Tổng quan
Lịch sử Văn học Nhật Bản

 Quyển Thượng : Từ Thượng Cổ đến Cận Đại
 


Chơi bài với những vần Waka 31 âm mỗi dịp mồng 3 tháng 1 ở đền Yasaka (Kyôto).

Chương 1 :

Những Nhân Tố H́nh Thành Văn Học Nhật Bản

Dẫn Nhập và Tổng Luận

Nguyễn Nam Trân

Văn học Nhật Bản là một đối tượng nghiên cứu khá lư thú v́ tính cách đặc thù và phong phú của nó. Văn học Nhật vốn có những đặc điểm làm người ta phân biệt được với những nền văn học lớn trên thế giới như của Âu Mỹ, của Trung Quốc. Xin mượn ư của Katô Shuuichi[1] để nói về 5 đặc điểm của văn học Nhật Bản:

1)      Văn học Nhật Bản chỉ là một phần không tách rời được của toàn bộ văn hóa của nước họ. Văn học Nhật Bản tóm gọn được trong ba chữ: cụ thể, phi hệ thống và t́nh cảm. Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc nhưng không bắt buộc có tinh thần trọng hệ thống của Trung Quốc vốn tượng trưng bằng triết học Tống Nho. Nó cũng khác Âu Châu v́ ở Âu Châu, những yếu tố trừu tượng như tôn giáo, triết học, âm nhạc là nền tảng văn hóa tinh thần của họ. Ngược lại, thơ, truyện kể, thủ công và nghệ thuật tŕnh diễn (misemono) tức là những biểu hiện cụ thể có mặt trong đời sống của người b́nh thường mới là cốt lơi của văn hóa Nhật Bản.

2)      Mô h́nh phát triển đặc biệt của văn học trong lịch sử: Nhật Bản thâu nhận rất cả và không loại bỏ ǵ hết. Haiku[2] không hề xóa bỏ waka, kabuki không hề thay thế kyôgen. Nói cách khác, ở Nhật, không có sự xung đột một mất một c̣n giữa cái cũ và cái mới. Nếu kyôka (cuồng ca, một loại thơ ngắn hài hước và b́nh dân ) có mất đi cũng chỉ v́ không hợp với thời đại mới và bị đào thải một cách tự nhiên thôi (nhưng đây vẫn là ngoại lệ). Những khái niệm thẫm mỹ của người Nhật thuở trước như aware thời Heian, yuugen thời Kamakura, wabi sabi thời Muromachi và iki thời Tokugawa ngày nay hăy c̣n đó cả. Sau thời Meiji (1868-1912), người viết waka vẫn đi t́m aware, kẻ đóng tuồng Nô vẫn dựa vào yuugen, trà đạo hăy c̣n lấy wabi sabi làm căn bản và các nàng geisha vẫn nhắc đến iki như đỉnh cao của phẩm chất nghệ thuật của ḿnh. Một người Nhật, Miyamoto Tsua[3], đă viết những ḍng sau đây: “Ở Âu Châu, năm 1649, cách mạng Thanh Giáo đă lấy đầu vua Charles I. Cách mạng Pháp cũng sử dụng máy chém đối với hoàng đế Louis XVI. Trong hai thế kỷ 17 và 18, bao nhiêu vua chúa bị bêu đầu. Nhật Bản th́ không. Thái thượng hoàng Go-Toba (sau khi đảo chánh thất bại) chỉ bị đày ra đảo Oki, ở đó 19 năm rồi chết trong cô độc năm 60 tuổi”. Miyamoto không nói đến thiên hoàng Shôwa, người vẫn tiếp tục làm tượng trưng cho nước Nhật đến lúc ông qua đời năm 1989 nghĩa là 44 năm sau ngày Nhật bại trận. 

3)      Tính đặc thù của ngôn ngữ và văn tự Nhật Bản: Tiếng Nhật có thể viết bằng 4 thứ văn tự khác nhau: Kanji (Hán tự), Hiragana (dấu hiệu đọc theo âm để ghi những từ quốc âm), Katakana (dấu hiệu đọc theo âm nay dùng để phiên âm tiếng ngoại quốc) và Roma-ji (kư hiệu chữ cái La Mă). Đó là chưa kể chữ Kanji c̣n được đọc theo âm miền nam Trung Quốc (Ngô âm) của thế kỷ thứ 5, thứ 6 như trong Kojiki (Cổ sự kư )hay Man.yôshuu (Vạn diệp tập), hoặc đọc theo âm miền bắc Trung Quốc (Đường âm) của thế kỷ thứ 7 như một số chữ trong Nihon shoki (Nhật Bản thư kỷ). Cái khó nắm của văn tự nước họ làm cho một người Nhật trung b́nh không thể đọc trực tiếp tác phẩm cổ điển nếu không chuẩn bị trước. Genji Monogatari (Nguyên thị vật ngữ)[4] chẳng hạn đều được “dịch” ra kim văn mới có thể đến với độc giả.

Trong văn học Nhật, có hai luồng rơ rệt đi song song suốt thời gian từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 19. Thơ waka của họ làm theo quốc âm có từ thời xa xưa nhưng cho đến gần đây thơ chữ Hán vẫn được trọng vọng và người ta không hiểu loại thơ nào mới phản ánh được cảm xúc của người Nhật. Thời Muromachi chẳng hạn, bên cạnh thơ renga rất Nhật có thơ chữ Hán của các thiền tăng phái Gozan (Ngũ Sơn). Giữa hai tập thơ Tsukuba-shuu (Thố Cữu Ba tập) và Kyôun-shuu (Cuồng vân tập) cũng như giữa hai tập truyện Konjaku monogatari (Kim tích vật ngữ) và Meigetsu-ki (Minh nguyệt kư), rơ ràng có một hố ngôn ngữ ngăn cách. Khi ở Âu Châu, văn học chữ La Tinh đă bị cuốn hút vào ḍng văn học các nước thời Phục Hưng (thế kỷ 14 đến 17) th́ văn chương chữ Hán tức kanbun vẫn kéo đến thời Meiji (cuối thế kỷ 19 đầu 20). Đó là chưa nói đến việc người Nhật đă sử dụng tài t́nh Hán văn để dịch những phạm trù tư tưởng Tây Phương và cống hiến rất nhiều cho sự nghiệp duy tân.

