NỖI L̉NG ARPAYO

(Arpayo, 1973)  

 

Nguyên tác: Endo Shusaku

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Giê-su cầu nguyện trong đồng vắng (ảnh minh họa)   

Khởi hành đă được năm ngày. Giờ đây, đoàn người đang đi dọc bờ con sông Giô-Đanh (Jordain) nước đục màu bùn. Với cḥm râu trông giống mấy lăo già c̣n tay cầm gậy dài, họ xuyên qua khu rừng cây long-năo để xuống phía Nam. Tuy khu rừng cứu họ khỏi cảnh nắng nôi khi phải lội bộ qua đồng vắng, nhưng thay vào đó, họ có cái khổ tâm khác là thường gặp chỗ nước đọng thành vũng lớn và đầm lầy. Dù vậy, nó c̣n khá hơn cảnh khổ sở trên đầu không có ǵ che khi vượt những cánh đồng hoang vu dưới cái nóng như thiêu

Vầng thái dương giống cái mâm lớn màu trắng, liên tục rải một thứ ánh sáng lờ mờ trên vùng đất hoang dă từ sáng đến chiều. Trong khu vực sa mạc khô cằn rộng ngút ngàn, ngoài loại cây gai mà dân địa phương gọi là “natap”, chỉ thấy rải rác đó đây những g̣ nỗng với ghềnh đá nhọn như nanh thú và không có lấy một cành cây ngọn cỏ. Đôi khi, bầu trời cao bên trên những cái g̣ đó lại xuất hiện mấy con chim cỡ lớn màu đen đang sải cánh, chúng lượn thành những ṿng tṛn to tướng.

Phía chân trời là những ngọn núi nằm tiếp nối bên nhau, bị gió bào ṃn tạo ra vô số nếp nhăn. Nếu ngày mai, khi đứng trên một trong những ngọn núi này nh́n dơi về xa, thế nào đoàn người cũng nhận ra vài bóng lạc đà, lừa và người, những sinh vật mà đă ba hôm liền, họ chưa được thấy. Nơi đó là thành phố cổ Giê-ri-cô (Jericho) và đoạn đường từ đó đến kinh đô El Salem sẽ không c̣n xa lắm.

Khi họ khởi hành từ phía Bắc, kẻ tham dự là hai mươi người, nhưng hiện giờ, con số đó đă vơi đi phân nửa. Sáng sớm, bầu trời nhuộm một màu hồng. Vừa khi tiếng ai đó húng hắng ho v́ khí lạnh, nó đă đánh thức cả bọn dậy, họ bỗng nhận ra rằng một vài người tối hôm qua c̣n nằm ngủ cạnh ḿnh, đă bỏ đi không biết lúc nào giữa khi trời c̣n tối. Ngày đầu tiên, họ mất hai người, qua hôm sau, lại mất thêm ba, rồi ngày hôm qua, năm người đă bỏ Giê-su (Jesus) và đồng bọn của ḿnh để đổi hướng cuộc hành tŕnh. Trước t́nh trạng đó, tuy Giê-su thấy đám môn đồ c̣n lại mặt mày u ám, có lẽ v́ họ cảm thấy lo lắng nếu cứ phải tiếp tục đi theo thầy, thế nhưng ông vẫn không nói câu nào. Ông chỉ buồn bă đứng lên và bắt đầu chuẩn bị công việc cá nhân trước một ngày đường.

Chuyến lữ hành lại bắt đầu dưới ánh nắng của một vầng thái dương nóng bỏng. Nếu ngắm bờ vai mảnh mai, nhỏ bé của Giê-su, lúc ấy đang đi đằng trước đoàn người, đám môn đồ c̣n lại chắc sẽ lưỡng lự, xâu xé bởi ư tưởng không biết có nên tiếp tục theo chân ông hay không? Một năm trước đây, con người với bờ vai nhỏ bé và mong manh này đă hiện ra trước mặt họ với tất cả uy quang hiển hách của một nhân vật hiếm có như vừa đến trong mơ. Vào thời điểm đó, từ những xóm làng nghèo khổ như Capenaum hay Magudara, bao đám người lam lũ như ăn mày ăn nhặt đă đến vây quanh người đàn ông thân h́nh nhỏ bé này, đưa tay sờ lấy áo xống của ông. Cánh cửa những ngôi nhà đắp bằng đất bùn đă mở, rồi từ bên trong, bao cánh tay khẳng khiu của các cụ già cũng đă ch́a ra. C̣n như khi con người ấy leo lên một ngọn đồi, biết bao phụ nữ và bệnh nhân xếp thành hàng dài đi theo sau giống như đàn cừu. Đến lưng chừng quả đồi, người ấy đă chọn một chỗ để ngồi xuống. Trước những làn gió nhẹ thổi từ phía mặt hồ Ga-li-lê đang tắm trong ánh nắng lấp lóa, bằng một giọng ôn tồn, người ấy dă thuyết giảng về t́nh yêu thương và sự tha thứ (và đó cũng là điều duy nhất mà người ấy biết). Tất cả con mắt của đám đông như đồng loạt mở ra, chăm chú nh́n và thu nhận vào tai điều người ấy nói.

Thế nhưng, giống như cái cảnh khi chiều đến, ánh mặt trời dữ dội trên đồng vắng bỗng nguội đi bất ngờ, chỉ sau một năm, bầu không khí cuồng nhiệt kia bỗng kết thúc. Thầy tế lễ cả Anas ở El Salem gửi bọn tay chân là bọn thám tử cùng những kẻ chuyên gây rối đến. Chúng đă thành công trong việc gieo hoang mang và thất vọng về người ấy cho đám quần chúng vốn là những kẻ tinh thần dễ bị lung lạc. Chúng bảo: "Hăy nghe cho kỹ! Chính tên này đă phạm vào những điều răn dạy do tổ tiên dân ta để lại trong bộ luật Tora. Hắn cũng không biết giữ giới là phải nghỉ ngơi trong ngày lễ Sabath (An Tức Nhật)[1]! " hoặc "Hăy nh́n cho kỹ! Tướng mạo giống kẻ ăn xin của hắn chả đáng mặt giáo sĩ (rabbi) mà c̣n không xứng với cả danh xưng thợ mộc". Các thầy tế lễ ở Capenaum đă đóng cửa giảng đường là nơi lễ bái của đạo Do Thái (synagogue) không cho giáo đoàn của người ấy bước vào. C̣n những ai đến nghe Giê-su giảng đều bị đám này phê phán kịch liệt.

Lúc đầu, quần chúng đi theo Giê-su những mong ông sẽ đánh bại lũ chuyên môn gây rối đó. Tuy vậy, khi họ nhận ra rằng Giê-su v́ không thèm tranh chấp với chúng mà bỏ thành phố ra đi th́ những người ủng hộ cuồng nhiệt trước đây đă lần hồi thất vọng, rồi sau đó, đâm ra khinh miệt ông. Có những con bệnh v́ nóng ḷng chờ phép lạ đă phun ra những lời lẽ thóa mạ và trù ẻo khi họ nghĩ rằng ông không muốn ra tay cứu giúp họ, rồi sau đó lại bỏ rơi ông. Rốt cuộc, Giê-su phải trở về thành phố quê hương là Na-za-rết (Nazareth) nhưng đón rước ông ở đây chỉ là những băi nước bọt và lời diễu cợt. Ngay các anh em họ cũng xem ông là kẻ đầu óc bất b́nh thường. Do đó mà chỉ trong mấy hôm, mười đệ tử đă bỏ ông đi.

Qua năm sau, vào dịp lễ Vượt Qua (Sugikoshi no Sai, Passover), Giê-su tỏ ư với các môn đồ là ḿnh muốn lên thủ đô El Salem. Nghe thế, đám môn đồ nh́n nhau ái ngại, trên mặt ai cũng biểu lộ sự lo lắng. Lư do là họ thừa biết rằng trong thành phố El Salem, nơi thầy tế lễ cả Anas có mặt, Giê-su và họ c̣n phải gánh chịu sự miệt thị và ngược đăi gấp mấy lần!

Một môn đồ tên là Si-môn (Simeon) bèn lên tiếng:

-Hai phái Parisai (Pharisaioi) và Sadokai (Saddukaioi) căm ghét thầy lắm, thầy ơi! Có lẽ bọn họ sẽ giăng bẫy cho thầy cũng không chừng. Xin thầy đừng quên chuyện hồi ở Na-za-rết, người ta đă lập mưu giết thầy đó!

Kư ức kính hoàng những ǵ xảy ra vào nửa tháng trước hăy c̣n in rành rành trong óc họ. Đám đông ở thành phố Na-za-rết đă cười cợt, rồi cùng với những kẻ gây rối dẫn đầu, xúm lại bao vây người ấy và đám đệ tử, lôi tất cả ra một chỗ vắng vẻ bên ngoài thành phố và định xô họ xuống từ trên ghềnh đá. Nếu đám anh em bà con của Giê-su không van lạy hết lời th́ lúc đó, không những ông mà cả đám học tṛ đă phải chịu h́nh phạt ném đá (ishiuchi) bên bờ vực. Lần này, nếu đi El Salem, bao sự nguy hiểm giống như thế nhất định đang chờ đợi họ.

Trước những lời khuyến cáo của Si-môn, Giê-su chỉ lắc đầu, buồn bă nói:

-Này Si-môn, nếu ngươi muốn quay về th́ cứ việc rút lui. Không sao đâu! Thầy tế lễ cả ở El Salem muốn xử tội và đặt h́nh phạt cho ta để giữ ǵn giáo luật của họ nhưng ta là người chỉ biết có mỗi ḷng yêu thương.

-Thế nhưng v́ cớ ǵ thầy lại muốn lên El Salem?

-Tại sao ta lại muốn đi El Salem ư?

Giê-su dừng lại một thoáng, chơm chớp đôi mắt và nói tiếp:

-Có lẽ rồi các ngươi sẽ biết thôi. Vào ngày cuối cùng của lễ Vượt Qua, thế nào các ngươi cũng sẽ hiểu tất cả.

Trong lúc này, Giê-su chợt đă trở thành một thực thể xa xôi mà không bàn tay một môn đồ nào có thể với tới. Họ không c̣n nắm bắt một cách dễ dàng những ǵ đang xảy ra trong đáy ḷng của thầy ḿnh nữa. Trước câu trả lời khó hiểu này, họ không biết làm ǵ khác hơn là giữ im lặng.

