|
|
NHỮNG BÀ MẸ (Haha naru mono, 1969) Nguyên tác: Endo Shusaku Dịch: Nguyễn Nam Trân
H́nh ảnh Đức Mẹ Maria của Thiên Chúa Giaso Chiều tối, tôi đến được bến cảng. Chiếc phà vẫn chưa tới. Đứng trên bờ kè nhỏ, tôi nh́n những đợt sóng con màu xám - bồng bềnh mọi thứ rác rưởi từ những cọng rơm cho đến lá rau xanh – tấp vào thành cầu tàu và gây ra tiếng động nhỏ như khi một chú chó con liếm nước. Khoảng đất trống phía đối diện nơi một chiếc xe vận tải đang đậu có hai nhà kho. Đằng trước chúng là cái bóng đỏ sậm của gă đàn ông nào đó đứng loay hoay bên cạnh đống lửa cháy. Trong pḥng đợi, năm sáu người đàn ông, cư dân trong vùng, chân đi ủng cao cổ, ngồi trên một chiếc băng dài, nhẫn nại chờ giờ pḥng bán vé mở cửa. Tuy dưới chân họ đă la liệt những thùng đầy nhóc cá và rương ḥm cũ kỹ, lại c̣n thấy ngổn ngang vài cái lồng mà họ đă dồn gà vào đến chật kín. Từ kẽ hở của lồng gà, mấy con vật đang cố gắng tḥ ra cái cần cổ dài ngoẳng, trông khổ sở đến tội nghiệp. Bọn đàn ông ngồi trên chiếc băng dài tuy không nói năng ǵ nhưng lâu lâu vẫn gửi về phía tôi những tia nh́n ḍ xét. Tôi có cảm tưởng ḿnh từng thấy quang cảnh này ở đâu rồi, có lẽ là trong một tập tranh vẽ của người phương Tây. Thế nhưng tôi không thể nhớ là tranh của ai và tôi đă nh́n thấy nó vào lúc nào. Bên kia biển có ánh đèn lờ mờ từ ḥn đảo màu xám đang trải dài ra trước mặt. Có tiếng chó sủa vọng lại nhưng tôi cũng không rơ nó đến từ ḥn đảo đó hay từ bờ bên này. Một bộ phận giống như đèn đuốc đang từ từ di động. Măi sau tôi mới nhận ra đó là ánh đèn của chiếc phà đang trôi về hướng này. Rốt cuộc th́ pḥng bán vé đi phà cũng mở cửa và những người đàn ông đi ủng cao năy giờ ngồi trên chiếc băng dài trong pḥng đợi đều đă đứng dậy sắp hàng để mua. Khi tôi đến chờ đằng sau lưng họ, mùi tanh của cá đă ập vào mũi. Tôi từng nghe nói người dân trên ḥn đảo kia sống phân nửa thời giờ bằng nghề nông và phân nửa bằng nghề đánh cá. Khuôn mặt họ đều từa tựa nhau. Có lẽ v́ xương g̣ má nhô cao hay sao mà đôi mắt lơm sâu vào, làm cảm t́nh không bộc lộ ra ngoài, khiến cho họ có cái nh́n như là sợ sệt. Sự sợ hăi thấy nơi những người dân bản địa này h́nh như đă được tạo thành từ sự gian dối lẫn tính nhút nhát. Sở dĩ tôi nghĩ như thế v́ trong thời gian dài chờ có cơ hội làm cuộc hành tŕnh này, tôi đă nghe nói về kiểu nh́n của họ từ những người đi trước. Bề ǵ th́ từ thời Edo, dân chúng trên đảo đều là những kẻ có cuộc sống khó khăn, chẳng những nghèo đói mà phải làm toàn công việc nặng nhọc, lại c̣n chịu bức hại v́ đă dám theo tà đạo. Măi rồi tôi cũng được lên phà và rời bến cảng. Ngoài chiếc phà mỗi ngày ba bận làm gạch nối giữa đất liền phía Kyushu và ḥn đảo nhỏ đó, không c̣n phương tiện giao thông nào khác. Người ta c̣n nói là cho đến hai năm trước, chiếc phà chỉ khứ hồi mỗi ngày hai bận, một buổi sáng một buổi chiều. Nói