Câu văn Nhật thường thường là những mẩu ngắn được ghép lại chứ không có một cấu trúc chung. Cũng vậy, thần thoại của họ chẳng có đầu đuôi và chỉ là những mẩu vụn được ráp lại. Truyện Utsuho hay ngay cả Truyện Genji của thời Heian là tập hợp của nhiều truyện ngắn, bản thân mỗi truyện con trong đó đă có ư nghĩa cho dù đứng riêng biệt. Đem so sánh một truyện Nhật trong Nihon Ryôiki (Nhật Bản linh dị kư) và truyện gốc của nó trong Pháp uyển châu lâm của Trung Quốc th́ bản tiếng Nhật chi tiết, cụ thể và linh động hơn chứ không quan tâm cho lắm đến cấu trúc hay sự gọn ghẽ của câu chuyện như trong sách gốc. Tản văn Nhật không có tính qui củ của văn chương Đường, Tống, do đó, lại càng không thể nào có cái trật tự, mạch lạc thấy trong cổ điển Pháp của thế kỷ 17 và 18. Đi xem tuồng kabuki, ta có thể coi liên tiếp năm sáu vở ngắn khác nhau. Phim ảnh Nhật Bản thường ghép nhiều đề tài làm một và giống phim truyền h́nh thuật sự theo lối chương hồi (episode) hơn là theo cấu trúc một cuốn phim màn ảnh lớn.

4)      Bối cảnh xă hội của văn học:Văn học Nhật Bản có tính chất qui tụ về trung tâm (centripetal) nghĩa là hoạt động văn học thường tập trung ở đô thị. Trong khi không phủ nhận sự có mặt của dân ca, dân thoại (truyện cổ dân gian), người ta thấy những tác phẩm cổ đều được biên soạn hoặc do mệnh lệnh của chính quyền trung ương hoặc do những thi nhân, học giả cung đ́nh. Các tác phẩm lịch sử, địa lư như Kojiki (Cổ sự kư), Fudoki (Phong thổ kư), hay văn học như 13 thi tập waka (Thập tam đại tập) được soạn ra theo yêu cầu của nhà nước (dưới h́nh thức “sắc soạn”, “quan soạn”). Không những thế, những truyện kể có tính răn đời (setsuwa = thuyết thoại) của các địa phương trong Nihon Ryôi-ki (Nhật Bản linh dị kư), Kokon Chômonjuu (Cổ kim trứ văn tập) hay Shasekishuu (Sa thạch tập) đều được biên tập theo yêu cầu tôn giáo.

Đề tài của các nhà soạn kịch và tiểu thuyết đời sau cũng chỉ xoay quanh cuộc sống ở các thành phố lớn và phục vụ người kẻ chợ (chônin). Ngày xưa, nếu văn học Nhật Bản tập trung ở vùng đô thị như Nara-Kyôto (văn học Nara, Hei-an), nó đă dời sang Kyôto-Ôsaka vào thế kỷ 17(văn học Kamigata), tiếp đến là Kyôto-Tôkyô (văn học Edo) rồi cuối cùng vẫn tiếp tục ra hoa kết quả ở vùng đô thị như Tôkyô (văn học từ thời Duy Tân đến hiện thời). Điều này khác hẳn với trường hợp Trung Quốc và Nhật Bản. Thi nhân Trung Quốc du lịch nhiều nơi để t́m nguồn cảm hứng chứ không thu ḿnh ở Trường An trong khi phần lớn thi nhân Nhật Bản thời Heian viết về những địa phương mà họ chưa bao giờ đặt chân đến mà chỉ dựa vào khuôn sáo để diễn tả. Tính ly tâm (centrifugal) được thấy rơ rệt nơi các nhà văn nhà thơ Âu Châu, có thể ngoại trừ trường hợp của Paris là nơi qui tụ nhiều trường phái nghệ thuật. Katô Shuuichi đă nhận xét rằng từ Kakinomoto no Hitomaro (cuối thế kỷ thứ 7) cho đến Saitô Mokichi (1882-1953), không thấy có nhà thơ lớn nào của Nhật Bản làm thơ với thổ ngữ địa phương.

Tính cách đồng qui của văn học Nhật Bản c̣n được thể hiện qua sự tập trung của các tác giả và độc giả thành từng nhóm. Nó làm cho văn học Nhật Bản có tính cách khép kín. Chỉ có người quí tộc mới cảm được tâm sự các nhân vật của Truyện Genji, thơ haiku th́ mang tính cách thời tiết với chủ đề xoay quanh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, c̣n các nhà văn hiện đại tụ tập thành một nhóm với danh hiệu văn đàn (bundan) và không viết ǵ ngoài cái tôi và cuộc sống hàng ngày của họ như đă thấy qua loại tư-tiểu thuyết (watakushi-shôsetsu) tức tiểu thuyết nói về tâm trạng cá nhân.