Thế rồi đoàn người đă đi qua vùng Decapolis và Samariya trên đường hướng về El Salem. Họ men theo con đường dọc sông Giô-Đanh để xuôi Nam. Lúc đó là tháng tư, dưới bóng những bụi lau sậy bên sông, lũ ếch nhái đă bắt đầu inh ỏi. Vượt những ngọn đồi hoa mồng gà (coquelicot) đang khoe sắc đỏ rực, họ đi qua những thôn làng xám một màu tro. Đến ngày thứ ba th́ trước mắt họ không c̣n làng xóm cũng như vườn tược mà là một cánh đồng hoang vắng đột ngột hiện ra trước mặt. Bên trên khu vực này chỉ có một vầng thái dương với h́nh thù như mâm bạc đang phóng những tia sáng nhay nháy lên trên đầu họ cùng với bóng những con chim giăng đôi cánh lớn lượn thành ṿng tṛn.

Mười môn đồ c̣n lại tiếp tục lê những bước chân nặng trĩu sau gót Giê-su. C̣n Giê-su tuy có dáng mệt mỏi, hư hao với khuôn mặt đầm đ́a mồ hôi nhưng khi quay đầu ngoái nh́n bọn họ, ông vẫn cố nhoẻn một nụ cười như điều ông vẫn thường làm với tất cả mọi người. Đám môn đồ đi theo sau đă thấm thía được ư nghĩa của cử chỉ đó. Phải chăng, họ đang thầm nghĩ: "Cớ sao ta lại phải bước theo người này?"

Mỗi lần nh́n khuôn mặt của thầy ḿnh, mười môn đồ như đều nuôi một ư nghĩ riêng tư. Giống như người sắp chết khát trên sa mạc phải nhay nhay miếng da thuộc (nameshikawa) để sống c̣n, họ đă bao lần nghiến răng cắn vào câu hỏi ấy. Tuy nhiên vẫn chưa thấy một tiếng thở vắn than dài nào thoát ra khỏi miệng của họ bởi v́ chính họ cũng không t́m ra câu trả lời là có nên bỏ mặc người này và ra đi hay không. Ngày xưa, họ biết rơ ràng và xác thực lư do ḿnh đi theo ông ta như một vật nắm được trong ḷng tay. Lúc đó, họ c̣n cảm thấy hạnh phúc và tự hào mỗi khi được cùng người ấy cười nói, đưa tay ra nắm và chan ḥa với đám đông đang xúm lại chung quanh mấy thầy tṛ. Nội cái việc ở bên cạnh ông để được mọi người bày tỏ ḷng mến mộ là đă đủ cho họ cảm thấy vui sướng.

Thế nhưng giờ đây, người đàn ông đang bước trước mặt họ rốt cuộc đă trở thành một kẻ hoàn toàn thất bại trong mọi dự tính. Bất luận nơi đâu, từ Capenaum sang Magudara cho đến Galilaya, trong xóm làng nào, cuối cùng ông đều bị người ta tống cổ. Trên khuôn mặt hốc hác v́ mỏi ṃn, họ không c̣n có thể chờ đợi ǵ khác ngoài nụ cười hiền lành nhưng khổ đau ấy nữa! Đoàn người với hai mươi môn đồ chỉ cần ba hôm thôi, đă có phân nửa bỏ mặc thầy ḿnh để rẽ qua hướng khác.Tuy nhiên, không thấy ai trong đám học tṛ c̣n sót lên tiếng chê trách đồng bọn vừa bỏ đi là kẻ bạc t́nh.

Chiều xuống, họ đi t́m chỗ ngủ qua đêm bên bờ sông. Mỗi người lấy từ trong túi vải ra một ít hạt ô-liu và vài miếng bánh ḿ chay mỏng, vừa đứng vừa ăn và không nói một lời. V́ quá kiệt sức và lo âu, hầu như không một ai trong bọn c̣n muốn lên tiếng. Đến lúc mặt trời lặn, nhiệt độ trên đồng vắng bỗng hạ thấp một cách đột ngột. Ánh sáng mặt trời đă rút về bên sườn những ngọn đồi h́nh đầu lâu, đầy những nếp nhăn v́ bị gió bào ṃn, và đang nằm phía bên kia cánh rừng long-năo. Sau khi dùng xong bữa tối, Giê-su đă tách khỏi đám môn đồ và đi cầu nguyện dưới bóng một quả đồi như vậy.

Chỉ lúc ấy, một môn đồ mới bắt đầu mở miệng:

-Làm sao bây giờ? Thầy ấy nói nếu ai muốn bỏ về th́ cứ tự tiện rút lui. Sao tôi không thấy anh nào động đậy. Thế là thế nào?

Câu hỏi đó có lẽ là câu hỏi chung mà những thành viên trong đoàn đă tiếp tục đặt ra cho ḿnh suốt ngày hôm ấy khi lê bước đằng sau Giê-su.

-Bảo tại sao th́ chính tôi cũng không biết nốt. Nếu thế th́ xin hỏi ngược lại là v́ cớ ǵ cho đến hôm nay, anh vẫn lẽo đẽo đi theo người ấy?

Khi Si-môn th́ thào đặt câu hỏi như người đang mệt đứt hơi, một người khác làm như vừa thử nh́n xoi mói vào trong ḷng ḿnh, đă cúi gầm mặt và trả lời như vậy.

Tadai (Thadei), một môn đồ khác lên tiếng:

-Ban đầu th́...tôi nghĩ rằng thầy ấy sẽ là người cứu được xứ Ga-li-lê, quê hương của tôi.

Ga-li-lê (Galileia) cũng như Pa-lét-ti-na (Palestina) đúng là hai mảnh đất nghèo khổ nhất. Đây là vùng được chia cho vua Hê-rốt (Herod), vừa ẩm thấp vừa nóng kinh hoàng, cũng là nơi thường có bệnh dịch đi qua. Dân chúng sống ở đây đều kỳ vọng sẽ đánh đuổi người La Mă (Roma) đang đô hộ họ để t́m lại cuộc sống ngày xưa.

-Và tôi c̣n hy vọng người ấy sẽ chấn chỉnh lại ḷng tin tôn giáo.

Tâm sự của Pi-li-pô (Philip) cũng là tâm sự của nhiều người trong đám môn đồ. Dù đă t́m đến với Giê-su, ông cũng như bao nhiêu người dân Do Thái lúc bấy giờ đều thờ phượng đạo Do Thái. Chẳng qua họ thấy tôn giáo ấy đă bị nhóm Sa-đô-kai làm cho biến chất sau khi giáo phái này bắt tay thỏa hiệp với chính quyền La Mă.

-Hồi đó tôi cũng thế thôi.

Người đàn ông chột mắt có hỗn danh là Cananeon gật gù. Ông mắt chột này trước kia là một người có chân trong Đảng Ái Quốc (Nhiệt Tâm Đảng, Zerote) vùng Ga-li-lê. Nếu khả năng cho phép, có khi ông đă nhập bọn với những thành phần quá khích, cầm vũ khí trên tay để đánh nhau với quan cai trị người La Mă!

-Mọi người lúc đó đang cần một điểm chung. Khi thầy ấy xuất hiện, chúng ta những tưởng ḿnh đă t́m ra một chỗ dựa cho ḿnh rồi.

-Thế nhưng chẳng thấy ông ấy làm được một việc ǵ! Bao lâu, chúng tôi đă tưởng rằng ông có thể làm được tất cả, nhưng rốt cuộc, ông chẳng làm được ǵ ráo.

-Thế mà vẫn có những người không chịu bỏ đi.

Si-môn hai tay ốm lấy đầu gối, quay sang nói với Cananean và Tadai với một giọng không c̣n hơi sức. Giọng nói mất hết tự tin đó dường như không phải để cho hai người bạn đường nghe mà là để tự đặt câu hỏi cho ḿnh.

Cananeon phản pháo Si-môn bằng một giọng giận dữ:

-Nếu thấy người ấy không làm ǵ ra tṛ, tại sao bạn lại không bỏ?

Si-môn chỉ ngước mắt nh́n về ngọn đồi nơi Giê-su ra đi để cầu nguyện một ḿnh và nói:

-Chịu, tôi không biết. Duy có một điều là...khi nh́n đôi mắt buồn bă của ông ấy, ḷng tôi không khỏi xót xa.

Mặt trời đă khuất hẳn. Bên đường chân trời, khu đồng vắng, chỗ những cây gai “natap” ḅ lan và mọc xum xuê trông như khói phủ, là có chút trắng đục như sữa. Nhưng rồi nó đă hoàn toàn pha lẫn vào bóng màu than xám của những quả đồi h́nh đầu lâu. Trong cái bóng đen sẫm đó, Giê-su hăy c̣n tập trung vào lời cầu nguyện.

Mọi người iim lặng. Nỗi buồn trong đôi mắt Giê-su mà Si-môn vừa mới nhắc tới, thật ra mọi người đều biết. Đó là ánh mắt khi Giê-su nh́n đăm đăm vào chỗ ngủ đêm qua của những môn đồ vừa bỏ trốn vào buổi sáng hôm sau họ ra đi.

Tuy nhiên, họ không chỉ mới thấy ánh mắt đó vào hôm qua hay sáng nay thôi đâu. Ở những thôn xóm nghèo khổ bên bờ hồ Ga-li-lê như Magudara hay Bessaida và trước đoàn dân chúng đầy những bệnh nhân và người già yếu đáng thương, Giê-su cũng đă có ánh mắt buồn bă như thế rồi. Trong vùng Magudara, khi thấy một bà mẹ trẻ đang ôm chặt đứa con thơ mắc chứng sốt cao (nhiệt bệnh, netsubyô), cho nó bú và lên tiếng van xin Giê-su cứu mạng, ông chỉ biết im lặng đưa tay ra bế lấy nó và nh́n người mẹ với cùng một ánh mắt như vậy. Rồi đến khi đứa trẻ tắt thở và nằm bất động trong cánh tay Giê-su, chỉ thấy trên làn môi của ông những âm thanh tựa tiếng th́ thào: "Eli! Eli! Rema Sabaku Tani", một lời khấn nguyện trong sách Thi Thiên vốn có nghĩa là "Đức Chúa Trời ơi! Đức Chúa Trời ơi! Cớ sao Ngài ĺa bỏ tôi?".