là phà chứ nó chỉ là một chiếc thuyền dùng chở súc vật hay hàng hóa nên không có ghế. Hành khách đành phải đứng giữa những chiếc xe đạp, thùng cá và rương ḥm cũ kỹ, để cho những ngọn gió biển lạnh lẽo thổi qua cửa sổ táp vào mặt. Nếu là ở Tôkyô th́ chắc chắn đă có kẻ lên tiếng cằn nhằn hay mắng mỏ, nhưng ở đây, ai nấy đều giữ im lặng. Chỉ nghe mỗi tiếng động cơ của chiếc phà chứ ngay đám gà qué bị giam trong những cái lồng lăn lóc dưới chân hành khách cũng không dám hó hé điều ǵ. Chỉ khi mũi giày của họ hơi lấn tới và chạm phải th́ chúng mới tỏ vẻ sợ hăi. Tôi thấy buồn cười là sự sợ hăi của chúng trông không khác ǵ vẻ mặt sợ hăi của mấy ông khách ngồi đợi phà trên bến khi năy. Gió thổi càng lúc càng mạnh, biển màu đen và sóng cũng đen. Bao lần tôi đă dợm châm điếu thuốc nhưng dù làm cách nào, diêm cũng không bắt lửa v́ gió thổi quá rát. Để khỏi tốn diêm vô ích, tôi đành vứt điếu thuốc đầu đă ướt nước dăi ra ngoài thành phà. Gió mạnh đến nỗi tôi nghĩ là có khi chiếc phà này không biết sẽ trôi dạt về đâu. Hôm nay suốt nửa ngày trời, tôi đă phải ngồi lắc lư trên xe buưt từ Nagasaki đến đây. V́ mệt mỏi, từ vai đến lưng hầu như đông cứng, tôi bèn sụp mi mắt xuống để đôi tai ḿnh ch́m vào trong tiếng máy của chiếc phà. Bao lần âm hường động cơ bỗng nhiên yếu hẳn trong vùng biển đen kịt, thế rồi nó cũng bất chợt t́m lại khí thế, nhưng được một lúc th́ lại chùng lắng. Nghe sự thay đổi nhịp điệu ấy độ vài lần th́ khi mắt vừa mở ra trở lại, tôi đă thấy ánh đèn trên đảo đang áp sát vào người. -Ê ê! Có ai đang gọi: -Anh Watanabe có đó không đấy? Ném hộ sợi thừng nào! Sau đó tôi đă nghe vọng lại tiếng kêu nặng nề của chùm giây thừng được ném lên trên cầu tàu. Nhóm người sống trong vùng lần lượt rời chiếc phà. Mùi cá tanh ḥa vào trong bầu không khí lạnh lẽo của trời đêm. Ra khỏi cửa soát vé, tôi thấy có năm sáu gian hàng bán đồ khô hay sản vật địa phương. H́nh như vùng này vốn nổi tiếng với loại cá khô tên gọi Ago tức là khô làm từ giống cá bay (tobiuo). Một người đàn ông đi ủng cao và đeo tạp dề lao động (jumper) đang đứng đằng trước một cửa tiệm. Sau khi đă chăm chú nh́n đám hành khách đi ngang qua cửa soát vé, ông ta tiến về phía tôi và nói: -Cảm ơn Sensei-sama (ông thầy) đă không quản ngại đường xa. Nhà cháu là người được giáo hội gửi đến để đón thầy đấy ạ! Ông kính cẩn cúi đầu chào tôi đến không biết mấy bận làm tôi đâm phát ngại. Thế rồi, ông giành cầm hộ cho được cái cặp tôi đang mang theo. Cố từ chối bao nhiêu, ông cũng không chịu thả. Khi tay ông chạm vào tay, tôi cảm thấy cánh tay ông thật rắn chắc và to lớn, chẳng khác nào rễ cây khô. Nó hoàn toàn khác với những cánh tay ẩm ướt và mềm nhăo của đám tín đồ tôi quen biết ở Tôkyô. Cho dù chúng tôi đi chung suốt quăng đường khá dài, ông vẫn khăng khăng giữ một cự ly, lẽo đẽo sau lưng cách tôi một bước. Tôi nhớ lại cách gọi Sensei-sama kính cẩn ông dùng trong câu chào khi năy mà đâm lo. Có thể đây chỉ là cách xưng hô của dân địa phương lúc họ đang đứng trước một kẻ mà họ c̣n chưa tin tưởng. Mùi tanh của cá vẫn c̣n phảng phất quanh đây dù chúng tôi đă đi khỏi bến phà khá xa. Cái mùi ấy như đă thấm hẳn vào bên trong những ngôi nhà mái thấp viền hai bên con đường hẹp này và tôi tưởng chừng cái mùi ấy từng bám vào đấy tự lâu đời. Khác với hồi năy, bây giờ th́ những ánh đèn lờ mờ tôi đang nh́n thấy bên kia mặt biển lại là ánh đèn của ḥn đảo lớn Kyushu. -Này ông, cha xứ mạnh giỏi không đấy? Nhận được thư cha, tôi đă tức tốc bay xuống đây... Tôi không nghe từ sau lưng một tiếng trả lời nào. Tôi những lo không biết ḿnh có vừa làm điều ǵ thất thố, nhưng h́nh như không phải vậy. Có lẽ là ông ta c̣n có ǵ ngần ngại hoặc không muốn nhiều lời vô ích. Cũng có thể đó là thói quen có tự lâu đời của dân cư trên đảo vốn rất cẩn thận trong khi phát biểu. Nhất là khi họ nghĩ rằng đây là cách thức hay nhất để giữ cho ḿnh được yên ổn. *** Tôi từng gặp vị cha xứ nói trên ở Tôkyô. Nhân v́ hồi đó, tôi đang viết mấy cuốn tiểu thuyết dùng cuộc sống của người Kirishitan (tín đồ Cơ Đốc) làm bối cảnh, c̣n ông th́ từ đảo Kyushu mới lên và chúng tôi đă gặp nhau trong một buổi tiếp tân. Chính tôi là người tiến đến gợi chuyện với ông về đề tài này. Ông cũng có đôi mắt sâu hóm và g̣ má nhô cao, nghĩa là khuôn mặt với những đặc điểm của đám ngư dân trên đảo. Đứng lẫn vào giữa các chức sắc quyền thế như các linh mục và nữ tu ở Tôkyô, có lẽ v́ nhút nhát nên dù được bắt chuyện, ông chỉ biểu lộ sự e dè và đă trả lời rất ít. Về điểm này, giữa ông và người đang cắp giùm cái cặp đi sau lưng tôi, hoàn toàn không có ǵ khác. -Thưa cha, thế cha có biết đức cha Fukabori chứ nhỉ? Năm trước, tôi đă mất một tiếng đồng hồ xe buưt để đi từ Nagasaki đến một ngôi làng chài và ở đó, tôi đă được vị cha xứ tên là Fukabori giúp đỡ tận t́nh trong việc thu thập tư liệu cho đề tài. Ông vốn là người lớn lên ở xóm Uragami-chô ven băi nên đă đưa tôi ra biển dạy cách câu cá ngoài khơi. Ông c̣n đem tôi đến thăm những gia đ́nh Kakure Kirishitan vốn vẫn ngoan cường không chịu “trở lại đạo” (tái cải tông, reconversion)[19]. Dĩ nhiên, tôn giáo mà những người “Cơ Đốc ẩn náu” (Kakure Kirishitan)[20] này tin theo vốn có một khoảng cách so với ḷng tin “Cơ Đốc Giáo đích thực” vốn đă bị chính quyền cấm cản suốt một thời gian dài khi Nhật Bản bế quan tỏa cảng (sakoku). Không những thế, đạo của họ c̣n pha lẫn một ít Thần đạo, Phật giáo cũng như vài tín ngưỡng dân gian khác (thổ tục giáo) kể cả đôi ba điều mê tín nữa. Do đó, suốt một dải từ Nagasaki cho đến Goto, Ikitsuki[21], nơi họ sống rải rác, việc đưa đám người này “trở lại đạo” vẫn là mục đích của giáo hội địa phương, những kẻ kế thừa nhiệm vụ của giáo sĩ Petitjean, người đă đến