắc nước
Nhật. Ông nhiệt tâm t́m hiểu văn hóa
Nhật và, mặt khác, để giới
thiệu về nước ḿnh, trong tờ
tạp chí Tin tức nước Nga
mà ông xuất bản tại đây, ông đă
cho đăng vào năm 1866 Tội và
Phạt của Dostoievski (mà ông có gặp
ở Nga năm 1880) [xvi].
Năm 1872, lệnh cấm đạo bị băi,
ông xuống Tokyo và lập nhà thờ,
truyền đạo. Ở lại Nhật
Bản tất cả 48 năm, ông từng
dạy 10 năm ở Đại Học Đông
Kinh và mất ở đấy năm 75
tuổi.
Về
phía Nhật Bản, người tiếp thu
trực tiếp ảnh hưởng tác
phẩm của Dostoievski là Futabatei Shimei
(1864-1909). Ông từng nh́n nhận rằng
cuốn Mây Trôi Dạt (Ukigumo)
của ông viết theo phong cách của nhà văn
Nga.
Người
Nhật đánh giá Dostoievski rất cao và tính
đến năm 2002, không kể các luận
văn, đă có trên 100 cuốn sách bàn
về văn chương của ông.
Sau
đó, văn học Nga đă đến
Nhật Bản với Tolstoi (qua trung gian Anna
Karenina) các nhà tư tưởng xă hội
của cuộc vận động Narodoniki
(ảnh hưởng tới thơ của
Ishikawa Takuboku, 1886-1912), Gogol, Tchekhov và văn
học chủ nghĩa Marx-Lenin (đối
với phong trào văn học vô sản
(Puroretaria)).
B)
Anh
1)
Tiểu thuyết gia Anh và lư luận của
Tsubo-uchi Shôyô
Tsubo-uchi
Shôyô (B́nh Nội, Tiêu Dao, 1859-1935), người
mở đường cho tiểu thuyết
Nhật Bản, nhất là về phương
diện lư luận, đă gắn liền
đời ḿnh với văn chương
Anh.Giáo dục ông thu nhận, hoạt động
sáng tác, phiên dịch, dạy học và nghiên
cứu (ông là giáo sư Đại Học
Waseda) đều dính líu đến tiếng
Anh. Như ta biết, Shôyô là người
đi tiên phong trong việc dịch thuật các
kịch phẩm của William Shakespeare
(1564-1616) ở Nhật..
Thời
ông đi học, chính phủ Meiji mời
rất nhiều giáo sư ngoại quốc
đến dạy cấp cao đẳng. Trong
số đó, đă có triết gia kiêm mỹ
thuật gia Ernest Fenollosa [xvii],
người đầu tiên đă dịch
tuồng Nô ra tiếng Anh trước thế
chiến thứ nhất.
Trong
lúc ngồi trên ghế ban Anh Văn Đại
Học Đế Quốc Đông Kinh, Tsubo-uchi
đă dịch thoát Cô dâu nhà Lammermoor (The
Bride of Lammermoor, viết năm 1819) của
Walter Scott (1771-1832) thành tác phẩm Shunfuu Jôwa
(Xuân Phong T́nh Thoại, 1880). Ông
c̣n dịch The Lady of the Lake (viết năm
1810) cũng của Scott thành Kojô no Reijin
(Hồ Thượng Lệ Nhân, 1884) [xviii].
Giỏi
như Shôyô thế mà cũng trượt môn
thi của thầy Fenollosa và phải ở
lại năm thứ 3. Shôyô c̣n theo học
về Shakespeare với người thầy
Mỹ William A.Houghton và nhân đó đào sâu
về văn học Âu Mỹ để so sánh
thế giới quan của họ qua nhân
vật nữ hoàng Gertrude trong Hamlet với
thế giới quan Nho Giáo của Nhật
Bản. Ông cho rằng nhiệm vụ của
người viết tiểu thuyết không
phải là đem hành vi của Gertrude phán
đoán với thước đo Nho Giáo mà là
tŕnh bày nó như hiện tượng tâm lư
thấy nơi một con người. Theo H.
Yamauchi và H. Kawamoto [xix]
th́ trong tác phẩm lư luận quan trọng
của Shôyô, Tinh túy của tiểu
thuyết (Shôsetsu Shinzui), ông đánh giá
tiểu thuyết như một nghệ
thuật có tầm vóc cao và rộng hơn
cả hội họa, thi ca, kịch nghệ
(một quan điểm mới lạ bị
nhiều người đương thời dè
bỉu). Việc đề cao tiểu
thuyết có tham khảo ư kiến của
Walter Scott, Thomas Thomson (1768-1852) và George Moir
(1798-1851) vốn được ghi lại trong
quyển thứ 19 của Đại Anh Bách
Khoa Đại Từ Điển (Encyclopedia
Britanica) in lần thứ tám.Việc đ̣i
hỏi người viết tiểu thuyết
phải mô tả cho được chân tướng
của xă hội cũng căn cứ vào
luận điểm của John Morley (1832-1923)
trong Luận về George Elliott.