Đang ngồi với đồng bọn nhưng lại ở bên ŕa, Arpayo cũng hai tay ôm đầu gối c̣n đầu óc nghĩ bâng quơ về một chuyện ǵ khác. Bất chợt, ông nhớ lại cái ǵ đă khiến ḿnh măi đến nay hăy c̣n lẽo đẽo bước theo người đó.

Mới một năm trước đây thôi, giữa lúc bệnh sốt cao hoành hành, Arpayo cũng mắc phải chứng ấy, đang nằm khổ sở trong cái cḥi cất giữa một nơi vắng vẻ gần bờ hồ Ga-li-lê và chỉ c̣n đợi chết. Cái cḥi ông trú ngụ xưa kia vốn dành để nuôi người mắc chúng phung hủi (raibyô), nằm ở một vùng đất thấp và ẩm, nơi mà dân chài cũng không dám kéo tới sinh sống. Chung quanh khu vực đó chỉ có lau sậy um tùm. Từ trong đám lau sậy ấy, liên tục phát ra tiếng kêu inh ỏi của lũ ếch nhái đang khổ sở v́ cái nóng. Bắt đầu là những cơn ớn lạnh làm rét run, khi chúng rút đi rồi, Arpayo c̣n phải chịu đựng sự tấn công của những cơn sốt. Câu nói xàm và tiếng khóc lóc của ông đă được gió mang đi đến tận những nơi cách xa hẳn căn cḥi cô lập ấy. Bạn bè đă đành nhưng cả thân quyến cũng không ai dám đến thăm. Lư do là dân cư trong vùng sợ rằng ma quỉ đă nhập vào người ông. Người xứ Ga-li-lê tin rằng nếu gần gũi người bị ma ám th́ ḿnh sẽ chịu chung số phận. Mỗi ngày chỉ có mấy anh em của ông ghé một chiếc thuyền con đến và đặt trên bờ ở nơi thật xa căn cḥi, một vại nước uống và ít lương thực. Sau đó họ sẽ chèo về thật nhanh, không dám ngoái lại đằng sau. Arpayo chỉ c̣n cách là ḅ ra ngoài băi sông và nhặt nhạnh những thứ nhật dụng đó mang về.

Ếch nhái cứ oang oang suốt ngày không bao giờ biết dứt. Sáng cũng như tối, cuộc tra tấn màng nhĩ đó kéo dài. Cái mồm khô nẻ của Arpayo đă bùng nổ bao lời oán hận và nguyền rủa những kẻ đă bỏ rơi và bắt ông phải chịu đựng định mệnh oái oăm này. Cho đến một ngày, ông bắt đầu có cảm tưởng là một bàn tay đen đủi giống như móc câu bằng thép đang siết lấy yết hầu ḿnh.

Đến một hôm, không hiểu v́ sao cánh cửa cḥi rít lên rồi mở ra. Đột nhiên có một luồng ánh sáng mặt trời chiếu mạnh vào bên trong u tối. Luồng ánh sáng ấy đă đổ cái bóng đen của một người xuống nền nhà. Th́ ra con người ấy đă một ḿnh t́m đến cái cḥi nầy. Thế rồi ông ta đă lấy vuông khăn vải lau những giọt mồ hôi đang đầm đ́a trên khuôn mặt của Arpayo. Người ấy cho ông uống nước và sau đó c̣n đút từng chút thức ăn vào mồm hộ, lại đem thuốc làm bằng dược thảo cho ông và ngồi bên cạnh chăm chú theo dơi cho đến lúc ông đi vào giấc ngủ. Khi Arpayo ngừng những cơn loạn trí do bệnh sốt cao gây ra để không c̣n gào thét hay khóc than nữa, người ấy mới nhỏ nhẹ khuyên nhủ: "Ta sẽ ở cạnh bên. Ngươi không c̣n cô độc đâu!".. Không hiểu sao mà khi người ấy nắm lấy tay ông th́, như có một phép lạ, Arpayo cảm thấy nỗi khổ của ḿnh dần dần vơi bớt. "Ta sẽ ở cạnh bên. Ngươi không c̣n cô độc đâu!" .Sáng cũng như chiều, trong đầu ḿnh, Arpayo đều nghe những âm thanh ấy lập đi lập lại.Thế rồi vào một buổi sáng, khi mở mắt ra, ông cảm thấy cơn sốt đă hạ xuống. C̣n bên cạnh, con người đó có lẽ v́ đă kiệt sức nên đang cúi mặt lên đầu gối ngủ mê mệt.

Sau khi cơ thể đă hoàn toàn b́nh phục, Arpayo bèn tham gia giáo đoàn vừa nam lẫn nữ theo bước chân người ấy. Tuy nhiên, giống như Si-môn, ông cũng nhận ra rằng đôi mắt của người ấy không hiểu tại sao lại buồn đến thế! Có lẽ v́ người ấy cảm thấy rằng dù ḿnh có cố gắng bao nhiêu cũng không thể nào giúp hết những kẻ đang đau khổ v́ bệnh hoạn cần được chữa lành như trường hợp Arpayo. Khi đặt những câu hỏi ngô nghê như tại sao thầy không thể chữa cho mẹ khỏi mất con, vợ khỏi mất chồng, Arpayo chỉ thấy trong đôi mắt của người ấy lộ ra một nỗi buồn cay đắng.

Đêm hôm ấy, măi đến khi đám môn đồ nằm lăn chiêng trên mặt đất ngủ như một bầy súc vật, Giê-su mới cầu nguyện xong và từ ngọn đồi quay lại chỗ cũ.

Qua đến ngày thứ sáu, đoàn người vẫn tiếp tục lê những bước chân nặng trĩu trên đường. Dù vậy, nay th́ phong cảnh đồng vắng với những ngọn đồi h́nh đâu lâu bào ṃn bởi gió thành những nếp xếp đă nhỏ dần dưới mắt họ và khuất bên kia đường chân trời. Những con chim đen trước đây sải cánh trên bầu trời cao rộng giờ đă bỏ đi đâu mất. Dần dần họ thấy những lùm cây gai đă biến thành các khu vườn nho và đôi khi có những trận mưa ngắn ngủi đổ xuống. Để tránh mưa ướt, đoàn người lại vào trú trong những khu rừng long-năo, đợi hết mưa lại đi ra. Vừa lúc đó th́ vùng đồng bằng nằm dưới chân đồi đang tắm ḿnh trong vạt nắng cuối ngày và các bức tường trắng của phố xá Giê-ri-cô (Jericho) bao bọc bằng những khu rừng cọ (shuro, hemp palm) đă nằm trong tầm mắt. Họ c̣n thấy một cái cầu vồng thật lớn đang bắt ngang hai cực của dải b́nh nguyên bát ngát.

Sau trận mưa rào, cả Giê-ri-cô, từ các ngọn tháp, tường thành cho đến nhà cửa phố xá đều ướt rượt và sáng bóng, nhưng trên con đường ngoằn ngoèo như mê cung hướng về phía El Salem, họ chỉ thấy những đoàn người hành hương dắt theo đám gia súc vừa tránh những vũng bùn, vừa nối đuôi nhau tiến bước. Đường phố Giê-ri-cô chật cứng người qua kẻ lại, khách phương xa c̣n giăng cả lều bạt ngay giữa những quảng trường hay bên tường thành. Ngoài chợ, đám con buôn đi bán dạo đang rao bán những thức như bánh chay, bồ câu hay chiên con mới ra ràng vốn sẽ được dùng vào việc hiến dâng cho các ngôi đền.

Có đứa trẻ đang hỏi một cụ già:

-Có thật là Đấng Cứu Thế (Mê-Si, Messiah) sẽ đến không đấy ông?

Th́ thấy ông lăo sau khi nắm lại cây gậy cho ngay ngắn đă trả lời:

-Phải đợi sau lễ Vượt Qua cơ! Nhưng thế nào Đấng ấy cũng tới!

Mỗi năm, cứ đến ngày lễ Vượt Qua[2] th́ y như rằng, các bậc ông bà và cha mẹ đều dạy cho con cháu là Đấng Mê-Si sẽ xuất hiện trên mặt đất này. Ngài sẽ giải phóng dân tộc Israel ra khỏi ách thống trị của người La Mă và khôi phục lại đền thần của vua Đa-Vít (David) trong h́nh dáng uy nghiêm của nó. Câu chuyện về Đấng Mê-Si sẽ đến sau ngày lễ Vượt Qua không chỉ được kể cho con nít và lưu hành trong thành phố này mà c̣n là giấc mộng của tất cả đám khách hành hương đi ngang đây để tiến về phía kinh đô El Salem. Tuy nhiên, năm kia rồi đến năm ngoái, cho dù ngày lễ Vượt Qua đă qua đi, vẫn không ai thấy bóng dáng Đấng Cứu Thế ấy hiện ra trước mắt họ.

Bước vào cổng thánh Giê-ri-cô, Giê-su và đám môn đồ đi lẫn vào trong đám khách hành hương tấp nập tiến về hội trường vốn cũng là nơi dành cho việc cầu nguyện (synagogue). Luồng khí nóng của khu đồng vắng đă dịu đi hẳn rồi cuối cùng đă nhường chỗ cho những làn gió mát đến đong đưa cành lá của khu rừng cọ đang bọc lấy phố phường. Lúc đó cũng là giờ cầu nguyện buổi chiều, từ trong ngôi nhà nguyện và những túp lều vải giăng ngoài trời đang vọng lại tiếng thánh ca Targum[3] của đoàn người đi hành hương. Nó đă lan xa khắp các ngă tư cũng như mọi nẽo đường và như đang ḥa quyện vào làn khói bếp thổi bữa cơm chiều.

Khi đoàn của Giê-su bước vào trong hội trường dùng để làm nhà nguyện th́ buổi cầu kinh mà người tham dự chủ yếu là các tín hữu cao niên đă bắt đầu.Mọi người đang đọc các điều răn của Môi-se (Moise), Tiếng của họ lẫn vào tiếng thánh vịnh Targum lẩm bẩm phát ra từ làn môi khô héo của các cụ già vốn là những người c̣n muốn giữ ǵn và tiếp nối truyền thống cha ông. Khi Giê-su và nhóm đệ tử của ông đến ngồi xen vào cạnh họ th́ một cụ già chợt ngưng tiếng hát và quay sang to nhỏ điều ǵ với người đàn ông trẻ tuổi bên cạnh. Mọi người bèn nh́n theo ánh mắt của cụ già và bắt đầu chú ư đến sự hiện diện của Giê-su và đám môn đệ. Người đàn ông vừa được cụ già th́ thầm bên tai bèn rón rén bước ra khỏi nhà nguyện. Những người ngồi lại tuy vẫn đọc kinh nhưng không khỏi nh́n Giê-su và đoàn tùy tùng với vẻ ngờ vực. Chẳng bao lâu đă thấy người đàn ông kia đưa một giáo sĩ (rabbi) phái Sa-đô-kai, toàn thân quấn trong một chiếc áo chùng đen như lông quạ, vào bên trong nhà nguyện. Ông đạo này trừng trừng nh́n Giê-su rồi hạ giọng hỏi:

-Ngươi là Giê-su ở Na-za-rết đấy à?