5)      Nói chung, văn học Nhật thể hiện quan điểm về cuộc sống và cái chết có tính chất tôn giáo và triết học đặc biệt Nhật Bản. Cho dù Phật Giáo, Khổng Giáo, Thiên Chúa Giáo, chủ nghĩa Marx đă được du nhập vào Nhật Bản và đều đóng những vài tṛ quan trọng trong việc xây dựng nền văn học của họ, tư tưởng ṇng cốt của vũ trụ quan Nhật Bản đă h́nh thành từ thế kỷ thứ 4 và thứ 5 với một cấu trúc đa thần (polytheistic) phức tạp mà ngày nay, sau khi chịu ảnh hưởng Phật và Khổng Giáo đă trở thành Thần Đạo (Shintô). Nó là tổng hợp của phong tục thờ cúng tổ tiên, tôn giáo nguyên thủy dựa trên thần chú, đồng cốt (shamanism) và quan điểm vạn vật hữu linh (animism) nghĩa là xem thần thánh có mặt khắp nơi trong từng mỗi sự vật.

Do đó, ở Nhật, ta thấy vũ trụ quan trong văn học đa tạp và thể hiện dưới 3 h́nh thức: trước hết là hệ thống tư tưởng ngoại lai, thứ hai là tư tưởng bản địa và thứ ba hệ tư tưởng chiết trung khi mà tư tưởng ngoại lai đă được uốn nắn theo mô h́nh Nhật Bản.Ví dụ vào thời Minh Trị, có Uchimura Kanzô là người hoàn toàn theo mới, Masamune Hakuchô đi ngược lại trong khi Mori Ôgai và Natsume Sôseki đứng giữa ngă ba đường. Sau 1945, nếu Miyamoto Yuriko (cộng sản) và Kawabata Yasunari (bảo thủ) tượng trưng cho hai khuynh hướng đối nghịch th́ những Kobayashi Hideo và Ishikawa Jun có quan điểm ôn ḥa hơn.

Một nền văn học đặc biệt như vậy cho đến gần đây vẫn không được thế giới quan tâm nếu không có vai tṛ trọng yếu của quốc gia Nhật Bản trong đời sống kinh tế và chính trị thế giới từ hơn một thế kỷ nay. Người Tây Phương biết đến văn học Nhật Bản từ bao giờ? Hẳn phải là sau khi A. Pfizmaier dịch một bài viết của Ryuutei Tanehiko (Liễu Đ́nh, Chủng Ngạn, 1783-1842) ra tiếng Đức ở Wien năm 1847, hay người Pháp L. de Rosny cho ra đời tập thi tuyển cổ kim Nhật Bản năm 1871 trong đó có Hyakunin Isshu[5] tức giai phẩm “Trăm nhà thơ trăm bài thơ”, người Anh W.G. Aston[6] dịch quyển văn học sử Nhật Bản đầu tiên năm 1899 và Fenollosa[7] dịch tuồng trước Thế Chiến Thứ Nhất. Trong những năm 1920, tuy đă có bản dịch Truyện Genji với phong cách tài hoa của Arthur Waley[8] nhưng phải đợi đến những nhà dịch thuật và khảo cứu Anh-Mỹ như Donald Keene, Ivan Morris, Edward Seidensticker, Pháp như René Sieffert, Edwige de Chavanes, Bernard Frank hay Nhật như Mori Arimasa, Kojima Takashi, Fujimori Bunkichi…người ngoại quốc mới t́m đọc văn học Nhật. Chúng ta cũng không quên những đóng góp của các nhà truyền giáo, ngoại giao và học giả Nhật Bản Họ đă không ngừng phát hành những tác phẩm dịch thuật và nghiên cứu về văn học Nhật Bản từ nhiều năm.

Văn học Nhật Bản rất phong phú và không đáng bị xếp bên cạnh những nền văn học của một ngôn ngữ thứ yếu ví dụ tiếng Bantu (bộ lạc Nam Phi Châu) như cách người ta xếp loại nó trong một viện nghiên cứu Đông Phương ở Anh vào những năm 1920 (theo lời R.P. Dore năm 1979 trong lời tựa cho quyển sách của Katô Shuuichi). Giáo sư René Sieffert[9] của Viện Sinh Ngữ Và Văn Minh Đông Phương (Inalco) ở Paris đă nhắc đến con số hơn 10.000 tác phẩm của giai đoạn lịch sử từ thượng cổ đến 1868 được ghi lại trong thư chí Nhật Bản. Một nhà xuất bản ở Tokyo đă ấn hành một tuyển tập liên quan đến các tác phẩm kể từ năm 1868 đánh dấu cuộc Minh Trị Duy Tân đến 1973 tức lúc quyển La Littérature Japonaise (Lịch sử văn học Nhật Bản) của Sieffert ra đời. Tuyển tập ấy gồm 99 bộ, mỗi bộ 5 quyển khổ thông thường chưa kể 35 bộ tuyển thêm in sau đó liên quan đến khoảng thời gian từ 1945 về sau. Không thể nào nói là không t́m ra được một tác phẩm có tầm cỡ từ một khối lượng đồ sộ như thế. Cái khó ở đây là cần có một đội ngũ dịch thuật già tay để làm cái công việc chuyển ngữ vốn chẳng dễ dàng nầy.

Ở Việt Nam chúng ta, trước đây đă có nhiều tác phẩm nghiên cứu và dịch thuật về văn học Nhật được dịch ra Việt Ngữ gián tiếp từ một ngôn ngữ khác (Anh, Pháp, Đức, Nga) hay trực tiếp từ Nhật ngữ gần đây, nhất là từ sau ngày Nhật Việt nối lại bang giao. Một số người dịch trẻ có du học Nhật Bản đang bắt đầu công việc chuyển ngữ, tuy chưa qui mô nhưng đă chứng tỏ có tài năng và đầy nhiệt t́nh. Âu cũng là điều đáng mừng cho văn hóa nước nhà và t́nh hữu nghị Việt Nhật.