Năm
1884, Shôyô đă phóng tác tác phẩm Julius
Ceasar (1599) của Shakespeare từ h́nh
thức kịch qua tuồng người
nộm Jôruri nhan đề Sóng gió chung quanh
lưỡi kiếm v́ tự do (Jiyuu Taitô Yoya
Zeifuu, Tự Do Thái Đao Dư Ba
Nhuệ Phong). Truyện nói về việc
Brutus ám sát nhà độc tài Ceasar vào
thời cổ La-Mă v́ nghĩ rằng Ceasar
muốn bỏ chế độ nghị
hội để lên ngôi hoàng đế. Sau
đó đă xảy ra bao nhiêu biến
loạn cho đến khi Antony phục thù
được cho Ceasar. Vở tuồng
nầy không có mục đích đưa lên sân
khấu. Nhân đó, trong lời phụ
lục, ông tỏ ra bi quan khi cho rằng
việc dịch văn ngoại quốc là
điều khó thể thực hiện nếu
không nói là bất khả v́ có sự ngăn
cách lớn lao về phương diện ngôn
ngữ. Việc phiên dịch chỉ là
một sự “hoán cốt đoạt thai”
mà thôi. Tuy vậy, ông vẫn tiếp tục
nghiên cứu về Shakespeare và đă dịch
Hamlet (in năm 1909) nhưng phải thú
nhận “đă dùng thể thơ 5/7 âm và
h́nh thức tuồng kabuki lúc nào không hay ”
trong khi theo quan điểm của Lafcadio Hearn,
một người hiểu biết cả
về Nhật và Anh, th́ khi dịch Shakespeare,
phải dịch theo văn nói. Trong Sa Ông
Kiệt Tác Tập (23 quyển), ông c̣n
dịch Romeo, Othello…nhưng măi
đến khi dịch King Lear, năm 1912
và Julius Ceasar năm 1913 th́
số lượng văn nói trong bản
dịch mới tăng thêm. Ngoài ra, cộng
với 17 quyển chuyên về nghiên cứu
nữa, ông đă để lại tất
cả 40 tập nói về Shakespeare dưới
cái tên Tân Tu Shakespeare Toàn Tập in
lần đầu từ năm 1933 đến1935.
2)
Thomas Gray và thơ mới Nhật Bản:
Năm
1882, các ông Tôyama Seichi, Yatabe Ryôkichi và Inoue
Tetsujirô, ba giáo sư đại học Tôkyô
đă dịch thơ Anh Mỹ đương
thời ra tiếng Nhật với hy vọng
đem một luồng gió mới đến
với thi ca Nhật Bản. Ngoài 5 bài là thơ
họ tự sáng tác, tập Tập ghi chép
thơ h́nh thức mới (Shintaishi-shô)
của 3 ông có 14 bài gồm có thơ của
Tennyson, Longfellow, độc thoại của
Hamlet. Ngoài ra, Yatabe đă dịch Hoài
cảm bên mồ (An Elegy Written in a
Country Church Yard) của Thomas Gray (1716-1771) mà
thi sĩ đă viết trước ngôi
mồ của một người vô danh trong
nghĩa địa nhà thờ làng quê, với
tâm sự “thấy người nằm
đó biết sau thế nào”. Niềm hoài
cảm của thi nhân u uất sống
giữa đồng quê nước Anh như có
cái ǵ gần gủi với tư tưởng
vô thường Nhật Bản trong ḍng văn
học ẩn sĩ tiêu biểu bằng Hôjôki
(Phương Trượng Kư ) và có lẽ
là lư do mà Yatabe đă dịch (có thể là
phỏng dịch v́ ông đă thay “nhà
thờ” trong bài thơ bằng “ngôi chùa”)
và người Nhật rất yêu chuộng bài
thơ nầy.
3)
Kitamura Tôkoku và chủ nghĩa
lăng mạn Anh:
Mười
năm cuối cùng của thế kỷ 19, rơ
ràng là văn học Nhật Bản chịu
ảnh hưởng của chủ nghĩa lăng
mạn (romantism) đến từ Âu Châu.
Shimazaki Tôson (Đảo Kỳ Đằng Thôn,
1872-1943) chẳng hạn, đă dịch
truyện thơ Nữ thần Venus và nam
thần Adônis (Venus and Adonis, 1593)
của Shakespeare ra Cỏ Mùa Hạ (Kasô,
1892) rồi dùng lại trong sáng tác Ngựa
nhà trời (Tenba, 1897) của ḿnh.Khi
viết Khúc hát gió thu (Shuufuu no Uta),
ông đă lấy hứng từ Khúc hát
gửi gió tây (Ode to the west wind, 1819)
của Percy Bysshe Shelley (1792-1822). Nhà văn
Kunikida Doppo (1871-1908) khi tả phong cảnh vùng
đồng quê trong Cánh đồng Musashi
(Musashino, 1901) hay về sự giao cảm
với chim chóc trong Chim Xuân (Haru no Tori,
1904) cũng chịu ảnh hưởng t́nh
yêu thiên nhiên thấy qua tác phẩm của
hai anh em William Wordsworth (1770-1850) và Dorothy
Wordsworth (1771-1855).