Nghe giọng ông ta, đám đệ tử hiểu ngay là thầy tṛ họ sẽ không phải là những kẻ được hoan nghênh trong cái thành phố này. Ngay những thôn làng vùng Ga-li-lê, nơi cách đây một năm c̣n được dân chúng nghênh đón, họ cũng đă bị con mắt cú vọ của các giáo sĩ do thầy tế lễ cả (đại tư tế) Kayaba gửi đến theo dơi, ŕnh rập mỗi cử chỉ, mỗi lời nói của Giê-su. Họ được nhận lệnh là nếu cảm thấy trong lời ăn tiếng nói và hành động của ông có chút ǵ xúc phạm đối với Đền Thần và giáo luật Tôra th́ phải lập tức báo cáo về El Salem. Có những lần bọn giáo sĩ ấy c̣n bất th́nh ĺnh giăng những cái bẫy không sao tưởng tượng cho con người thấp bé có khuôn mặt buồn bă và mệt mỏi ấy. Chẳng hạn có giáo sĩ từng đặt câu hỏi: "Người Do Thái có phải nộp thuế cho Hoàng đế La Mă không?". Tùy theo câu trả lời, họ rắp tâm tố cáo lên quan Tổng Trấn, bảo ông là kẻ hô hào dân Do Thái chống lại chính quyền La Mă. Có giáo sĩ lại hỏi ông có nên ăn uống trong ngày lễ Sabbath (An Tức Nhật) hay không và tùy theo câu trả lời của Giê-su để cáo buộc ông tội khinh miệt giáo luật Tôra của tổ tiên.

-Cớ sao ngươi lại đến đây?

Ư thức rằng mọi con mắt đang đổ dồn về phía ḿnh, viên giáo sĩ làm như ḿnh là một con người ḥa hoăn, chậm răi nhếch mép cười.

-Có phải người đến Giê-ri-cô v́ muốn lên El Salem để dự lễ Vượt Qua ở Thần Điện hay không?

Thấy Giê-su vẫn giữ im lặng, Si-môn mới trả lời thay cho thầy là đúng như thế. Tức thời, viên giáo sĩ bèn quay lại đám người đang tập họp trong nhà nguyện và cất tiếng:

-Các bạn có biết là con người này từng tuyên bố Đền Thần không phải nơi quan trọng hay không? H́nh như ông ta c̣n cho rằng hăy có nhiều điều quan trọng hơn là việc dâng vật tế sinh ở Đền Thần nữa đấy!

Những kẻ đang ngồi tựa lưng vào những cây cột bên trong nhà nguyện đều đứng dậy để nghe cho rơ khiến cho hàng ngưi đằng sau lưng họ v́ bị che khuất nên không thấy được cái bóng dáng nhỏ bé của Giê-su.

-Sao ngươi không trả lời?

Đám đệ tử nh́n Giê-su với cặp mắt đầy lo lắng. Họ đang mong đợi thầy ḿnh, cũng như bao lần trước, sẽ có những câu trả lời khôn ngoan để thoát hiểm và ngăn chặn cái nọc độc mà bọn giáo sĩ đang cố t́nh gieo rắc qua những câu chất vấn. Lúc trả lời bằng những câu như: "Cái ǵ thuộc về Ceasar (hoàng đế) hăy trả về cho Ceasar! Cái ǵ thuộc về Đức Chúa Trời hăy trả về cho Đức Chúa Trời!"[4] họ đâu thấy ông có một khuôn mặt buồn bă và kiệt sức như hôm nay! Lúc ấy, ông hăy c̣n trẻ trung, mạnh mẽ, đôi má c̣n hồng lên cái màu của hy vọng. Nào phải đôi má hóp không c̣n chút thịt và hư hao như bây giờ!

-Sao không trả lời ta? Theo ngươi, hăy c̣n có cái ǵ quan trọng hơn là Đền Thần, tế lễ và việc giết con chiên làm vật hy sinh để dâng lên cho chư thần hay sao?

-Có chứ! Việc khóc thay cho người, việc thức suốt đêm để nắm lấy bàn tay của người sắp chết, việc cắn răng chịu đựng với họ những điều bất hạnh...chỉ chừng ấy thôi cũng c̣n quan trọng hơn cả Thần Điện vua Đa-Vít (David) lẫn nghi thức lễ Vượt Qua này.

Tiếng xôn xao bỗng dậy lên như tiếng đàn ong vỡ tổ và lan ra giữa những hàng cột trong nhà nguyện.

-Các người hăy nghe cho kỹ!

Giáo sĩ đưa ngón tay ch́a ngón tay ra và xỉa xói vào mặt Giê-su:

-Tên đàn ông này đă buông lời sỉ nhục đền thần và việc tế lễ. Giờ đây khắp hội trường đều biết rơ rồi chứ?

Dù bị đuổi ra khỏi nhà nguyện nhưng sau đó, khuôn mặt mệt mỏi của Giê-su vẫn ngoái lại nh́n đám môn đồ với một nụ cười nhẹ như từ trước tới giờ, c̣n họ chỉ biết nh́n về phía ông bằng cặp mắt thẩn thờ như mất hồn. Đám đệ tử đă nghĩ đến việc họ buộc ḷng phải rời Giê-ri-cô nội tối nay. Sự việc xảy ra ở Na-za-rết như sống lại trong đầu họ. Có lẽ bọn giáo sĩ đă rao truyền những lời thầy họ nói cho đám khách hành hương kia nghe cả rồi. Họ lo là khi tâm lư bị kích động như vậy, không biết quần chúng sẽ hăng tiết lên và phản ứng như thế nào. Một phần cũng v́ họ đă bao lần trải nghiệm như vậy.

Màu hoàng hôn đă bao trùm lên cả buổi chiều. Vài đống lửa được đốt lên ở ngoài bức tường thành đang lay động như những con vật sống. Đó là thời giờ khách hành hương chuẩn bị cho bữa cơm chiều bên ngoài căn lều của họ.

Người môn đồ chột mắt Cananean bèn rỉ tai Tadai:

-Cứ như kiểu này, chắc hết biết đi đâu! Chúng ḿnh theo người này v́ nghĩ rằng có ngày ông ấy sẽ chiến thắng. Nhưng vô ích. Ông ấy đă thua cuộc và chúng ta không được đền đáp ǵ cả.

Đêm hôm đó, để tránh mặt mọi người, họ ra một chỗ vắng vẻ ở ngoài thành, khi sửa soạn một bữa cơm chiều đạm bạc trong buồn bă, cả Cananeon lẫn Tadai đă thông báo cho tám người bạn c̣n lại ư định họ sẽ thoát ly khỏi đoàn của Giê-su.

-C̣n các bạn? Các bạn tính sao?

Tám người đó nghiền ngẫm ít lâu nhưng cuối cùng cho biết là họ cũng đành bỏ rơi người ấy mà thôi. Thế nhưng khi được hỏi ai sẽ đứng ra phụ trách việc thông báo cho ông th́ tất cả đều lắc đầu không nhận.

Đến lúc Giê-su trở về sau khi đă tách khỏi chư đệ tử để ra nơi khác cầu nguyện, một bầu không khí nặng nề đă bao trùm lên khuôn mặt đám học tṛ.

Cầm miếng bánh chay (tanenashi pan) trong tay, Giê-su nói với cả bọn:

-Nếu các ngươi muốn bỏ ta ra đi th́ chớ ngần ngại nhé! Có lẽ đêm nay ta sẽ lên El Salem một ḿnh.

-Thầy để chúng tôi lại đây ư?

Giê-su gật đầu c̣n đám đệ tử mặt đều cúi gầm. Họ cảm thấy buồn bă, tủi hổ một cách thấm thía khi hiểu rằng người thầy đă đoán ra được ư định phản bội của họ.

Bỗng nhiên Si-môn bật ra một câu với giọng khổ sở

-Nhưng riêng tôi.... tôi sẽ cùng đi với thầy!

-Ta thấy không cần thiết....bởi v́ chúng ta rồi cũng sẽ gặp lại nhau thôi mà!

Giê-su nắm lấy vai Si-môn như muốn làm một cử chỉ an ủi rồi sau đó đứng lên.

Đến khi bóng người thầy của họ biến mất vào đêm đen, cả bọn mười người đều bỏ mặc mấy miếng bánh chay đang đặt trên đùi và không ai là không trầm ngâm tư lự.

Trong đầu, mọi người một cách, họ đều tưởng tượng đến đoạn đường phải băng qua đồng vắng trong đêm đen từ Giê-ri-cô lên El Salem. Có lẽ chẳng mấy chốc người ấy sẽ phải đối đầu với những luồng gió mạnh thổi thốc qua đồng vắng.Trên con đường người ấy đi c̣n có những ḍng sông khô trơ cả đáy gọi là “waji” mà mỗi lần mưa to lại biến thành thác lũ ngầu bùn. Chúng chảy phăng phăng qua những cái ghềnh màu nâu sẫm và đem những vụn trắng như xương cốt của các bờ đá tô lên ḷng khe nằm chen giữa những quả đồi rồi sẽ ngoằn ngoèo uốn khúc như vậy đến tận El Salem. Ánh trăng đêm nay sẽ làm cho phong cảnh ấy thêm hoang vắng, thê lương và nó sẽ nối tiếp nhau hiện ra trước mắt người lữ khách cô đơn ấy.

"C̣n những điều người ấy đă làm cho ḿnh ?". Chợt Arpayo hồi tưởng lại những ǵ ông nhận được từ người ấy cách đây đă một năm. "Trong khi ta bị thân quyến bỏ rơi trong cái cḥi con giữa đám lau sậy và nằm đợi chết th́ người ấy đă đến với ta. Người ấy đă lau mồ hôi và cho ta uống nước! Có lúc, người ấy đă cùng một bà mẹ mất con canh xác đứa bé suốt một ngày mà không nói năng ǵ. Một lần khác, trong đêm thâu, người ấy đă nắm tay để tiễn đưa một bà cụ già sắp qua đời và giữ chặt như thế không biết đến bao lâu".