Do đó, qua loạt bài nầy mà tư liệu tham khảo chính, Shin Nihon Bungakushi (Tân Nhật Bản văn học sử), Bun-eidô phát hành, ấn bản năm 2000) do hai giáo sư danh dự Đại Học Tôkyô Akiyama Ken và Mikoshi Yukio chủ biên, là một tập sách giáo khoa viết cho học tṛ trung học ở Nhật, người muốn giúp đỡ những ai ṭ ṃ muốn biết về văn học Nhật Bản một chút kiến thức cơ sở để có thể đi xa hơn.

Đến đây, chúng ta hăy thử bắt đầu t́m hiểu những nhân tố nào đă h́nh thành văn học Nhật Bản.

 

TIẾT I : ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI 

A) Đất Nước

Nhật Bản là một đảo quốc gồm 4 ḥn đảo chính, ở vùng Đông Bắc Á,

 trải dài theo h́nh cánh cung. Do điều kiện đặc biệt của địa chất vùng này, Nhật Bản có h́nh thù một cái bao lơn nh́n ra vùng Bắc Thái B́nh Dương với một giải đất hẹp, nhiều núi non xen kẻ một ít đồng bằng và thung lũng (16 % diện tích).Nhật Bản chỉ có độ 378.000 cây số vuông nghĩa là bằng nước Áo ở Âu Châu hay tiểu bang Montana của Hoa Kỳ và lớn hơn Việt Nam một tí.

Nhật Bản nằm ở vĩ độ 38 đến 45 của Bắc Bán Cầu, khí hậu ôn đới với bốn mùa rơ rệt. V́ nằm giữa hai đường nứt của vỏ địa cầu nên có nhiều núi lửa, suối nước nóng và chịu nhiều trận động đất. Vũ lượng tương đối cao: 1.800 mm một năm, có ảnh hưởng của gió mùa và là nơi gặp gỡ của những luồng nước ấm và nước lạnh.

B) Con Người :

Dân Nhật là một dân tộc hải dương, đời sống gắn liền với biển, nguồn lương thực của họ. Về mặt nhân chủng, người Nhật có thể chất của sắc dân châu Á (da vàng, tóc đen và cứng, mắt một mí, g̣ má cao, mũi thấp) nhưng mỗi địa phương lại có nét đặc biệt, ví dụ phụ nữ Kagoshima (miền nam) da ngăm ngăm, phụ nữ Hokuriku (miền Bắc) trắng trứng gà bóc, đàn ông Kyuushuu (miền Nam) nét mềm mại, lông thưa, đàn ông miền Tôhoku (Bắc) nét sâu, râu rậm. Trước kia họ bị coi là thấp (trung b́nh đàn ông cao 162 cm, đàn bà 149,9cm) nhưng từ sau thời chiến, cứ mỗi 10 năm, họ đă cao thêm khoảng1cm.

Quốc dân tính Nhật Bản đă được nhà dân tộc học Mỹ, Ruth Benedict miêu tả như sau trong tác phẩm The chrysanthemum and the sword (Hoa cúc và lưỡi kiếm): “Thích căi cọ nhưng ôn tồn, háo chiến nhưng lại chuộng mỹ thuật, ngạo mạn nhưng lễ độ, ngoan cố nhưng biết nghe lời, trung thành và cũng bất trung, dũng cảm đồng thời hèn nhát, bảo thủ mà lại chuộng điều mới mẻ trong cuộc sống. Những mâu thuẫn đó là đặc tính của dân tộc Nhật.” Họ có cái thú phong lưu biết thưởng thức vẽ đẹp tao nhă của nhánh cúc nhưng kè kè suốt đời bên ḿnh vũ khí là thanh kiếm.

Họ từ đâu đến? Thuyết " tiên trú " (senjuu) bảo rằng họ đă có mặt sẵn trên quần đảo từ thời xa xưa, thuyết " độ lai " (torai) cho là họ đến từ một nơi nào đó ngoài biển. Ngày nay, phần lớn các nhà nghiên cứu đều đồng ư là người Nhật đă đến quần đảo nầy bằng nhiều đợt và nhiều đường khác nhau. Tổ tiên người Nhật Bản có lẽ đă từ đại lục qua bằng đường Đông Bắc Á (Tây Bá Lợi Á, Triều Tiên, Măn Châu) nhưng cũng theo ḍng nước ấm Kuroshio (Hắc Triều) để đến từ miền Nam (Đài Loan, Phi Luật Tân, Mă Lai, In-đô-nê-xia, bán đảo Đông Dương và vùng Hoa Nam). Sau đó, một số người thuộc 17 huyện nhà Hán, dân chúng các nước nhỏ thuộc Triều Tiên bây giờ như Cao Cú Lệ, Bách Tế, Tân La, Nhiệm Na đă đến và xin thần phục, đem sự hiểu biết cùng tài năng của họ cống hiến cho xă hội Nhật Bản cổ đại.

 

TIẾT II : NGÔN NGỮ, CHỮ VIẾT

A) Ngôn Ngữ :