Nhà
thơ và b́nh luận gia Kitamura Tôkoku (Bắc
Thôn, Thấu Cốc, 1868-1894), tự sát lúc chưa
đầy 26 tuổi, có để lại
tập thơ Thơ của người tù
nước Sở (Sojuu no shi, 1889) không
lấy cảm hứng “Sở tù” từ
điển cố Trung Quốc mà từ văn
chương Anh tức tác phẩm Người
tù ở Chillon (The Prisoner of Chillon, 1816)
của nhà thơ Anh quốc Byron (Lord Byron,
George Gordon, 1788-1824) nói về nhà ái quốc
François de Bonnivard, 1496-1570, v́ chiến đấu
chống chế độ hà khắc nên
bị giam cầm trong thành Chillon bên bờ
hồ Leman. Cần nhớ rằng, trước
khi tập thơ ra đời ít lâu, Nhật
Bản đang có phong trào đ̣i dân quyền
(1885) và chính phủ Meiji đă không ngần
ngại bắt giam nhiều nhà vận động.
Một
tác phẩm khác của Tôkoku, Hôraikyoku (Bồng
Lai Khúc, 1891) nói về người tù không
sống trong ngục tối nhưng trong nhà tù
cuộc đời cũng mượn ư
từ vở kịch Manfred (1817) của
Lord Byron. Khung cảnh câu truyện của nhân
vật Manfred là ngọn Mont Blanc th́ khung
cảnh của nhân vật của Tôkoku là núi
Bồng Lai (Phú Sĩ).Cả hai đều
muốn xa lánh cơi đời để đi
cầu đạo ở một thế
giới lư tưởng.
Người
ta thấy Tôkoku khi viết nghị luận có
chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa
siêu việt (transcendentalism) đề xướng
bởi triết gia Mỹ Ralp Waldo Emerson
(1803-1882), người đă truyền bá
triết học của Kant trên đất
Mỹ. Chủ nghĩa siêu việt chủ trương
con người phải chấp nhận
quyền lực thần linh có tính phàm
thần trong cuộc sống hữu hạn, cũng
như phải hướng về một luân
lư dựa trên cơ sở chủ nghĩa lư
tưởng và chủ nghĩa cá nhân mà
mục tiêu là cải thiện xă hội. Nói
khác đi, ông đă có phần nào gián
tiếp chịu ảnh hưởng của thi
nhân chủ nghĩa lăng mạn Anh Thomas Carlyle
(1795-1881), người mà Emerson hầu như sùng
bái.
4)
Nước Anh và Natsume Sôseki:
Văn
hào Natsume Sôseki (1867-1916), một trong hai ba nhà
văn hàng đầu của Nhật Bản
hiện đại là học giả Anh
ngữ trước khi chuyển sang viết văn
khoảng năm 1905. Ông đă du học 2 năm
ở London (9/1900-1/1903), “hai năm hết
sức khó chịu”. Thế nhưng không
thể nói rằng nước Anh không để
lại dấu vết trong ông,
Thuở
nhỏ, ông chuyên về Hán văn, khi vào
Dự bị Đại học (1884) v́ nhà trường
bắt buộc học sinh ngữ nên đă có
may mắn được các giáo sư Anh
Mỹ như James Murdoch (1856-1912) và James Main
Dixon (1856-1933) đào tạo.Trong thời gian
ở đại học ông đă viết nghiên
cứu về thi nhân người Mỹ Walt
Whitman, người mà phong cách được
ông đem so sánh với đại thi hào
Nhật Bản Matsuo Bashô.
Trong
thời gian ở Anh, ông có đi nghe giáo sư
W. P. Ker (1855-1923) giảng ở Đại
Học London. Những bài giảng của giáo
sư Ker có ảnh hưởng đến tác
phẩm của ông về sau. Tiếc là lúc
đó, chứng u uất sầu năo làm ông không
thích ứng được với xă hội
Anh và chỉ cảm thấy trong việc nghiên
cứu văn chương Anh toàn là những
cái khó khăn mà một người từng
hấp thụ một nền văn hóa
truyền thống Nhật vấp phải.
Năm
1903, Sôseki về nước, dạy ở
Đại học Đế Quốc Đông
Kinh, thế chỗ Lafcadio Hearn (1850-1904). Ông
viết nhiều luận thuyết văn
học và chủ trương cái quan trọng
cần để viết văn là tri
thức, (tượng trưng bằng F) sau
đó là t́nh cảm (f). Ông c̣n cho rằng
để hiểu một áng văn, phải
sử dụng tất cả tri thức xă
hội để phân tích v́ văn chương
dính liền với bối cảnh xă hội.
Đó
cũng là lối nh́n của Leslie Stephen
(1832-1904) trong tác phẩm Văn học và xă
hội Anh thế kỷ 18 (English Literature
and Society in the Eighteenth Century) mà ông chịu
ảnh hưởng.
Suốt
trên mười năm trước khi qua đời,
Sôseki là một kim tự tháp in bóng trên
nền trời văn học Nhật. Số lượng
tác phẩm của ông nhận ảnh hưởng
văn chương Anh không phải là ít. Ví
dụ Tháp Luân Đôn (Rondon tô, 1905)
lấy cảm hứng từ The Tower of London
(1840) của W.H. Ainsworth (1805-1882) hay Bảo tàng
Viện Carlyle (Kaarurairu no Hakubutsuka, 1905)
cho ta thấy t́nh cảm của ông đối
với nhà thơ Anh Thomas Carlyle (1795-1881).