đây vào thời Meiji. -Lúc ấy, đức cha c̣n cho tôi tá túc ở nhà thờ nữa đấy! Tuy tôi định nắm lấy mối giây của câu chuyện để gỡ nó ra nhưng người đứng đằng trước vẫn nắm chặt cái cốc đựng nước hoa quả (juice) trong bàn tay và chỉ trả lời bằng mấy tiếng vâng, vâng ... cụt ngủn. -Thế th́ trong giáo phận nơi cha quản hạt, có người Kakure không vậy? -Vâng có. -Dạo này đám đó được đưa lên đài truyền h́nh và được trả với giá khá cao nên họ cũng đă vui vẻ xuất hiện ấy nhỉ?. Cái ông già được đức cha Fukabori giới thiệu cứ tưởng như đang đóng vai nhà b́nh luận trong một tiết mục tŕnh diễn. Có thể nào ḿnh đi gặp được mấy người Kakure như thế không cha? -Chà, coi bộ hơi khó đấy, thầy! Cuộc đối thoại chấm dứt nơi đây và tôi đă để ông ngay đó rồi rời đi chỗ khác. Tôi định bụng kiếm một người nào dễ bắt chuyện hơn ông. Thế nhưng điều tôi không ngờ là khoảng một tháng trước đây, tôi đă nhận được lá thư đến từ ông cha xứ miệt vườn tính t́nh chất phác này. Lá thư đă bắt đầu bằng mấy chữ “B́nh an trong Thiên Chúa” vốn là câu giáo đầu mà người Cơ Đốc hay dùng. Trong thư, ông cho biết là sau khi thuyết phục thành công nhóm người Kakure sống trong giáo phận ḿnh quản hạt, ông đă được họ cho xem các bản sao chụp h́nh ảnh Thần Chủ (Thần Nhà Kho, Nandogami)[22] lẫn những tấm sớ dùng để cầu nguyện (Orasho, Oratio). Điều tôi không ngờ là nét chữ trong thư lại được viết hết sức chỉn chu. *** -Trong xóm này có người Kakure nào sống không ông? Khi tôi quay đầu lại để hỏi thăm, chỉ thấy người đàn ông nọ lắc đầu: -Thưa, không ạ! Họ sống trên núi cơ. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đă đến được nhà thờ. Đứng đợi sẵn ở đó là một người đàn ông mặc chiếc áo chùng đen (soutane)[23] và một thanh niên bên cạnh chiếc xe đạp. Dù trước đây chỉ mới một lần thôi nhưng dù sao cũng gọi là đă được gặp ông, tôi mới cất tiếng chào hỏi cha xứ một cách thân mật. Thế nhưng người đứng đối diện lại ra chiều bối rối và đưa mắt hết nh́n cái ông được cử ra đón tôi đến anh thanh niên nọ. Lư do là tôi đă bé cái lầm. Tôi quên khuấy là khác với Tôkyô hay Ôsaka, ở những địa phương như nơi đây, một người được gọi là đức cha (shimpu-sama) thường kiêm cả vai tṛ thôn trưởng trong vùng và nhiều khi c̣n được tôn kính hơn nữa, đến mức người ta xem ông là một tiểu lănh chúa. Cha xứ ra lệnh cho chàng thanh niên: -Này Jirô. Chú đi báo cho Nakamura-san biết là Sensei đă đến nơi rồi đấy! -Con sẽ bảo ông ta tới ngay. Anh thanh niên cung kính cúi đầu, trèo lên chiếc xe đạp rồi tức thời biến mất trong màn đêm. -Thưa cha, thế làng của người Kakure nằm ở đâu ạ? Trước câu hỏi tôi đặt ra, cha xứ đă chỉ cho tôi một con đường hoàn toàn ngược với đường đi đă có từ trước đến giờ. Nh́n lên, không biết có phải v́ núi non che chắn hay sao mà nơi đó, dù một ánh đèn tôi cũng không thấy. Vào thời tôn giáo bị bức hại, những