Tiếng Nhật[10]được nhiều người xếp vào ngữ hệ phương bắc tức ngữ hệ Oural Altai (gần gũi với tiếng Triều Tiên, Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kỳ), nhưng gần nhất là tiếng Triều Tiên. Đó là " thuyết phương bắc ". Ngôn ngữ Altai không có phạm trù về giống và số, không có quán từ, ngoài ra túc từ (bổ ngữ) lại đặt trước động từ vv...Tiếng Nhật có thể đă tách ra từ tiếng Triều Tiên từ 7.000 năm trước hay chỉ có cùng một tiếng tổ với tiếng ấy. Lại có thuyết gọ là " thuyết phương nam " xem Nhật ngữ có nguồn gốc phương Nam qua những điểm tương đồng của nó với ngôn ngữ quần đảo Lưu Cầu. Người ta c̣n t́m thấy nơi nó dấu vết của ngôn ngữ các vùng đảo Mă Lai Pô-ly-nê-di v́ những âm mở (a, i, u, e, o và không khép bằng phụ âm trừ n) hay sự không phân biệt âm r và l của nó.Có học giả như Ôno Susumu (Đại Dă, Tấn) lại t́m thấy tương quan của Nhật Ngữ với tiếng Tamil miền Nam Ấn Độ. Ngày nay, thuyết xem Nhật ngữ là một tiếng nói lai giống (hybrid) xem ra có tính thuyết phục hơn cả.Tuy nhiên, dù là thuộc ngữ tộc hay ngữ hệ nào, ban đầu Nhật ngữ rất đơn sơ, nghèo nàn về cả âm lẫn ư và chỉ được hoàn chỉnh và phong phú ra với sự trợ giúp của Hán ngữ.

B) Chữ Viết :

Việc nghiên cứu ngôn ngữ Nhật Bản gặp nhiều khó khăn v́ nó được ghi chép bằng văn tự rất trễ. Những văn bản đầu tiên chỉ có từ thế kỷ thứ 8 cho ta thấy nó dưới một dạng đă khá hoàn chỉnh hầu như ngôn ngữ hiện đại.

Sao chép kư hiệu Nhật ngữ bằng tiếng La Tinh không có ǵ khó khăn đặc biệt (như học giả Mỹ Hepburn đă làm).Tiếng Nhật là một tiếng đa âm, những tính từ và động từ được chuyển hóa bằng ngữ vĩ, không phải để phân biệt giống và số, ngôi thứ của đại từ nhưng để biểu hiện thể khẳng định hay phủ định, khả năng, tiềm năng, độ dài của thời gian…Trong tiếng Nhật có tiếng tôn xưng, tiếng khiêm tốn, ngôn ngữ của đàn ông, đàn bà chứng tỏ xă hội Nhật tổ chức chặt chẽ theo thứ bậc.

Tuy nhiên, ngôn ngữ đa âm Nhật Bản khi phải ghi lại bằng văn tự Trung Hoa vốn xuất phát từ ngôn ngữ đơn âm, là cả một vấn đề. Người Nhật đă có nhiều cố gắng để khắc phục nó để có được một hệ thống chữ viết với 50 âm tố tuy chưa hoàn chỉnh nhưng tạm đủ dùng. Số chữ Hán hiện nay được dùng và Bộ Giáo Dục chấp nhận lên đến 2235[11] chữ (đă tăng gia khoảng 400 chữ trong ṿng 30 năm nay) không kể một số quốc tự, tức là chữ Hán do người Nhật đặt ra. Trong khi sử dụng Hán tự, họ vấp phải vấn đề đồng âm dị nghĩa và phải dựa vào văn mạch để biện biệt.

Cho đến năm 1868, tiếng Nhật mà các nhà văn dùng vẫn là bungo (văn ngữ). Dưới thời Duy Tân, khi văn học nhắm mục đích giáo dục quần chúng những cái hay, cái mới th́ bungo lại không đóng được vai tṛ ấy. Văn nói (kôgo = khẩu ngữ), thoáng hiện trong các tiểu thuyết và bản tuồng sân khấu từ thế kỷ 16 (văn nói vùng Kyôto - Ôsaka) xem ra thích hợp hơn. Thế nhưng, thổ ngữ miền Đông của vùng Tôkyô được đánh giá là tân tiến đă dần dần thay thế văn nói của vùng cố đô.

Nói đến hiện đại hóa, ta không thể nào quên vai tṛ của gairaigo (ngoại lai ngữ = tiếng có gốc nước ngoài nhưng không phải chữ Hán) trong lối diễn tả của người Nhật. Đó là những chữ dùng mà họ đă du nhập từ tiếng Bồ, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức[12] ngày trước và tiếng Mỹ bây giờ. Sự du nhập ấy nhiều khi rất táo bạo và sống sượng nhưng đă được thực hiện trong một tinh thần duy thực lợi và không mặc cảm. Các ca từ của nhạc trẻ ngày nay đầy tiếng Anh và những chữ đó được dùng chỉ để tạo không khí (ambiance), giống như chữ Hán dùng như mặt nạ[13] trong tiếng Nhật thuở xưa. Một nhà văn hiện đại Nhật, Murakami Haruki, đă dịch tựa cuốn truyện Catcher in the Rye của Jerome David Sallinger (sinh năm1919) ra tiếng Nhật với tựa đề là Kaccha in za rai! nghĩa là hầu như chỉ phiên âm chứ giữ nguyên không dịch. Tuy nhiên, sự cắt rời khỏi ngôn ngữ và văn tự cổ truyền có nguy hiểm là sẽ đưa tới sự đoạn tuyệt với di sản văn học cổ điển. Ngày nay, tác phẩm cổ điển như Truyện Genji hay Truyện Heike đều phải được dịch ra ngôn ngữ hiện đại để đến với người đọc.

 

TIẾT III: TÊN NGƯỜI, TÊN ĐẤT

Tên người và tên đất không phải những nhân tố h́nh thành văn học Nhật Bản. Nhắc đến chúng ở đây, người viết chỉ muốn đưa ra một vài nguyên tắc cơ sở để độc giả đỡ phải ngượng ngùng với những tên người, tên đất vốn đầy dẫy trong những trang sắp tới.

A) Tên Người :

Theo nhà nghiên cứu Toyoda Takeshi[14] trước đây chỉ có tầng lớp cai trị mới có tên chứ người nông nô Nhật Bản phải gọi theo tên chủ nhân của họ. Tên họ các hào tộc như Fujiwara, Soga, Ôtomo, Kume, Saeki …đă được nhắc đến rất sớm từ thế kỷ thứ 5, thứ 6.