Nguồn sáng tác của ông c̣n đến
từ các tác phẩm văn học về
kỵ sĩ đạo (chivalry) như Cái
chết của vua Arthur (La Mort d’ Arthur)
của Thomas Malory (chết năm 1471) hay Những
t́nh khúc của quân vương (The Idylls of the
King) của nhà thơ Alfred Tennyson (1809-1892)
như trong Cái thuẩn huyền ảo (Gen-ei
no Tate) nói về t́nh yêu của kỵ sĩ
thời Trung Cổ.
Ngay
cả Mèo chúng tớ (Wagahai wa neko dearu, 1905),
một cuốn truyện không có truyện,
trong đó giai cấp nhàn hạ và ưa
biện luận dây dưa được tô
vẻ ra dưới mắt quan sát mĩa mai
của một con mèo, giống như nội
dung nhiều tác phẩm Anh nhưng gần
gủi nhất có lẽ là Cuộc đời
và ư kiến của Tristam Shandy (The Life
and Opinion of Tristam Shandy, in năm 1759-67)
của Laurence Sterne (1713-1768).
H.Yamauchi
và H. Kawamoto (sđd, tr. 42) c̣n nói về
ảnh hưởng của Hamlet qua h́nh
ảnh nhân vật Ophelia và họa phẩm
vẽ Ophelia của J.E.Millais (1829-1896) đối
với Gối cỏ (Kusa Makura),
“một tiểu thuyết bằng thơ haiku”
của ông. Hoa mồng gà (Gubinjinsô,
Ngu mỹ nhân thảo), đăng báo
1907, in năm 1908) cũng có những nhân
vật giống như những nhân vật
trong tác phẩm của George Meredith (1829-1909).
Cho
nên, dầu Sôseki đă bỏ dạy
tiếng Anh để đi làm báo, viết văn
nhưng vốn liếng văn học Anh
hấp thụ ở nhà trường đă
thấm nhuần trong xương thịt
của ông để trở thành chất
liệu không thể thiếu được
cho tác phẩm vậy.
C)
Pháp
Nếu
không kể Jules Verne th́ ảnh hưởng
của Pháp đối với Nhật Bản
buổi đầu mạnh mẽ nhất có
lẽ trong lănh vực thi ca. Những nhà thơ
được giới thiệu có Baudelaire,
Verlaine, Mallarmé và Maurice Maerterlinck (1862-1949), thi
nhân người Bỉ diễn đạt
bằng tiếng Pháp, giải Nobel văn chương.
Nh́n chung họ là những nhà thơ theo khuynh
hướng tượng trưng hay thần bí.
Những dịch giả tài ba như Ueda Bin
(trong “Hải Triều Âm” tức Kaichôon,
từ năm 1905), Nagai Kafuu (trong San Hô
Tập tức Sango-shuu, 1915), Horiguchi
Daigaku (trong Một Đoàn Dưới Trăng
tức Gekka no Ichigun, 1925) đă đưa
họ đến
với độc giả Nhật Bản.. Những
bài thơ được nhắc nhở
nhiều ở Nhật là Sonnet của
Mallarmé hay Chanson d’Automne của
Verlaine…Ảnh hưởng của các
dịch giả ấy đến các thi nhân
Nhật Bản hàng đầu như Kanbara
Akiake hay Kitahara Hakushuu không phải là nhỏ.
Các
nhà văn lớn của Pháp như Honoré de
Balzac, Stendhal, Anatole France, Alphonse Daudet, Emile Zola,
Guy de Maupassant th́ đă đành nhưng có
một tiểu thuyết gia người Pháp
được các nhà văn Nhật Bản
đặc biệt yêu chuộng [xx],
đó là Raymond Radiguet (1903-1923). Ông được
đánh giá như là một “quỉ tài” v́
ông mất lúc mới hai mươi tuổi...
Những người chịu ảnh hưởng
của ông đến từ những chân
trời khác nhau từ Yokomitsu Riichi, Mishima
Yukio, Hori Tatsuo, Sakaguchi Ango cho đến Ôoka Shôhei.
D)
Đức
1)
Schiller và Nhật Bản:
Tác
phẩm Đức đầu tiên được
dịch ra tiếng Nhật và phóng tác dưới
thời Meiji là Wilhelm Tell của Friedrich
Schiller (1759-1805). Trong 4 bản dịch và phóng
tác th́ đă có ba lấy tựa đề có
chữ “tự do” ví dụ Cánh cung
của độc lập tự do công chính
hay Truyện tự do của Triết
Nhĩ (Tell” hay Người hùng của
tự do vv…Việc nhắc đến hai
chữ “tự do” trong tựa sách là
một điểm cần chú ư.