Ḷng của Tadai cũng đang ray rứt xót xa v́ một t́nh cảm hối hận và tự khinh bỉ:

"Con người đó chưa một lần nào nói với tôi ông ta là Đấng Cứu Thế (Mê-Si) cả. Chỉ có chúng ta mới gán cho ông danh hiệu đó thôi!"

Khác với các bạn, Si-môn tỏ ra đặc biệt hơn. Đôi khi, trong ḷng Si-môn chợt hiện lên ánh mắt của thầy ḿnh làm ông phải lắc đầu để xóa nó khỏi tâm trí. Đôi mắt ấy giống như cặp mắt buồn bă của một con lừa đang thồ trên lưng mớ hàng hóa nặng nề nhưng lại không ngừng bị ông chủ vung roi quất. Cũng với ánh mắt như thế, con người ấy đă nh́n đám học tṛ.

Đột nhiên, sau khi đảo mắt nh́n một ṿng, Cananeon thốt lên một câu nói như muốn kéo đồng bọn ra khỏi trạng thái trầm ngâm:

-Nào, các cậu, đă có ǵ đâu nào! Rốt cuộc, tớ thấy ông ta chẳng làm chi ra tṛ! Ông ấy không có sức thuyết phục và dẫn dắt người ta như Môi-se (Moises), cũng chẳng đủ năng lực để làm phép lạ như nhà tiên tri Ê-li-ya (Elijah). Nói trắng ra, ông ấy chỉ là một kẻ thất bại.

Qua câu nói, Cananean chỉ xem Giê-su như một chiếc lá khô đang cố bấu víu vào cành trong cơn gió mạnh. Ư tưởng đó đă in vào đầu cả bọn. Đúng rồi, đó chỉ là một gă đàn ông không nên công trạng ǵ. Ông ta không có đủ quyền uy để dẫn dắt dân chúng như Môi-se đă làm và cũng không được thần linh ủy thác cho năng lực siêu phàm như tiên tri Ê-li-ya! V́ không làm nổi việc cỏn con nào nên ông ta mới bị tống khứ ra khỏi xứ Ga-li-lê và bị người dân Na-za-rết chê cười đấy chứ!.

"Việc hăy theo ông ta đến giờ phút này đă đủ cho chúng ta chứng tỏ ḿnh là những đệ tử cuối cùng c̣n tha thiết với ông ấy lắm rồi!"

Tuy nghĩ vậy nhưng trong ḷng những kẻ từng đồng ư với câu nói của Cananean cũng không phải là không vướng một mặc cảm phạm tội v́ đă bỏ rơi người ấy.

-Chúng ta đi thôi!

Si-môn đứng dậy và nói với Cananean bằng một giọng yếu ớt:

-C̣n cậu? Cậu định đi đâu?

Tớ sẽ đi đến ngôi thành Masada[5]. Ít nhất nơi đó tớ sẽ gặp những người cùng chung chí hướng với tớ.

Phía xa, ở một nơi nằm ngút mắt trong sa mạc, trên một ngọn đồi mang tên Masada, rất nhiều thành viên của Đảng Ái Quốc Zerote (Nhiệt Tâm Đảng) đang sinh sống. Trên ngọn đồi bị nắng mặt trời thiêu như cháy ấy, họ đă dựng được một ṭa thành kín đáo để tàng trữ vũ khí với hy vọng ngày nào đó sẽ dùng chúng đánh đuổi quân La Mă ra khỏi quê hương và thành lập một quốc gia Do Thái trên mặt đất.

-C̣n Tadai? Cậu định đi đâu?

Tadai giọng cay đắng:

-Tớ hở? Tớ chỉ c̣n biết trở về vùng hồ cũ v́ không biết cách nào khác!

Thế rồi mỗi người cầm lấy mớ đồ tế nhuyễn của ḿnh và biến mất trong khoảng trời đêm, về phía những nơi họ không nghe có tiếng nói của đám người hành hương. Những kẻ khác th́ sau khi nh́n khuôn mặt của đồng bọn như ḍ hỏi, đă từng người một lê đôi bàn chân nặng trĩu rời khỏi nơi đó.

-C̣n cậu kia ....cậu tính sao?

Si-môn, một trong hai người con sót, quay qua hỏi Arpayo nhưng Arpayo chỉ trả lời với một giọng không c̣n chút khí lực:

-Không biết!

Thực t́nh, anh cũng không biết ḿnh phải quyết định như thế nào.

Si-môn lại ngồi xuống trên mặt đất, hai tay khoành ra ôm lấy đầu gối.:

-Mọi người đi cả rồi đấy nhé! Nếu cậu muốn đi th́ cứ đi cho sớm sủa, tôi ở đây một ḿnh cũng được.

-Tại sao cậu muốn ở lại?

Trước câu hỏi của Arpayo, Si-môn chỉ biết nh́n đăm đăm vào khoảng đêm đen trước mặt và không trả lời.Thế nhưng trong ḷng người đàn ông ấy đang có một cái ǵ mà Arpayo nghĩ rằng, nếu chịu ch́a bàn tay ra, ông sẽ nắm được nó.

-V́ ông ấy là người không làm ǵ nên chuyện nên ai mà theo.

Nghe câu nói như an ủi của Arpayo, Si-môn gật đầu. Thế nhưng sau khi đứng dậy, ông ta lại bắt đầu bước về một hướng ngược với con đường của những đồ đệ khác.

Bước đi một bước rồi hai bước, ông ta đă nghe từ phía sau có tiếng hỏi:

-Bộ cậu c̣n muốn đuổi theo ông ta chắc?

-Không, không có chuyện đó đâu!

Ông ta la toáng lên như một người đang giận dữ.

Ra khỏi khu vực thành Giê-ri-cô, hai người vẫn bước đi trong im lặng trên con đường vượt qua đồng vắng để hướng về El Salem. Ánh trăng làm lộ ra h́nh dạng các vách đá và lặng lẽ chiếu lên những thung lũng trơ trụi không cành cây ngọn cỏ đang nằm xen giữa chúng. Có những ngọn núi đá nhô lên như bướu lạc đà và câm nín tựa hồ xác chết. Tuy đường đi của họ đang phơi dưới ánh trăng và kéo dài cho đến phía bên kia những ḥn núi đá mà mắt họ có thể nh́n thông suốt từ đây nhưng sao chẳng thấy tăm hơi con người đă lên đường trước họ. Bất chợt, trong đầu của Arpayo lại hiện ra lời mà trước khi ra đi, người ấy đă nhắn nhủ:

-Cậu có nhớ câu ông ấy nói: "Sau khi lễ Vượt Qua chấm dứt, mọi sự sẽ trở nên rơ ràng" hay không nhỉ?

Chỉ thấy Si-môn lắc đầu:

-Ông ấy vẫn thường đưa ra những câu khó hiểu như thai đố ấy. Tớ không sao nắm được.

Thế rồi Si-môn ngồi lên một ghềnh đá và đưa mắt nh́n một ṿng quanh cánh đồng vắng vẻ hoang liêu.

 *** 

Gió lạnh ban đêm làm cho Si-môn choàng tỉnh. Ông khẽ lay người Arpayo, lúc ấy đang nằm ngủ say như một ḥn đá dưới bóng ghềnh. Cuối cùng ánh mặt trời vàng kim từ phía Đông đă nhuộm lên toàn thể khu đồng vắng rồi dần dần nó lại chuyển dần sang sắc hoa hồng và sau đó biến thành một màu đỏ như son.Thế nhưng đó chỉ là phong cảnh mà trên bước đường dài của họ trước đây, nhóm đệ tử nh́n đă quen mắt.

Qua khỏi khu vực đồng vắng th́ những vườn nho cằn cỗi và những cánh rừng ô-liu phủ bụi trắng xóa, như c̣n ngái ngủ dưới ánh nắng mai, đă hiện ra trước mắt hai người. Mấy túp nhà dân xám đen nằm rải rác trên sườn đồi h́nh như chưa thức giấc và cũng không thấy đâu là bóng dáng của những đàn cừu. Đây là thôn Bê-ta-ni-ya, nơi sinh sống của hai chị em Martha và Maria là những người mà nhóm môn đồ này biết rất rơ. Lúc ngôi nhà ấy hiện ra, không hiểu v́ sao Si-môn chợt lên tiếng hỏi Arpayo:

-Ô ḱa! Tại sao ḿnh lại đi về hướng đó?

-Bởi v́ người ấy có thể tạm dừng chân ở đấy!

-Thế th́, thôi, tớ không đi đâu.

-Sao vậy?

Si-môn không nói ǵ, chỉ lấy từ trong bọc dăm quả ô-liu và bắt đầu nhai. Như một đứa trẻ đang hờn dỗi cứ cắn móng tay và không chịu về nhà ḿnh, ông hậm hực nhằn mấy quả ô-liu như một người đang cáu kỉnh rồi bước xuống khu rừng ô-liu c̣n đẫm sương mai bên dưới chân đồi.

-Cậu sợ gặp mặt người ấy ư?

-C̣n phải hỏi! Có bao giờ thấy ông ấy nổi giận đâu! Ông ấy chỉ nh́n chúng ta với cặp mắt buồn bă. Thế mới khổ.

Đột ngột Si-môn trừng đôi mắt chứa đầy oán hận nh́n Arpayo và mắng như tát nước:

-Thôi, biết rồi. Cậu đang có hành động coi thường tôi. Cậu thừa biết là tôi không thể trở về Ga-li-lê hay bỏ đi một xứ khác như mọi người. Chính tôi biết rơ hơn ai hết ḿnh là người đi đă dở mà ở cũng không xong. Tôi đă bỏ rơi ông ấy rồi và sẽ không có ư định đi theo ông ấy nữa. Thế mà tại sao nay lại cậu cứ muốn tôi phải theo sau lưng ông ta? Cậu đi đâu th́ đi nhưng đừng bám lấy tôi nữa!