Tên tuổi được thành lập theo một số qui tắc như quan chức, địa danh nơi cư trú, theo thiên văn, địa h́nh, phương hướng, tên động thực vật chẳng hạn. Các nhà công khanh hay vũ sĩ thường lấy tên theo đất thế tập hay nơi sinh sống. Họ Sanjô, Kujô lấy tên theo hai khu vực trong thành phố Kyoto, c̣n Yamashina, Daigo lấy tên theo hai vùng ngoại thành. Việc đặt họ theo quan chức có từ lúc chế độ luật lệnh được lập ra để tổ chức hệ thống hành chánh. Họ Kokubu xuất thân hành chánh địa phương, Kokuga vốn làm quan thu thuế, họ Ôkura và Miyake có liên quan đến việc trông coi kho lẫm. Tên họ c̣n có liên quan đến thiên văn đến từ tập tục và tín ngưỡng thời cổ. Đặt họ theo mặt trời th́ có Hidaka, theo sao th́ có Hoshino, theo trăng th́ có Mochizuki. Các loại địa h́nh ruộng (như Tanaka), vườn tược (như Sonoda), nước (như Mizuno), sông (như Ogawa) núi (như Yamanaka) , g̣ (như Nagaoka), ao chuôm (như Numata), rừng (như Hayashi, Mori), biển (như Ômi), bến (như Hama, Miura), ghềnh (như Kishi), mũi đất (như Ozaki), cửa sông (như Irie) đều có thể dùng để đặt tên họ, nhất là ruộng (ta) v́ xă hội Nhật Bản xưa vốn theo nông nghiệp. Những địa điểm hoặc loài vật liên quan đến sinh hoạt đă đi vào tên họ có giếng (như Inoue, Imai), ao ( như Ikeda), nguồn nước (như Izumi). Liên quan đến cây cỏ chim muông có anh đào (như Sakurai), tùng (như Komatsu) , trúc (như Takeyama), mơ (như Umeda), tử đằng (như Fujino). Phương hướng đông (như Azuma), tây (Nishida), nam (như Minamida), bắc (như Kitano) cũng là cơ sở đặt tên của họ. Nghề nghiệp cũng vậy: dân gốc chài lưới có họ Kaifu, cúng tế có Takahashi, may cắt có Hattori, đưa thuyền đ̣ có Watanabe, chế tên có Yabe, nuôi chó có Inukai.

Họ (uji) hay đoàn thể có liên hệ huyết thống cần phân biệt với tên cá nhân (na). Tên cá nhân đàn bà thường có chữ o đằng trước hay chữ ko (tử = con) ở cuối cùng (tuy khuynh hướng này đă giảm đi gần đây). Tên đàn ông thường đặt theo thứ bực anh cả, anh hai, ba, bốn, năm, sáu… (ta, ji, sabu hay zô, shi, go, roku, shichi, hachi vv để ai chỉ sinh trước sinh sau) hay thêm các ngữ vĩ rô , o, suke, hei, go, hiko, ta, ya… gắn sau một tính từ chỉ một đức tính của con mà cha mẹ mong mơi. Cần nhắc lại v́ số âm giới hạn nên tên người Nhật thường viết bằng nhiều chữ Hán khác nhau.

B) Tên đất :

Tác giả Kagami Kanji[15] chia cách đặt tên đất của người Nhật ra làm ba loại: đặt theo ngữ nguyên địa phương, theo dân tộc và theo thời đại. Loại đầu tiên thường được cấu tạo bằng cách gọi của người địa phương về h́nh thế của vùng đó, đôi lúc kèm thêm tên tuổi nhân vật hoặc sự kiện đặc thù nào liên quan đến địa danh đó. Trước hết phải thu thập các cách phát âm tên những vùng đất của địa phương vốn có một h́nh thế giống nhau để suy diễn ra ngữ nguyên của tên với sự trợ giúp của các từ điển cổ ngữ và tài liệu dân tộc học. Trong trường hợp Nhật Bản th́ có nhiều xác xuất tên đất được đặt theo tiếng Ainu (thổ dân đă có mặt trên quần đảo trước người Nhật) nên việc sử dụng kiến thức về ngôn ngữ Ainu để t́m hiểu rất cần thiết. Những vùng có tên là Tarô (tuy viết âm Hán là Thái Lang hay Điền Lăo), suy ra không có liên quan ǵ đến người già người trẻ (Lang hay Lăo) ǵ cả nhưng có thể có nghĩa là đất bằng (taira) do biến thể của từ tairo thấy trong ngôn ngữ địa phương vùng đảo Hachijojima. Cũng vậy, bộ phận ya (cốc = hang) trong các địa danh Yachi, Yatsu, Yato lại được dùng để chỉ một vùng đất trũng (thung lũng) ẩm ướt.

Trên đất Nhật có nhiều giống người lần lượt đến định cư nên địa danh c̣n có màu sắc chủng tộc. Dĩ nhiên ngôn ngữ Ainu chiếm đa số nhưng tiếng Triều Tiên và ngôn ngữ các đảo phía Nam cũng có ảnh hưởng không nhỏ. Những tên đất có một bộ phận là nai (như Wakanai) có nghĩa là sông có bộ phận là horo (như Sapporo) lại có nghĩa là lớn (cả hai trường hợp đều theo tiếng Ainu) dù là viết bằng chữ Hán nào. Những thành phố tên là Kure có lẽ đến từ chữ Kuri (Cao Ly) được đọc trại ra. Chữ tsuru trong tiếng Ainu có nghĩa là đục và bẩn, viết ra Hán văn lại dùng chữ Hạc như tên loại chim nước sống ở Triều Tiên, Măn Châu. Trong tiếng Triều Tiên, tsuru c̣n có nghĩa là đồng bằng và người ta thấy địa danh vùng Kyuushu hay có chữ tsuru nầy. Các thôn làng, đảo, cồn trên sông Nhật Bản đọc là tara cũng có thể cùng một gốc gác với các địa danh cùng một địa h́nh thấy ở vùng Borneo, Taiwan hay New Zealand.