Ngày
nay, người ta đ̣i hỏi việc
dịch thuật phải trung thực nhưng
vào thời Meiji, không ai khó khăn đến
mức đó. Dịch giả có thể thêm
thắt học lược bỏ tùy theo
thấy cần thiết hay không. Trong đoạn
tả Tell xuất hiện chỉ v́ ḷng nhân
đạo mà giúp anh chàng Thụy Sĩ
phải trốn qua bên kia hồ giữa sóng
to gió lớn sau khi giết quan lại người
Áo, dịch giả đă cho xen vào một
đoạn diễn văn của Tell phát
biểu rất hấp dẫn theo thể 5/7
để tuyên truyền cho dân chủ tự
do. Có điều là đoạn nầy đă
đi ra khá xa ngoài nguyên tác.
Sở
dĩ có hiện tượng đó v́ dưới
thời Meiji, chính phủ đă hứa cho
bầu quốc hội từ 1881 mà măi đến
1890 nghĩa là 9 năm sau mới thực
hiện lời hứa.Trong dân chúng, hai
chữ “tự do” được phổ
biến rộng răi nên không có ǵ lạ khi người
dịch Wilhelm Tell đă nhấn mạnh
đến hai chữ ấy trong tác phẩm.
2)
Ảnh hưởng của Goethe:
Johann
Wolfgang von Goethe (1749-1832) được người
Nhật biết đến lần đầu
tiên qua dịch phẩm Con chồn Reineke
(Reineke Fuchs). Goethe đă mô tả con
chồn Reineke ranh mănh giảo hoạt trong
thế giới loài vật, đă đánh
lừa cả vua sư tử như thế nào.Tuy
nhiên tác phẩm phúng thích nầy chỉ
được Inoue Tsutomu (1850-1928), một nhà
dịch thật đầu thời Meiji
chuyển ngữ từ tiếng Anh sang với
một cách dịch hết sức Nhật hóa,
khuynh hướng chung của người
dịch thời ấy, bởi v́ tŕnh độ
của độc giả c̣n chưa cao để
thông cảm được những cái tinh
tế của văn học Tây Phương.
Tác
phẩm văn xuôi Nỗi khổ tâm
của chàng trẻ tuổi Werthers (Die
Leiden des Jungen Werthers) của Goethe cũng là
tác phẩm gây chấn động trong
giới độc giả trẻ thời
Meiji. Giới trí thức như nhà b́nh
luận Takayama Chogyuu (Cao Sơn, Xư Ngưu,
1871-1902), các nhà văn Shimazaki Tôson, Ozaki Kôyô…
đều đánh giá cao khi đọc
bản dịch qua Anh văn. Người
dịch thẳng từ tiếng Đức
lần đầu là học giả Hán văn
Kubo Tenzui (Cữu Bảo, Thiên Tùy, 1875-1934)
với sự cộng tác của một người
bạn giỏi tiếng Đức.
3)
Truyện nhi đồng của Grimm:
Không
những tác phẩm của Goethe và Schiller,
tập truyện nhi đồng của hai anh
em Jakob Grimm (1775-1863) và Wilhelm Grimm (1786-1859) nhan
đề Truyện nhi đồng của
trẻ em và gia đ́nh (Kinder–und
Hausmarchen) với chuyện Cô Bé Lọ
Lem (Aschenputtel), mà ai cũng nghe kể, đă
được phổ biến rất sớm
ở Nhật.. Kan Ryohô (Quản, Liễu Pháp,1857-1936)
đă dịch vào năm 1887 dưới nhan
đề Tập truyện cổ thần
tiên Tây Phương nhưng ông đă lược
bỏ những cảnh nào xem ra tàn nhẫn
trong nguyên tác.
4)
Vai tṛ gạch nối của Mori Ôgai:
Nhà
văn đầu đàn thời Meiji, Mori Ôgai
(Sâm, Âu Ngoại, 1862-1922) cũng là một nhà
dịch thuật không ngừng nghỉ. Các
dịch phẩm của ông đă ảnh hưởng
đến các nhà văn lớp sau. Ông đă
dịch không những tác phẩm Đức mà
cả những tác phẩm của các nước
khác được biết qua bản Đức
văn nhờ sự hiểu biết ngôn
ngữ nầy mà ông đă dùi mài suốt
thời gian du học. Sau khi từ Đức
về năm 1889, ông đă cùng bạn bè thành
lập nhóm Tiếng Nói Mới (Shinseisha,
Tân Thanh Xă) và cho ra mắt tập thơ
dịch Bóng H́nh (Omokage) trong đó
đă có thơ của Heinrich Heine (1797-1856) và
Goethe. Bài thơ của Goethe nhan đề Khúc
hát của nàng Mignon, một mỹ nhân
bạc mệnh, thấy trong tiểu thuyết
mang tên Thời học việc của Wilhelm
Meister (Wilhelm Meistes Lehrjahre), với h́nh
thức 10/10 âm tiết khác với thể 5/7
truyền thống của người
Nhật.
Faust
(1774-1831),
kịch thơ gồm hai tập của Goethe nói
về cuộc đời đầy hứng
thú, bi kịch trong t́nh yêu và cuộc đổi
chác của học giả Faust và ác quỉ
Mephisto là tác phẩm được nhiều
người dịch, trong đó có Ozaki Kôyô
dịch từ tiếng Anh. Shimazaki Tôson cũng
rất rành rẽ về Faust. Ôgai đă
dịch từ nguyên văn tiếng Đức
theo lời yêu cầu của Bộ Giáo
Dục và hoàn tất năm 1913. Khi xuất
bản, sách bán rất chạy và gây
được tiếng vang lớn.