Tia mắt của người bạn đồng hành trông khiếp hăi đến độ Arpayo quên mất câu trả lời. Ông chỉ biết nh́n Si-môn ngỡ ngàng. Trong khoảnh khắc trống vắng đó, Si-môn chạy xuống chân đồi như đang bị ma đuổi. Chân ông trượt ngă làm bao nhiêu sỏi đá bên dưới bàn chân lăn lông lốc.

Giờ th́ ánh mắt trời dịu dàng của một ngày tháng tư đă gieo lên thôn làng Be-ta-ni-ya (Betania) và khu rừng ô-liu vây quanh nó. Phía bên kia khu vườn ô-liu, lùm cây hạnh nhân (amando) đang khoe những đóa hoa trắng toát. Hương thơm của hoa cứ vương theo mỗi bước chân Arpayo như muốn tỏ cho ông nỗi buồn câm nín của chúng. Những lời cáu kỉnh của Si-môn vẫn văng vẳng bên tai. Arpayo tự hỏi tại sao hai người không thể dứt khoát cắt đứt với con người ấy. Chính Arpayo cũng khổ tâm v́ sự thiếu kiên quyết của ḿnh. Phải chi ông làm được như các đệ tử kia là bỏ hẳn để ra đi làm một cuộc đời khác th́ ông sẽ hạnh phúc biết bao! Nếu cứ theo người ấy, họ sẽ bị đuổi ra khỏi các quảng trường hay nhà nguyện. Chẳng những thế, họ c̣n có thể bị dân chúng ném đá! Khi sắp chia tay, Tadai chẳng đă th́ thầm với mọi người rằng dù có khăn gói đi theo ông ta, kết cuộc họ sẽ chẳng hưởng được lợi lộc ǵ sao? Lời ấy thật không chệch vào đâu. Thế mà chả lẽ riêng ḿnh lại c̣n muốn t́m cho ra dấu vết của người ấy!

*** 

Từ ngôi làng Be-ta-ni-ya tiếp tục tiến về phía núi Ô-li-ve, đột nhiên, những bức tường nguy nga của ngôi thành vua Hê-rốt đă hiện dần ra trước mắt Arpayo. Nó nhô cao như muốn chế ngự cả thung lũng Gehena. Từ dưới trũng sâu, vài đợt khói đen đang vươn lên. Chúng vốn đến từ những đám lửa dùng để đốt các thứ rác rưỡi của thành phố El Salem và sẽ tiếp tục cháy như thế cả ngày lẫn đêm, không hề biết tắt. Ngay trên tường thành là một nóc nhà cực kỳ to lớn, lấp lánh những tia sáng màu vàng kim làm như nó vừa hội tụ tất cả ánh nắng ban mai. Đó là cái mái của ngôi Thần Điện[6] nguy nga với 162 cây cột, thánh địa mà người Do Thái ai nấy đều mơ ước sẽ được đến viếng ít nhất một lần trong đời.

Phía bắc của Thần Điện có một ngọn tháp dựng lên trên bốn cây cột lớn h́nh viên trụ. Lại có ṭa thành Antonia, nơi quan Tổng Trấn người La Mă đến nghe những lời tŕnh bày của các đại diện trong Hội Đồng Quốc Dân. Như muốn bao bọc lấy Thần Điện và Ṭa thành Antonia, cả hai bên bậc thang màu trắng của chúng đều có vô số những ngôi nhà nhỏ được xây lên và sắp lớp bên nhau, trùng trùng điệp điệp, không biết cơ man nào mà kể. Đó là khung cảnh thành phố El Salem.

Arpayo một ḿnh đứng trên một cái g̣ cao, đưa mắt nh́n xuống khu vực El Salem đang tắm trong ánh nắng. Giống như cảnh tượng ông thấy ở Giê-ri-cô (Jericho) hôm qua, ở đây th́ từ thung lũng Gederon cho đến tường thành Agrippa, đâu đâu cũng lô nhô những túp lều của đám khách hành hương. Tiếng kêu buồn bă của đám lừa, la bị cột đằng sau những túp lều ấy vang vọng đến tận chỗ Arpayo đang đứng. Có lẽ lễ Vượt Qua sẽ bắt đầu kể từ ngày mai.

 

H́nh ảnh cấu tưởng về Thần Điện thời Chúa Giê-su 

Gần đến giữa trưa, Arpayo bèn theo Cửa Đa-Vít để vào trong khu vực phố phường.Trên những lối đi nhỏ hẹp và chằng chịt, lũ lượt khách hành hương đi qua đi lại để chuẩn bị cho buổi tối ngày lễ. Đám gia súc họ dắt theo đôi khi đă làm giao thông tắt nghẽn ở nhiều chỗ. Trong khi đó, những người bán dạo mang theo ṿ và hũ đất, thảm lông chiên và lồng chim bồ câu đặt phía dưới chân, oang oang cất tiếng rao hàng từ hai bên vệ đường. Giữa làn sóng người đang chen chúc và va chạm vào nhau, Arpayo cố ư nh́n xem có bóng dáng của Si-môn hay không nhưng rốt cuộc, ông vẫn không t́m thấy.

Chợt Arpayo bị một toán đàn ông không biết từ đâu chạy đến, vượt ra đằng trước và suưt xô ông ngă. Đằng sau họ, đúng là có khoảng mười giáo sĩ Do Thái Giáo (rabbi) với chỏm tóc mai buông dài và bộ râu màu hạt dẻ phất phơ, đang lấy tay nắm lấy gấu tấm áo chùng màu đen, nghiêm nghị bước theo. Ông nghe giữa lớp sóng người có tiếng xôn xao: "Người đàn ông ở Na-za-rết đă...".

-Người đàn ông ở Na-za-rết đă phạm tội bất kính với Đền Thần!

Một người đàn ông trong đám vừa hô hoán lên th́ có khoảng mười tên đồng bọn đă chạy ra ḥ hét để hưởng ứng. Dù bị ḍng người xô đẩy nhưng Arpayo cũng cố dấn bước cho nhanh để tiến về phía trước.

Bóng râm của những ṭa nhà đang đổ xuống quảng trường "Người Dị Giáo"[7] (Ihôjin) đă sẫm màu. Đám đông cả nam lẫn nữ tụ tập chật hết các bậc thang, lên tận hành lang của Thần Điện. Từ chỗ đó, những người này đang chăm chú nh́n xuống một quảng trường khác có tên là "Người Do Thái" (Israeru-jin) bởi v́ nơi đó có một người thân h́nh nhỏ thó đang đứng và nh́n về phía có ánh nắng. Ôi chao! Chính là người ấy! Ông đang đứng đâu lưng với ngôi Thần Điện đồ sộ và hướng về đám dân chúng để nói chuyện. Ánh sáng phản chiếu từ mái đền thần làm lóa mắt và đổ xuống chân người ấy một cái bóng thẫm màu.

-Nghe đây! Lời ta đang nói là sự thật. Nhất định ngày nào đó, sẽ không một viên đá nào của Thần Điện này c̣n có thể đứng vững.

Điều đáng lấy làm lạ là từ phía đám đông đang lấp đầy những dăy cột không thấy phát ra một tiếng động nào. H́nh như họ đang nén thở, lặng im chăm chú nghe lời người đàn ông nhỏ thó ấy phát biểu bằng một giọng trầm tĩnh. Tuy ông đă cố t́nh không nói to nhưng tiếng của ông đă lọt vào tai của mọi người đứng trên hành lang một cách rành mạch:

-Đối với Đức Chúa Trời, đền thờ dành cho ngài là cái ǵ nếu không phải là hành động xả thân để cứu giúp những con người cùng khổ ....

Thế rồi người đó tự cắt lời và cúi mặt xuống. Mọi người đứng xem đều có cảm tưởng là lúc đó đôi mắt của ông đang rưng lệ.

-Đối với Đức Chúa Trời, đền thờ dành cho Ngài phải là cái ǵ? Nếu các ngươi biết khóc cho nỗi tủi cực từng đêm của những người con gái bán dâm mà ai cũng khinh miệt th́ cái mà Ngài muốn nhận từ các ngươi chính là một giọt nước mắt như vậy. Ngài sẽ chọn nó như một đền thờ và c̣n quí trọng nó hơn cả Thần Điện này. Chúa không cần đền thờ đâu. Chúa chỉ cần con người mà thôi.

Có hai giáo sĩ đă hộc tốc chạy xuống quảng trường và vươn cánh tay trần gầy guộc từ bên dưới tấm áo chùng đen với ư định trấn áp người ấy. Thế như ông ta đă mạnh mẽ phất tay xua họ rồi ngẩng đầu lên và đi thẳng một mạch về phía đám đông. Mọi người không hiểu chuyện ǵ, chỉ biết tự dạt qua hai bên để nhường bước. Các giáo sĩ giận dữ kêu gọi mọi người hăy túm lấy ông nhưng không một ai chịu nghe theo. Arpayo cũng chưa bao giờ chúng kiến một thái độ mạnh mẽ như thế từ phía Giê-su. Chỉ v́ cho đến hôm đó, con người ấy bao giờ cũng tỏ ra mệt mỏi như kiệt sức với một khuôn mặt buồn áo năo.

-Các ngươi đă nghe hắn nói chưa? Toàn là những chuyện xúc phạm tới Thần Điện...

Một giáo sĩ bèn vung tay áo chùng đen lên và hăm he người dự khán:

-Hăy nhớ cho kỹ! Các nghị viên trong Hội Đồng Quốc Dân sẽ không để yên cho hắn đâu! Những kẻ a ṭng, toa rập cũng sẽ bị trừng trị cùng một kiểu với hắn.

Như vừa tỉnh ra, đám nam nữ bắt đầu nh́n chăm chú vào đám giáo sĩ với đôi mắt khiếp hăi.

-Liệu cái thần hồn. Chúng ta c̣n nghi là trong đám các ngươi hăy c̣n có một số đệ tử của hắn đang trà trộn vào nữa ḱa!...

Vừa nghe xong câu đó, cả người Arpayo đă run bắn. Ông bèn cúi gầm mặt rồi cố bước sao cho thật nhanh về phía cửa ra vào...

"Nhưng ta đâu c̣n liên hệ ǵ với người ấy nữa! Bởi v́ ta đă bỏ ông ấy ra đi rồi mà!"

Trên con đường nắng cháy da, Arpayo hết đụng phải người này đến người khác, có lúc đứng khựng lại v́ dê cừu chắn lối, tuy thế, ông vẫn tiếp tục bước và tự nhủ tốt hơn nên chọn con đường nào loanh quanh, lắm ngơ rẽ nhất mà đi. Những con chiên con đang ngáng đường ông là những sinh vật đáng thương v́ ngày hôm sau, chúng sẽ bị giết để dâng lên chư thần nhằm chuộc lại bao nhiêu thứ tội lỗi của loài người.