người “Cơ Đốc ẩn nấp” này, để tranh tai mắt của các viên nha lại, đă chọn những chỗ trên núi hay ngoài biển khó truy lùng nhất để sinh sống. Nơi mà cha xứ vừa chỉ cho tôi chắc không có ǵ khác. Nghĩ đến tấm thân không mấy khỏe khoắn của ḿnh, tôi tự nhủ ngày mai th́ có hơi kíp, ḿnh chớ vội đi. Bảy năm về trước, tôi nhờ giải phẫu lồng ngực mới lành bệnh phổi nên giờ hăy c̣n chưa đủ tự tin về thể lực. Tôi chiêm bao thấy mẹ tôi. H́nh như giấc mơ đến với tôi vào lúc vừa được người ta chuyển vào pḥng sau khi mổ xong lồng ngực. Họ đă đặt tôi xuống mặt giường như một thây chết. Lỗ mũi tôi được nối bằng ống cao su với b́nh chứa dưỡng khí, c̣n cánh tay phải và cả chân phải nữa, đều bị cắm nhiều kim chích. Cũng v́ lúc đó bên cạnh giường bệnh có treo lủng lẳng một b́nh đựng dung dịch máu và nhà thương đang tiếp huyết cho tôi. Nhất định là thần trí tôi đang ở trong trạng thái mông lung nhưng trong cái bần thần do thuốc mê gây ra, tôi vẫn cảm thấy có một cái bóng xam xám thấp thoáng bên người và nắm lấy tay ḿnh. Đó là bóng của mẹ tôi. Lạ lùng là khi đó, trong pḥng bệnh này không có một bác sĩ nào hay bà vợ của tôi. Cho đến nay, tôi đă bao phen thấy giấc mộng như thế rồi. Nhiều khi, sau khi tỉnh giấc, tôi vẫn chưa phân biệt cái ḿnh vừa thấy là mộng hay thực nên đă nằm thờ thẫn trên giường cả một lúc lâu. Sau đó, tôi mới chợt nhận ra là đang ở nhà ḿnh chứ không phải là trong cái bệnh viện mà tôi đă phải nằm đến ba năm trời. Thành thử, khi ư thức được điều đó, nhiều lần tôi không nén nổi tiếng thở dài. Tôi không hé môi cho vợ tôi hay câu chuyện giấc mơ đó. T́nh thực mà nói, bà là người mà, sau ba cuộc giải phẫu, đă canh giấc cho tôi thâu đêm và không được chợp mắt một giờ. Thế mà trong giấc mơ kia, tôi chưa lần nào thấy sự có mặt của bà và điều đó đă làm cho tôi cảm thấy ḿnh có lỗi. Tuy vậy, nói cho cùng, th́ trong nơi sâu thẳm của hồn ḿnh, tôi chưa bao giờ để ư đến sự tồn tại của bà. Chẳng qua là sự gắn bó chặt chẽ giữa tôi với mẹ đă khiến cho ngay hôm nay - tức hai mươi năm sau ngày húy nhật – mẹ tôi vẫn c̣n đó và bao lần đă hiện ra trong giấc mộng dù tôi không thích điều đó chút nào. Là một người không rành rẽ về khoa phân tâm học, tôi khó ḷng hiểu được ư nghĩa của giấc mơ ấy. Kỳ thực, khi chiêm bao, tôi cũng không thấy rơ gương mặt của mẹ tôi. Ngay những cử động trong đó cũng không rơ ràng. Về sau tôi mới nghĩ ra rằng, đó là h́nh ảnh của một người “có vẻ” là bà mẹ nhưng tôi không thể đoan chắc người ấy là mẹ của tôi. Duy có một điều chắc chắn, người ấy không phải là vợ tôi cũng như cô tháp tùng hay cô khán hộ, và dĩ nhiên không phải một ông bác sĩ nào cả. Qua những ǵ tôi c̣n giữ trong kư ức th́ ngay khi c̣n thơ ấu, cả trong thời gian đau ốm, tôi cũng chưa hề trải qua kinh nghiệm được mẹ nắm chặt bàn tay ḿnh để đưa tôi đi vào giấc ngủ. Ngày thường, h́nh ảnh tôi dễ nhận