5)
Ảnh hưởng văn học Đức
trên các nhà văn nhà thơ khác:
Theo
như chính tác giả nh́n nhận, Tấm
Nệm Giường (Futon, 1907) của
Tayama Katai bắt nguồn từ vở
kịch Những người lặng lẽ
(Einsame Menschen) của Gerhart Hauftmann
(1862-1946). Mối t́nh của nhà văn trung niên
Takenaka Tokio với cô gái trẻ Yoshiko trong Futon
chẳng khác ǵ mối t́nh của học
giả Johanes với nữ sinh viên Anna trong
kịch Hauftmann. Câu truyện nầy giống
như kinh nghiệm bản thân của nhà
soạn kịch Hauftmann. Hơn nữa, có
sự trùng hợp lư thú là năm Katai 34
tuổi ông cũng gặp một cô gái
mới có 17 ái mộ văn ḿnh, đến
nhà chơi rồi ở lại luôn. Ông c̣n
gọi cô ấy là “Anna của tôi”.
Về
thơ th́ Susukida Kyuukin (Bạc Điền,
Khấp Cần, 1877-1945), nhà thơ thuộc
khuynh hướng tượng trưng đời
Meiji, trong tập thơ Cḥm sao Bạch Dương
(Hakuyôkyuu, Bạch Dương Cung) có bài thơ
Nhớ cố hương (Bôkyô no shi
=Vọng Hương Thi, 1906), nói về
vẻ đẹp bốn mùa thay đổi
của vùng Kyôto, quê hương ông. Bài
nầy được làm ra sau khi đọc Khúc
hát của Mignon. Điều đó cho ta
thấy thi nhân c̣n có thể vô t́nh chịu
ảnh hưởng thơ ngoại quốc khi
kiến tạo thế giới thơ của
riêng ḿnh.Những cảnh chim kêu, ve ngâm, các
cô gái đi kiếm cá ayu trên ḍng sông,
cảnh uống rượu cười nói, chèo
thuyền thưởng hoa thấy trong thơ
Kyuukin không có ǵ liên quan đến cảnh
vật nước Đức của Goethe.
Thơ
Heinrich Heine (1790-1856) được đặc
biệt yêu chuộng từ thời Meiji.
Cả Takayama Chogyuu và Yoshano Tekkan (Dữ
Tạ Dă, Thiết Cán, 1873-1935) đều ái
mộ thơ ông. Năm 1901, Onoue Saishuu (Vĩ
Thượng, Sài Chu, 1876-1957) đă dịch Lorelei
ra tiếng Nhật, gây nên phong trào đọc
thơ Heine vào thời đó. Tuy Heine c̣n là
một nhà thơ có ư hướng phê phán xă
hội nhưng h́nh ảnh của Heine ở
Nhật chỉ là một phẩm nhà thơ
trữ t́nh đă làm cho họ cảm động
nhỏ lệ.
Thơ
Đức cũng được Ueda Bin (Thượng
Điền, Mẫn, 1874-1916) dịch nhiều
trong tập thơ dịch Hải Triều
Âm (Kaichôon, 1905) trong đó có
những thi nhân Đức ít người
biết tiếng như Carl Busse (1872-1918).
Nhà
viết kịch Kubo Sakae (Cữu Bảo, Vinh,
1900-1958) khi công diễn Đạo tặc vùng
Yoshino (Yoshino no Tôzoku, 1933) cũng
cho biết rơ đă phỏng theo Bọn Cướp
(Die Rauber) của Schiller. Thuở c̣n đi
học, Kubo đă thích Schiller dù khi đọc
nguyên tác Die Rauber, ông phải
lật từ điển tra từng chữ.
Sau đó, không bằng ḷng với phóng tác,
ông đă dịch nó ra Nhật ngữ vào năm
1936.
Có
thể Mèo Chúng Tớ (Waga hai wa neko dearu)
của Natsume Sôseki c̣n chịu ảnh hưởng
của Nhân sinh quan của chú mèo đực
tên Murr của Ernst Theodor Amadeus Hofmann (Lebensansichten
des Kater Murr, 1762-1822). Điều nầy
đă được người ta nói ra ngay
lúc Natsume c̣n sống. C̣n Hugo von Hofmansthal
(1874-1929) th́ thơ ông ảnh hưởng
đến nhiều người trong số
đó có Kinoshita Mokutarô ((1885-1945), Nagai Kafuu,
Tanizaki Jun-ichirô. Nhà văn Akutagawa cũng thú
nhận đă cảm động rớt nước
mắt khi đọc thơ Hofmanthal (xem đoản
văn Nước Gịng Sông Cái (Ôkawa
no mizu, 1912) và khi viết Hai Bức Thư
(Futatsu no Tegami), ông đă mượn ư
từ Bức thư cuối cùng của
Andreas Thameyer (Andeas Thameyers letzter
Brief) do Arthur Smitzler (1862-1931) viết. Hori
Tatsuo (Quật, Th́n Phu, 1904-1953), Tachihara Michizô
(Lập Nguyên, Đạo Tạo, 1914-1939), Itô
Shizuo (Y Đằng Tĩnh Phu, 1906-1953), các nhà
văn thuộc nhóm Shiki (Tứ Quí) đều
tiếp nhận ảnh hưởng của
Rainer Marie Rilke (1875-1926). Trong khi Mishima Yukio yêu
thích Thomas Mann (1875-1955) th́ Abe Kôbô lại
ngả theo phong cách viết của Franz Kafka
(1883-1924).