Cách đặt tên đất theo thời đại hay nhân danh cũng là một hiện tượng phổ thông. Ví dụ người ta phân biệt tashiroshinden, ruộng đă khai khẩn từ xưa và ruộng mới vỡ gần đây. Shôwa Shinzan (Chiêu Ḥa Tân Sơn) chẳng hạn là một ḥn núi nhỏ cao 402m mới có từ sau biến động địa chất ở Hokkaidô (trong khoảng từ 12/1943 đến 9/1945) đặt theo tên thiên hoàng Shôwa.

 

TIẾT IV: KHU PHÂN THỜI ĐẠI VĂN HỌC

A) Phân chia theo triều đại:

Việc phân chia thời đại văn học là một vấn đề. Cho đến nay người ta thường phân chia thời đại văn học theo thời kỳ lịch sử như gọi văn học triều Yamato, văn học triều Nara, văn học triều Heian...Lại có cách phân chia theo thượng cổ, trung cổ, cận đại, hiện đại. Tuy văn học tuy có chịu ảnh hưởng của những sự kiện lịch sử thực đấy nhưng nó là một ḍng chảy liên tục, không thể hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi vương triều hay chính quyền mà c̣n tùy thuộc vô số ảnh hưởng khác. Ngoài ra, khi gọi là văn học thượng cổ hay trung cổ th́ bắt buộc phải định nghĩa thế nào là thượng cổ và trung cổ v.v…, các thời đại ấy bắt đầu khi nào và chấm dứt vào bao giờ và trả lời câu hỏi xem danh từ thượng cổ và trung cổ có phổ quát và thống nhất cho mọi quốc gia trên thế giới không?

B) Phân chia theo văn thể:

Saigô Nobutsuna (Tây Hương, Tín Cương) trong Nhật Bản cổ đại văn học sử (1963) đề nghị một lối phân chia khác. Ông chia theo thể tài văn học: thời đại thần thoại và thi ca thuật sự, thời đại thơ trữ t́nh, thời đại truyện kể… Đó cũng là lối tiếp cận của Hayashi Tatsuya (Lâm, Đạt Dă) và Noyama Kashô (Dă Sơn, Hạ Chính) trong Quốc văn học nhập môn (2004) khi hai ông phân chia theo h́nh thái văn học: kayô (ca dao cổ đại), các loại thơ như waka, renga và haikai, văn học Hán văn vương triều, văn học cửa thiền, văn học Nho gia, văn học truyện kể, nhật kư và tùy bút, văn học truyện răn đời (setsuwa), truyện giải trí (zôshi), văn chương du hành (kikô bungaku) và tiểu thuyết vv…Hai tác giả nầy dù sao cũng nh́n nhận một thời đại có thể có một màu sắc, đặc tính chung có thể t́m thấy bàng bạc trong bất luận h́nh thức văn học nào.

C) Phân chia theo tiêu chuẩn tổng hợp:

René Sieffert trong La Littérature Japonaise bắt đầu bằng phân biệt theo nét đặc trưng của thời đại: thời đại sưu tập thi ca (thế kỷ thứ 8), thời đại đa dạng hóa văn thể (thế kỷ thứ 9 và 10), thời đại văn học có tính lịch sử (thế kỷ 11 đến 14), thời kỳ sân khấu cổ điển Nô (thế kỷ 15), thời kỳ văn chương b́nh dân (thế kỷ 16 và 17), thế kỷ văn học Ôsaka (1650-1750), thế kỷ văn học Edo (1750-1850), thời kỳ văn học chịu ảnh hưởng phương Tây (từ 1868 đến nay). Tuy nhiên, ông lại phân chia giai đoạn cuối thành thành 3 thời kỳ theo thời trị v́ của ba vị thiên hoàng, cho rằng không làm cách nào khác hơn v́ trong giai đoạn nầy, ảnh hưởng của chính trị lên trên văn học rất rơ nét. Trong cùng một thời đại, dĩ nhiên có một thể tài hay một khuynh hướng đóng vai tṛ then chốt nhưng những thể tài hay khuynh hướng khác cũng phát triển song song tuy có yếu thế hơn. Ví dụ suốt mấy trăm năm sinh hoạt văn hoá thời Heian, tuy thể loại truyện kể (monogatari) được phát triển mạnh mẽ nhưng thi ca như tanka cũng phong phú dồi dào và đôi khi trà trộn vào trong truyện kể và đóng một vai tṛ không nhỏ trong nội dung của nó.

Lối tiếp cận của Hisamatsu Sei-ichi (Cữu Tùng, Tiềm Nhất) trong Nihon bungakushi tsuusetsu[16] lại dựa vào cả hai quan điểm địa lư và lịch sử để phân định thời kỳ khi ông lần lượt sắp xếp theo thứ tự văn học thượng cổ (vùng Yamato), văn học trung cổ (vùng Kyôto), văn học trung cận đại (các vùng Kamakura, Yoshino, Muromachi), văn học cận đại (các vùng Azuchi & Momoyama, Kamigata tức ba vùng nằm trong khu vực Kyôto & Ôsaka), giai đoạn chuyển tiếp từ miền Tây sang Edo thuộc miền Đông, văn học cận kim ( thời Meiji, thời Taishô…). Đó cũng là lối tiếp cận thường thấy trong các sách văn học sử Nhật Bản có tính cách giáo khoa.