ra nhất nơi bà là một người đàn bà sống rất mănh liệt. Hồi tôi lên năm, v́ công ăn việc làm của cha tôi, gia đ́nh đă dời qua thành phố Đại Liên (Dalian) bên Măn Châu. Cái c̣n hiện ra rơ ràng nhất trong óc tôi là những giọt nước nhỏ xuống và đóng thành băng (băng trụ, tsurara) giống như hàm răng cá bên cửa sổ ngôi nhà nhỏ của chúng tôi. Bầu trời màu xám ch́ tưởng chừng như sắp có tuyết rơi nhưng chờ măi chẳng thấy tuyết đâu. Trong căn pḥng be bé diện tích chừng sáu chiếu tatami, mẹ tôi đang tập chơi vĩ cầm (violin). Đă mấy tiếng đồng hồ rồi mà bà vẫn chơi đi chơi lại mỗi một khúc nhạc. Chiếc vĩ cầm vẫn tựa vào dưới cằm và khuôn mặt bà cứng lại giống như phiến đá, c̣n đôi mắt th́ nh́n đăm đăm vào một điểm cố định trong không gian. Bà đang chú tâm để t́m cho ra cái điểm mà ḿnh muốn, bắt cho được nốt nhạc duy nhất trong cơi hư vô ấy. Khi vẫn không t́m ra âm tố ḿnh muốn, bà đă thở dốc và cáu kỉnh đè cái mă vĩ để tiếp tục ép nó chuyển động trên mấy sợi dây đàn. Tôi biết rằng dưới cằm của bà có một chỗ màu nâu v́ bị chai sần tựa như vết bẩn. Lư do là một phần, từ hồi c̣n ngồi trên ghế trường âm nhạc, bà đă có thói quen lèn cây vĩ cầm vào dưới cằm, phần khác v́ hay đưa năm đầu ngón tay sờ vào đó làm cho nó dần dần cứng lại như đá. Bà đă đè ép sợi giây đàn cả ngh́n lần như thế chỉ v́ muốn t́m cho được âm sắc ḿnh mong muốn. Đó là h́nh ảnh bà mẹ tôi có lúc tôi là học tṛ tiểu học. H́nh ảnh người mẹ trong ḷng tôi lúc đó là một phụ nữ bị chồng ruồng rẫy đang ngồi bất động như pho tượng đá trên chiếc trường kỷ (sofa) trong căn pḥng tù mù lúc hoàng hôn bắt đầu phủ bức màn xám lên thành phố Đại Liên. Cảnh tượng người mẹ phải làm như thế để dồn nén những nỗi khổ tâm đă khiến cho một đứa trẻ như tôi đau đớn không biết chừng nào. Ngồi bên cạnh bà, tôi giả vờ đem những bài tập cho về nhà ra làm nhưng tất cả đầu óc tôi chỉ hướng mỗi về bà. V́ không rơ sự t́nh khó khăn đến mức độ nào, nên khi bà cúi mặt, chống hai bàn tay lên đỡ lấy đầu một cách khổ sở th́ h́nh ảnh đó, ngược lại, đă phản chiếu trong tôi, khiến cho tôi cảm thấy cay đắng vô vàn v́ không biết ḿnh phải xử trí làm sao. Cảnh tượng u ám như thế đă diễn ra từ mùa thu bước qua mùa đông. Không c̣n muốn nh́n thấy mẹ ḿnh mỗi ngày trong gian pḥng u ám với tư thế đó nên buổi chiều khi đi học về, tôi cứ đi lê la, thất tha thất thểu. Tôi đă theo chân ông lăo hàng rong người Bạch Nga bán bánh ḿ Nga (Russian pan) không biết đến tận vùng nào. Rốt cuộc, măi đến khi mặt trời sắp tắt, tôi mới đứng lại bên vệ đường và đá lăn những viên sỏi nhỏ rồi chọn con đường về hướng nhà ḿnh. -Này, mẹ của con đó, nghe con... Một hôm, không hiểu tại sao cha tôi lại dắt tôi theo khi đi tản bộ, một chuyện năm th́ mười họa mới xảy ra. Ông đă bất ngờ ngỏ lời với tôi như thế. -Mẹ của con có việc quan trọng phải trở về Nhật...Thế con có muốn đi