Văn
học sử Đức cũng được
giới thiệu cho người Nhật ngay
từ thời Meiji. Trước tiên phải nói
đến tập kịch bản Đức
do Hisamatsu Teikô (Cữu Tùng, Định
Hoằng, 1857-1913) thu thập và dịch năm
1887, sau đến tập văn học sử
Đức do Shibue Tamotsu (1957-1930) giới
thiệu cho độc giả Nhật
những tên tuổi lớn như Lessing,
Goethe, Schiller…
Nh́n
chung, việc giới thiệu các sáng tác
từ tiếng Đức cũng như văn
học sử Đức từ thời Meiji
đă đóng góp vào việc phát triển
tự do dân quyền ở Nhật. Một người
như Takagi Isaku (Cao Mộc, Y Tác, tác giả
tập nghiên cứu nhan đề Goethe (1893)
đă xem thi nhân Goethe và anh hùng Napoléon là hai
nhân vật quan trọng nhất của
thời cận đại nhưng chính Goethe
mới “là người dạy cho ta (người
Nhật) thế nào là can đảm và b́nh
đẳng”.
E)
Tây Ban Nha
Tác
phẩm Tây Ban Nha đă được
dịch ra tiếng Nhật tự thời
Azuchi Momoyama (1568-1600). Năm 1592 tức sau khi
Hideyoshi Toyotomi thống nhất thiên hạ,
đă có một tác phẩm được in
ra bằng chữ La Mă ở Kyuushuu. Đó là Fides
no Doxi c̣n gọi là Shinjinroku có nghĩa
là Bài Giảng Của Nhà Truyền Giáo.
Quyển sách với mục đích dạy giáo
lư nầy đă dịch từ nguyên tác
của thầy ḍng Dominicain tên Luis de Grenada
(1504-1588). Ông này c̣n có một tác phẩm khác
nhan đề Dẫn Dắt Kẻ Phạm
Tội (Guía de pecador, 1556-1557)
được phiên trực tiếp qua âm
Nhật thành Giyadopekadoru.
Đến
đời Meiji, tác phẩm bằng tiếng Tây
Ban Nha nổi tiếng nhất được
giới thiệu cho người Nhật không
ǵ khác hơn Don Quixote (1605-1615) của Miguel de
Cervantes Saavedra (1547-1616), được
dịch thành Độn Hỷ Ông kỳ hành
truyện (Truyện về hành vi lạ lùng
của ông Don Ki) vào năm 1885. Tuy nhiên,
từ năm 1613 trong tập đoản thiên Tập
Đoản Thiên Mẫu Mực (Mohan Shôsetsu-shuu
hay Novelas Ejemplares) có đăng hai tác
phẩm khác là Kết Hôn Trá H́nh (El
casamiento enganoso) và Sức mạnh của
huyết tộc (Le fuerta de sangre). Don
Quixote với nội dung phúng thích lớp
kỵ sĩ suy vi, có giá trị giáo dục
đối với người đương
thời nhưng hai tác phẩm kia chỉ
được người dịch giới
thiệu như một chuyện có thật và
khai thác khía cạnh ly kỳ
của nó thôi.
F)
Văn Học Châu Mỹ La Tinh
Văn
học Châu Mỹ La Tinh chỉ đến
Nhật thực sự từ thập niên 1970
nghĩa là trên 30 năm nay. Dầu có
nhiều người Nhật di dân đến
Brazil, Argentine, Peru nhưng Nhật Bản
chỉ chú ư đến đời sống
tinh thần của khu vực này từ khi có
những biến chuyển chính trị năm
1959 của cuộc cách mạng Cuba. Trong
thập niên 1950, thơ của Pablo Neruda (
1904-1973) và văn Jorge Luis Borges (1899-1986)
được độc giả biết
đến và tán thưởng, trong thập niên
1960, đôi bài thơ mang màu sắc chính
trị được dịch ra trong các
tuyển tập thơ hay quốc tế nhưng
nói chung chưa để lại ấn tượng
sâu sắc. Bất đồ sau đó,
với sự xuất hiện của những
cây viết mới được sách báo Âu
Mỹ giới thiệu, một phong trào ái
mộ văn học Châu Mỹ La Tinh đă thành
h́nh ở Nhật Bản.