Arpayo tiếp tục nghĩ:"Nhưng ta đâu c̣n liên hệ ǵ với người ấy nữa! Bởi v́ ta đă bỏ ông ấy ra đi rồi mà!". Dù vậy, trong giây phút này, từ bên trong màng nhĩ, ông vẫn nghe có âm thanh ǵ rào rào như sóng biển. Nó không phải là tiếng nói của khách đi đường nhưng chỉ là tiếng xào xạc của những khóm lau sậy mọc ven hồ Ga-li-lê. Đó cũng là tiếng ếch nhái kêu ồm ộp suốt ngày đêm và tiếng than thở của chính ḿnh khi đang lên cơn sốt trong cái cḥi tối tăm và hiu quạnh ấy. Chợt có tiếng cánh cửa cḥi rít lên rồi mở ra để cho luồng ánh sáng nóng bỏng có thể làm tan chảy cả ch́ lọt vào bên trong. Giữa luồng ánh sáng là bóng dáng của người ấy đang đứng. "Ta đang ở cạnh bên. Ngươi không c̣n cô độc nữa đâu!". Đứng tựa vào một bức tường lở loét của một căn nhà, Arpayo vừa cố nén nước mắt vừa quờ quạng t́m một cách vô vọng h́nh bóng của người ấy giữa đám khách bộ hành đang lướt qua.

Đêm hôm đó và cả đêm tiếp theo, Arpayo đă ngủ lại quảng trường "Người Dị Giáo". Trên quảng trường đó, người ta đă dựng một túp lều ghép tạm bằng những cành lá cọ. Đây là nơi những người không theo đạo Do Thái cũng có thể qua đêm nên bên cạnh Arpayo nằm hăy c̣n có vài chàng trai da đen thân thể bóng lưỡng như bôi dầu, đang tựa lưng vào vách tường ngủ say như chết.

Khoảng giữa đêm từ phía bên kia quảng trường có một gă say rượu ḷ ḍ t́m tới. Anh ta cứ th́ thào luôn miệng: "Thây kệ tôi! Đừng có láng cháng lại gần!" . Dù chẳng thấy ai mở miệng nói ǵ với anh cả nhưng anh ta cứ lập đi lập lại điệp khúc ấy. Nhân v́ Arpayo nghe câu nói "Thây kệ tôi. Đừng có láng cháng lại gần!" này có ǵ quen quen nên mới xoi mói nh́n cho rơ mặt. Rốt cuộc, ông đă nhận ra gă say ấy không ai khác hơn ngoài Si-môn.

 

***

 

Tiếng chân rầm rập làm Arpayo mở mắt.

Năm sáu người lính La Mă cầm giáo trên tay đang leo lên những bậc thang bằng đá dẫn lên Thần Điện rồi biến vào trong đêm tối. Rồi ông nghe vọng tới từ một chỗ thật xa khu phố đang ngủ im ĺm này một số tiếng động có vẻ bất thường.

Đầu tiên nó giống như tiếng kêu hớt hải và lo lắng trước một đám cháy khi người ta thấy ngọn lửa đang liếm vào những ngôi nhà, nhưng sau đó, khi lắng tai nghe cho kỹ, Arpayo mới biết rằng đây là tiếng xôn xao của một đoàn người. Ông ngỡ rằng có thể là một số người v́ quá mau mắn đă giết cừu làm của lễ sớm hơn giờ dự định. Thật ra, buổi sáng hôm nay, khi lễ Vượt Qua bắt đầu, đă có tập quán là gia chủ của những gia đ́nh đạo Do Thái sẽ phải mang chiên con như vật tế sinh, leo lên Thần Điện và giết nó ở cái sân trong (nội đ́nh) của ngôi đền. Sau đó, các thầy tế lễ sẽ giúp họ mang con vật bị giết dâng lên trai đàn hành lễ.

Những người lính La Mă hồi năy vừa leo lên những bậc thang và mất hút vào trong bóng tối của Thần Điện lại xuất hiện và đi băng qua quảng trường rồi đi khuất vào sau bức tường của ṭa thành Antonia, nơi trú ngụ của quan Tổng Trấn Pilatus[8], người xuất thân từ xứ Caizariya. Arpayo chỗi dậy và cũng đánh thức mấy người da đen đang ngủ bên cạnh rồi tất cả đều giương to mắt như muốn tách bạch cái bóng đêm đang trải ra trước mặt.

Hai bóng giáo sĩ bỗng xuất hiện từ phía Thần Điện. Họ chẳng thèm để mắt đến Arpayo và mấy người đàn ông da đen lúc ấy c̣n nằm lăn trên mặt đất như những khúc gỗ, hấp tấp bước về hướng Cửa Hê-Rốt.

-Có ǵ thế nhỉ?

Câu hỏi của một anh da đen từ đằng sau vọng tới bên tai họ. Một giáo sĩ có vẻ bị chạm tự ái trước cách đặt câu hỏi mà ông ta nghĩ là khinh nhờn ḿnh nên đă quay đầu lại mắng:

-Chuyện này chẳng ăn nhập ǵ tới bọn bay cả. Chỉ là việc người ta đă túm cổ được cái tên ở Na-za-rết đấy thôi.

Thế rồi hai giáo sĩ lại vội vă bước tiếp. Họ cũng đi khuất vào trong bóng đêm như toán lính La-Mă hồi năy.

Arpayo đứng lên thật nhanh. Không phải ông đang lo ǵ cho tính mạng của Giê-su. Trong ḷng ông chỉ có một nỗi bất an là không khéo ḿnh cũng sẽ mắc vạ lây v́ đă từng đi theo người ấy. Trong đám khách hành hương, làm ǵ không lẫn vào lắm kẻ có lần nh́n thấy Giê-su đi với đám môn đồ! Như thế th́ ta cũng có khả năng bị bắt! Khi bị bắt rồi lại sẽ có khả năng bị họ dẫn đi thôi.

-Đi đâu vậy ông?

Anh da đen ngắm nghía ông và đặt câu hỏi. Arpayo bèn đi đến phía bên kia quảng trường nơi Si-môn đang nằm ngủ vùi như không hề hay biết chuyện ǵ vừa xảy ra. Arpayo bèn mạnh tay lay lấy cái thân thể đang nằm úp mặt. Si-môn đưa đôi mắt không c̣n sinh khí lờ đờ nh́n lên ông rồi th́ thào với một cái giọng buồn thảm:

-Đừng láng cháng tới gần. Để mặc xác tôi!

Arpayo bỗng hạ giọng:

-Bị bắt mất rồi! Cái ông ấy đó....

Si-môn ngồi dậy nhưng trong một đỗi lâu, ông ta vẫn bắt chéo chân và không nói năng ǵ. Làm như ông ta chưa hiểu hết cơ sự...nên đă buông ra một câu nói lạc lơng:

-Ông ấy đă hoàn toàn thất bại Người sao mà chẳng làm được việc ǵ hết!

-Vậy bọn ḿnh phải bỏ trốn cho nhanh. Nhỡ sáng ra gặp những kẻ nó biết...

-Ông ta hoàn toàn thất bại! Làm chuyện ǵ cũng hỏng. Mà ngay từ đầu, ông ấy đă biết trước rồi chứ!

-Câu ông ta nói: "Khi lễ Vượt Qua chấm dứt, mọi sự sẽ ngă ngũ" chắc là để ám chỉ việc này chăng?

Arpayo nói xong bèn đưa tay ra kéo Si-môn đứng lên.

-Ngay chúng ta cũng chẳng ai muốn theo ông ấy lên El Salem!

V́ Si-môn vẫn c̣n ở trong một trạng thái nửa tỉnh nửa mê, Arpayo phải kéo lê ông trên mặt đất để rời quảng trường. Anh chàng da đen từ phía sau không biết vừa nói câu ǵ rồi bật lên một tràng cười. Tiếng cười ấy âm vang trong bầu không khí tĩnh lặng trên lối đi hẹp làm cho Arpayo có cảm tưởng cái huyên náo của nơi này vào lúc ban ngày là một cảnh tượng không hề có thực. Chỉ có nước bẩn là vẫn con chảy và lũ chuột đang quanh co t́m đường lẫn trốn v́ chúng nghe tiếng chân hai người đến gần. Chiều hôm nay, con đường lát đá này sẽ bê bết máu những con vật bị giết để làm vật tế sinh. Đêm đầu tiên của thời gian lễ Vượt Qua, trong những ngôi nhà nhỏ trong vô số ngôi nhà vây quanh Thần Điện, một người đàn ông vừa trút hơi thở cuối cùng. Lại có một người mẹ vừa mất con đang đăm đăm nh́n vào bức tường. Cũng có những nàng con gái bán dâm đang ôm ấp khách. Ngày mai, khi mặt trời lại mọc, những giọt máu của vật tế sinh đổ ra trong đêm nay sẽ được dùng để át lấy cái mùi xú uế đến từ những cảnh tượng nhơ bẩn đó. Giờ đây, những ngôi sao hăy c̣n lấp lánh chiếu trên đỉnh núi Ô-li-ve. Cho đến khi b́nh ḿnh ló dạng, mọi người hăy c̣n phải chờ đợi khá lâu.

Khi hai người vừa đến được cánh của màu hoàng kim ở góc thành phía Đông, họ thấy một màu trắng nhờ nhờ đang giăng trên thung lũng Genaron Nếu rẽ qua bên trái con đường bên trên thung lũng, họ sẽ ra đến con đường lớn đưa về vùng Cariraya, một nơi nằm sau Samariya. Si-môn vẫn c̣n thở hổn hển và lập đi lập lại như một gă điên:

-Ông ta bị bắt mất rồi, cái ông ǵ mà thật chả được việc!