D) Cách phân chia được áp dụng ở đây:

Đáng lư ra loạt bài này, v́ sự tiện lợi cần có của một tư liệu nhập môn, phải dựa trên lối phân chia theo thời đại cũng có tính cách tổng hợp của hai tác giả và cũng là hai nhà sư phạm Akiyama và Mikoshi trong Shin Nihon bungakushi (Tân Nhật Bản văn học sử, 2000), được biết như sau đây:

-Thượng cổ (thời Yamato-Fujiwara (350-710) và Nara (710-794)) tuy văn học Nhật Bản chỉ hiện rơ nét từ thế kỷ thứ 7.

-Trung cổ (thời Heian (794-1185).

-Trung cận đại (thời Kamakura (1185-1333), Muromachi (1333-1568) và Azuchi-Momoyama (1568-1600)).

-Cận đại (thời Edo (1600-1867) chia ra làm tiền cận đại và cận đại -Hiện đại (từ Duy Tân đến Shôwa (1868-1989)) chia ra làm tiền hiện đại và hiện đại. Giai đoạn Heisei (1989 đến nay) hăy c̣n quá mới để có thể đưa vào văn học sử nên chỉ xin bỏ ngơ trong lời kết từ với vài ba yếu tố có tính chất thông tin sẽ cập nhật lần hồi nếu có dịp.

Tuy nhiên, để bớt tính chất giáo khoa thư và để khỏi nhảy từ chuyện nọ sang chuyện kia rồi trở lại với nó sau đó, chúng tôi đă phối hợp lối tŕnh bày theo thời đại của hai ông với lối tŕnh bày theo văn thể (truyện kể, thơ chữ Hán, tiểu thuyết, sân khấu tuồng, văn dịch v.v…và như thế, có tính cách xuyên lịch sử) của hai giáo sư Hayashi và Noyama trong Quốc văn học nhập môn (2004) đă nhắc tới ở trên xa. Cùng lúc sẽ có những bài mang tính chất luận đề như khi bàn về ảnh hưởng của Trung Quốc, của Phật Giáo, của Tây Phương trên văn học Nhật.

Bản dùng để in này soạn xong vào cuối năm 2006 có một số đính chính, thay đổi và bổ túc nếu so sánh với các bản in trên mạng trong hai năm qua.

 

[1] Katô, Shuu-ichi, A History of Japanese Literature (I), trang 1-26.

[2] Những khái niệm trong tiểu đoạn nầy sẽ được tŕnh bày lần hồi về sau.

[3] Miyamoto Tsua, The Formation of Japan (Nihon no katachi) Tokyo, 2001 ( trang 39)

[4] Vật (mono) = sự việc, ngữ (katari) = kể. Monogatari là truyện kể và Katarimono là h́nh thức văn học cổ xưa thuật lại việc lạ lùng của những nhân vật khác thường. Genji là nhân vật có tính hư cấu, con trai không chính thức của thiên hoàng.

[5] Theo Jean-Jacques Origas, trong Dictionnaire de Littérature Japonaise, PUF, Paris, 1994.

[6] William George Aston (1841-?), người Ái Nhĩ Lan, đến Edo năm 1864 và sống ở Nhật 11 năm, thông dịch cho ngoại giao đoàn và dạy Anh Văn, đă dịch Nhật Bản văn học sử của Shibano Rokusuke (Chi Dă, Lục Trợ) ra tiếng Anh năm 1899.

[7] Fenollosa, Ernest (1853-1908) giáo sư khoa Anh văn Đại Học Đế Quốc Tôkyô trước thế chiến thứ nhất.

[8] Waley, Arthur (tên thật là Arthur David Schloss, 1889-1966) nhà Đông Phương Học người Anh gốc Do Thái, giáo sư danh dự Đại Học Luân Đôn, nguyên phó quản thủ thư viện tại Bảo Tàng Viện Hoàng Gia Anh, tinh thông Hán, Nhật. Đă dịch Truyện Genji (1925-1933) và Makura Sôshi (1928) ra tiếng Anh

[9] Sieffert, René, La Littérature Japonaise, PUF, 1973, trang 6.

[10] Xem Higuchi Takayasu , Nihonjin wa doko karakita ka (Người Nhật từ đâu đến ?), Kôdansha Gendai Shinsho, Tokyo, 1971.

[11] Gồm 1945 chữ thông dụng và 290 chữ ít thông dụng hơn để viết tên. Dự định lên đến 2965 chữ đă được dùng trong máy tính và điện thoại cầm tay. (theo báo International Herald Tribune 28/09/04).

[12] Ví dụ bara (hoa hồng) từ tiếng Bồ Đào Nha, suriru (hồi hộp = thrill) từ tiếng Anh, aura (aura =hào quang) từ tiếng Đức, purezento (quà tặng = présent) từ tiếng Pháp...

[13] Ví dụ đọc là bara (hoa hồng) theo tiếng Bồ Đào Nha nhưng viết là Tường Vi bằng chữ Hán. Viết chữ Hán Trân Châu nhưng có thể được phép đọc là Paaru (Pearl) theo tiếng Anh. " Mặt nạ " là để che bên ngoài như trang sức cho đẹp.

[14] Toyoda, Takeshi, Myojino rekishi " Lịch sử tên họ ", Chuô Korôn, 1971.

[15] Kagami, Kanji, Nihon no Chimei " Địa danh Nhật Bản ", Kadokawa Shobô, 1964.

[16] Hisamatsu Sei-ichi, Nihon Bungakushi Tsuusetsu ,(Nhật Bản Văn Học Sử Thông Thuyết), Yuuhikaku xuất bản, 1953), trang 1-6.

.............................

* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: nntran@erct.com 


® "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả 
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com

..........