Văn
học Châu Mỹ La Tinh viết bằng hai
thứ tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
đă xuất phát từ thế kỷ 16 nhưng
chỉ là mô phỏng Âu Mỹ. Măi đến
giai đoạn 1880-1920 mới có những cây
bút trẻ ra đời qua cuộc vận
động cách tân (Modernisimo). Trên con
đường đó, văn học đă
khai hoa với những nhà văn nhà thơ
phần nhiều lưu vong ở Âu Châu như
Miguel Angel Asturias (1899-1974), Alejo Carpentier
(1904-1980), Jose Luis Borges (1899-1986). Asturias viết
Ngài Tổng Thống (El Senor Presidente, 1946)
phê phán chính quyền độc tài, có
tiếng vang lớn, sau đoạt giải
Nobel văn chương năm 1967. Carpentier cho
ra đời vào năm 1946 tác phẩm Vương
quốc cuộc đời (El reine de este
mundo), tŕnh bày hiện thực kinh dị
của xă hội Mỹ La Tinh, một hiện
thực không thua ǵ thế giới huyễn tưởng
thấy trong của những nhà văn siêu
thực Âu Châu mà ông đi lại. Borges đi
theo một con đường khác. Sinh trưởng
trong gia đ́nh thượng lưu ở Buenos
Aires, ông bắt đầu bằng thơ, sau
đó bước qua lănh vực tiểu
thuyết.Tác phẩm tiêu biểu có Tập
truyện truyền kỳ (Ficciones, 1944)
và Chữ A (El Aleph, 1949), khai
triển những chủ đề liên quan
đến các ư niệm như thời gian, vĩnh
cữu, cái chết, mộng, mê cung…
Ba
nhà văn này đă gây nên phong trào yêu
chuộng văn học Châu Mỹ La Tinh ở
Nhật. Sau các ông, đến lượt nhà
văn người Peru, Mario Vargas Llosa (1936- ),
với Thành phố và bầy chó (La
ciudad y los perros, 1962) tŕnh bày vấn đề
bạo lực dă man ở một học
viện quân sự. Ngoài ra c̣n phải kể
đến nhà văn người Uruguay Juan
Carlos Onetti (1909-1994), nhà văn Mehico Juan Rulfo
(1918-1986), những người đă khẳng
định sự hiện hữu của văn
hóa Châu Mỹ La Tinh.
Trong
số những nhà văn của vùng đất
này, người được coi như
đóng góp nhiều hơn cả có lẽ là
Gabriel Garcia Marquez (1928- ), người gốc
Columbia giải Nobel văn chương 1982,
với Trăm năm Cô Đơn (1967),
một tác phẩm ăn khách không tiền khoáng
hậu của một tác giả Mỹ La Tinh.
Tác phẩm vẽ nên khung cảnh với
những thảm trạng tiêu biểu cho
một xă hội Mỹ La Tinh bất cứ
ở đâu. Thủ pháp pha trộn yếu
tố hiện thực với siêu tự nhiên
của ông được gọi là “hiện
thực huyền ảo” (magic realism), đă
trở thành một nét đặc trưng
của văn học Mỹ La Tinh.
Các
nhà văn Nhật Bản trước tiên
đă biết đến tác phẩm văn
học của Châu Mỹ La Tinh qua tiếng Pháp.
Họ là Shinoda Hitoshi, Nakamura Shin-ichirô, Shimizu Tôru,
Tsuji Kunio, Ôe Kenzaburô. Văn học vùng đất
này đă được dịch rất
nhiều trong các tạp chí ở Nhật trong
niên đại 1960 và sau khi Asturias đoạt
giải Nobel th́ sách dịch về họ
bắt đầu ra đời. Ngài
Tổng Thống (1971), Trăm Năm Cô
Đơn (1972)… được nhiệt
liệt tán thưởng nên đến
khoảng 1977 đă bắt đầu có
những bộ tùng thư về văn
học Mỹ La Tinh trên thị trường.
Đáng kể nhất là bộ của nhà
xuất bản Shuueisha gồm 18 quyển
(1983-84) và bộ của Gendai Kikakushitsu có
tới 15 quyển (1992-96).
Lời
tạm kết:
Trên
đây, người viết chỉ có thể
tŕnh bày một cách sơ sài về quá tŕnh
tiếp thu ảnh hưởng Tây Phương
của các nhà văn Phù Tang. Nước
Nhật đă biết đến văn
học Tây Phương từ thế kỷ 16
nghĩa là rất sớm và tỏ ra có tính
hiếu kỳ và cầu tiến, muốn
biết người để biết ḿnh.
Việc phiên dịch các tác phẩm ngoại
quốc nằm trong quĩ đạo quốc
sách “thoát Á nhập Âu” của buổi
đầu thời Meiji (thế kỷ 19) là cách
học hỏi mau chóng hơn cả, nay đă
lan măi ra không biết đến bến
bờ nào. Tuy việc dịch thuật ít nguy
hiểm hơn sáng tác v́ ́t khi bị rơi vào
cái họa “văn tự ngục” song
lắm khi người dịch cũng gặp
rắc rối đến nổi phải ra
hầu ṭa như trường hợp người
đầu tiên dịch Người t́nh
của phu nhân Chatterley (Lady Chatterley ‘s
Lover) sang tiếng Nhật. Tác phẩm gây
chấn động thời đó của nhà
văn Anh D.H. Lawrence (1885-1930) ngày nay chẳng
qua một quyN |