-Nói thế để làm chi? Bọn ḿnh đâu c̣n mắc mớ ǵ tới ông ấy nữa,

Hai người vừa nh́n vào mắt nhau vừa th́ thầm cho nhau nghe những câu như thế. Nhưng rồi một lúc sau, Arpayo dần dần cảm thấy những lời nói của ḿnh đă mất dần khí lực. Thay vào đó, trong đầu ông chỉ c̣n vọng lại tận một chỗ thật sâu trong lỗ tai giọng nói dịu dàng như tiếng th́ thào của ai kia:"Ta đang ở cạnh bên. Ngươi sẽ không cô độc nữa đâu!" và tiếng ếch nhái kêu ran, cùng với tiếng xào xạc của ngàn lau. Nó cứ to dần to dần. Cùng lúc đó, Si-môn vừa khóc vừa than văn: "Thôi, đừng láng cháng đến gần! Hăy mặc xác tôi!." "Ông là người vô dụng, không làm nên được việc ǵ cả! Tôi theo ông hết nổi rồi!".

Si-môn giống một đứa trẻ khóc thút thít trên con đường về nhà nhưng lại ngoái đầu nh́n con đường ḿnh vừa từ đó đến và bắt đầu quay lui. Đằng sau ông và chậm chừng hai ba bước, Arpayo cũng lê chân theo gót. Tiếng huyên náo từ phía xa vọng đến mỗi lúc càng nghe rơ hơn và bây giờ, nó đă biến thành tiếng người nói. Những tiếng ấy đến từ nơi có dinh thự của thầy tế lễ cả Kayapa và truyền đi trong bóng tối.

Trong khu vườn những ngọn lửa đỏ với làn khói đen đang lay động trông như những con vật sống. Bọn đầy tớ trai của Kayapa đang đi ṿng ṿng và bóng của chúng cũng đen thui. Định bỏ trốn nên hai người chỉ đứng phía ngoài sân nhưng họ cũng không tránh khỏi những tia lửa từ đó nương theo gió bay ra và bắn cả vào họ. Khi ngọn lửa bùng lên th́ cả hành lang của khu dinh thự được lửa soi trông rơ rệt hẳn. Họ thấy có hai giáo sĩ mặc áo chùng đen đang đứng ở đó.

Một tên đầy tớ trong nhà đến bên cạnh Si-môn và Arpayo rồi đặt câu hỏi:

-Các ngươi sao lại lảng vảng ở đây?

Si-môn bèn vội vă trả lời là v́ dưới thung lũng Generon lạnh chịu không thấu nên họ phải t́m đến đây kiếm chút lửa sưởi.

-Các ngươi đến từ Cariraya chứ ǵ? Ta nghe giọng địa phương đó là biết ngay! Vậy có quen gă Giê-su người Na-za-rết hay không hở?

Để khỏi phải trả lời, Si-môn lắc đầu quầy quậy.

-Chứ không phải các ngươi cũng là đồng bọn của Giê-su ở Na-za-rết hay sao ḱa?

Cả Arpajo lẫn Si-môn lại lắc đầu quầy quậy. Thế nhưng tên đầy tớ đó như muốn làm khó dễ hai người nên vẫn không chịu bước ra chỗ khác.

-Gă Giê-su người Na-za-rết kia hiện đang bị ăn đ̣n bên trong dinh đó! Hắn đă bị tẫn đến nhừ người, không c̣n sức chịu đựng nữa. Các ngươi thấy sao?

-Nhưng đó đâu phải là chuyện bọn tôi cần biết!

Arpayo nhún vai rồi nhổ toẹt xuống đất một băi nước bọt. "Tôi là hạng người này đấy anh!". Arpayo nh́n vào mặt người ấy mà trong ḷng thầm nhủ."Tôi chỉ có thể làm được như thế này thôi!". "Tôi c̣n không đủ can đảm để tiến gần đến ông ta, nói chi chuyện giúp đỡ ông ấy!" "Tôi là thằng người như thế đó!".

Chợt tên đầy tớ tỏ vẻ mừng rỡ và nói như reo:

-Nh́n đi. Hắn đă bị giải ra đây rồi ḱa! Người ta đang đưa hắn đến cho quan Tổng Trấn Pilatus xét xử đấy!

Người đó, hai cổ tay trói ra đằng trước, đi kẹp vào giữa hai người đàn ông, hiện ra từ phía bên kia của hành lang. Ngọn lửa lại cháy bùng lên và phản chiếu h́nh ảnh đôi má nhuộm một màu đỏ của người ấy. Thế nhưng hai hố mắt ông ta lại sưng tấy và bầm đen như mực. Một ḍng máu đang lăn từ g̣ má xuống.

-Nh́n đi. Xem mặt hắn có giống mặt con lừa hay không nào? Buồn cười thật!

Tên đầy tớ ấy nói mà làm như muốn mời mọc hai người cùng cười góp với hắn nên đă đưa mắt chăm chú nh́n Arpayo. Nhưng ông ta chỉ có thể mở mồm ra để có một nụ cười trông như mếu."Ông ơi, ông là người đă nói rằng: Phước cho những người biết khóc v́ nỗi khổ của người khác!""Ông cũng nói rằng nếu ai biết khóc v́ sự hèn hạ của chính ḿnh, cũng sẽ được tha thứ!" "Thế nhưng tôi đang cười ông đây!" "Tôi là hạng người như thế đấy!" "Cái tôi có thể làm, đúng ra chỉ có bao nhiêu đó thôi!".

Khi rẽ qua một góc của hành lang, bất ngờ những tàn lửa đă theo luồng gió bắn vào Giê-su. Để tránh chúng, người ấy đă nhấc tay lên mặt như muốn gạt ra. Thế rồi trong một giây, khi nhận ra sự hiện diện của Si-môn và Arpayo, người ấy bèn đứng khựng lại. Với đôi mắt mà Si-môn từng nói là mỗi khi thấy nó, ḷng ông lại thấy cay đắng, xót xa, người ấy đă nh́n đăm đăm vào mắt hai người. Vừa lúc ấy, một giáo sĩ đă bước tới để đẩy người ấy đi về phía cái sân giữa (trung đ́nh) nằm phía trong dinh và sau đó không c̣n thấy bóng ông ta đâu nữa.

 

Dịch xong ngày 20/12/2024

 

Văn bản: 

Endo Shusaku, "Nỗi ḷng Arpayo"(Arpayo) trong Tuyển tập “Bên bờ Biển Chết" (Shikai no hotori), trong loại sách bỏ túi Shinchô Bunko do Nxb Shinchô, Tokyo, ấn hành năm 1973, từ trang 89 đến 123. Nguyên tác Nhật ngữ. 

Bên lề tác phẩm: 

Dĩ nhiên đây chỉ là một truyện ngắn có tính hư cấu tuy có xen vào một số chi tiết đến từ Thánh Kinh Tân Ước cũng như các nhận xét thu lượm thực địa trong những chuyến đi của tác giả. Dù vậy, nó cũng là cơ hội để Endo Shusaku tŕnh bày quan điểm của ḿnh về căn cứ đức tin của một Ki-Tô hữu. Như ông nhiều lần tâm sự trong các tác phẩm khác, ông theo đạo từ ngày c̣n nhỏ khi hoàn toàn chưa có sự hiểu biết và ḷng tin tôn giáo. Ông theo chỉ v́ thương mẹ (vốn là một người hết sức tin kính) và t́m thấy một niềm vui rất trẻ thơ trong sinh hoạt cộng đồng của ban thiếu nhi.

Lớn lên, ông nhiều lần phản kháng uy quyền của mẹ và nghi ngờ tác phong của những giáo sĩ mà ông từng cho là gương mẫu nên đă xa lánh Hội thánh và bắt đầu có những thói quen không lành mạnh. Thế nhưng, cho đến cuối đời, qua bao thăng trầm, ông lại trở về với ḷng tin một Ki-Tô hữu nhưng là đạo Ki-Tô theo cảm nghĩ rất phóng khoáng của ông.

Si-môn ở đây là h́nh ảnh giả tưởng của Simon Pierre (Thánh Phê-rô), xuất thân là một người đánh cá đă được chúa Giê-su cảm hóa để trở thành "tay đánh lưới người". Theo sử truyện, ông là một tông đồ ưu tú mà về sau sẽ là rường cột của hội thánh. Thông minh, can đảm, có tài lănh đạo, ông hội đủ mọi ưu điểm của một nhà truyền giáo dù giống như trong truyện, lúc đầu từng tỏ ra đôi phút yếu ḷng. Trong khi Si-môn tượng trưng cho lớp tín đồ ưu tú, Arpayo chỉ là một tín đồ b́nh thường, có thể thấy ở khắp mọi nơi như trường hợp của chính Endo Shusaku, người đă được cảm hóa v́ t́nh yêu thương và sự tha thứ của Chúa chứ không v́ một giáo lư xa lạ nào khác.

Ngoài ra, luôn luôn có những người đến với Chúa không chỉ thuần nhất bởi ḷng tin tôn giáo mà có khi v́ tư lợi, v́ mục đích riêng. Đó cũng là chuyện dễ hiểu và đă xảy ra tự ngày xưa cho đến bây giờ.


 

[1]Ngày thứ bảy trong tuần, tương truyền là ngày Đức Chúa Trời nghỉ ngơi sau khi đă tạo ra muôn loài.

[2]Lễ kỷ niệm ngày nhà lănh đạo Moi-se dẫn dắt dân Do Thái "vượt qua" Hồng Hải và thoát khỏi kiếp nô lệ trên đất Ai Cập để rốt cuộc đến được nơi mà họ gọi là "Miền Đất Hứa". Xin xem sách "Xuất Ê-Gưp-Tô Kư" trong Cựu Ước.

[3]Targum là những bài ca vịnh bằng tiếng Aram (Aramaic) của người Do Thái hát khi bị bắt đi làm nô lệ ở Babylone. Tiếng Aram là ngôn ngữ của người Assyrie Babylone

[4]Câu nói nổi tiếng của chúa Giê-su đă được chép lại trong Kinh Thánh Tân Ước (sách Ma-thi-ơ đoạn 21 câu 22)

[5]Ngôi thành kiên cố dựng trên mỏm núi, ổ kháng chiến của người Do Thái chống nhau với quân La Mă.

[6]Ư nói ngôi đên chính của El Salem, tương truyền được xây lên từ thời vua Đa-Vít, người cai trị dân Do Thái vào khoảng năm 1000 TCN.

[7]Người Do Thái tự xưng là tuyển dân của Chúa Trời nên những ai không thuộc về đạo Do Thái đều là Người Dị Giáo.

[8]Tức Pontius Pilatus, người được chính quyền La Mă cử làm Tổng trấn xứ Giu-đa trong giai đoạn từ năm 26 đến 36 và có can dự vào phán quyết tử h́nh chúa Giê-su.

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com