cùng mẹ không nào? Nh́n mặt cha, tôi hiểu là ông đang nói dối theo kiểu người lớn. Tôi chỉ trả lời vâng và chỉ một tiếng một đó thôi. Bước sau lưng ông, lúc ấy tôi đă đá không biết bao nhiêu là viên sỏi nhỏ nhưng miệng th́ vẫn ngậm câm.Vào tháng sau, mẹ đă dắt tôi lên tàu thủy đi từ Đại Liên về Kobe và nương nhờ nơi người chị của bà. Nói về bà mẹ thời tôi học trung học ư? Tôi có rất nhiều chuyện để kể về giai đoạn đó nhưng có thể tóm tắt trong một điểm. Giống như thời xưa khi bà đánh đi đánh lại một điệu nhạc trên cây vĩ cầm để t́m cho ra cái nốt nhạc ḿnh mong muốn, lúc đó bà chỉ theo đuổi một tôn giáo duy nhất ḿnh hằng chờ đợi bằng cách sống một cuộc đời khắc khổ và cô độc. Những buổi sáng mùa đông, giữa b́nh minh buốt giá, tôi vẫn thấy ánh đèn sáng lên trong pḥng bà. Tôi biết trong gian pḥng, lúc đó bà đang làm ǵ. Bà đang lần xâu chuỗi mân côi và cầu nguyện. Thế rồi, sẽ đến giờ bà kéo tôi lên xe điện Hankyuu[24] chuyến sớm nhất trong ngày để đi dự lễ Misa.Toa tàu vắng vẻ, không một bóng ai. Tôi thu người trên ghế và đùa nghịch bằng cách giả vờ như ḿnh đang chèo thuyền. Thế nhưng, đôi khi mở mắt ra nh́n, tôi thấy ngón tay của mẹ vẫn c̣n lần xâu chuỗi mân côi. *** Trời hăy c̣n tối, tôi chợt tỉnh giấc nhờ tiếng mưa rơi. Sau khi đă hấp tấp sửa soạn mặt mũi quần áo, tôi chạy từ ngôi nhà trệt đang ở về hướng cái nhà nguyện xây bằng gạch nằm ở phía đối diện. So với ḥn đảo nghèo nàn này th́ ngôi nhà nguyện trông thật đẹp đẽ nên không ăn khớp với nó chút nào. Theo lời cha xứ cho tôi biết vào tối hôm qua th́ tín đồ của giáo phận này đă tự tay khuân đá, xẻ ván và phải mất hai năm trời mới dựng được nó lên. Ba trăm năm về trước, vào thời đại của người Kirishitan, tất cả các tín đồ thuở đó v́ muốn làm vui ḷng các nhà truyền giáo, đă tự góp sức ḿnh để xây dựng nhà thờ. Tập quán ấy đă được truyền đến ḥn đảo hiu quạnh và nghèo khổ trên đất Kyushu này và người ta cứ thế mà chấp nhận y nguyên. Trong ngôi nhà nguyện hăy c̣n nằm giữa bóng tối lờ mờ, tôi thấy có ba bà nông dân đầu đội khăn vải trắng đang qú nhưng trên người, họ vẫn mặc trang phục ngoài đồng (noragi). Lại có chừng hai người đàn ông trong bộ quần áo làm việc. V́ nhà nguyện vừa không có bàn để khấn lại không có cả ghế nên tất cả phải ngồi trên mặt chiếu đọc kinh. Chắc là sau khi dự xong cái lễ Misa này, bọn họ sẽ cứ thế mà vác cuốc đi thẳng ra đồng hay ngoài biển. Trên bàn chủ tế, vị cha xứ kia đang hướng cặp mặt lơm sâu nh́n về phía này trong khi hai tay ông cầm cái chén lớn đựng rượu lễ (caliz) và miệng lẩm bẩm lời kinh xin tiếp nhận thánh thể. Ánh sáng của những ngọn đèn bạch lạp chiếu lung linh lên cuốn Kinh Thánh khổ lớn được viết bằng chữ La Tinh. Ḷng tôi chạnh nghĩ về người mẹ của ḿnh. Tuy nhiên tôi không cảm thấy giữa ngôi nhà thờ nơi ba mươi năm về trước mẹ con tôi vẫn thường lui tới và cái nhà nguyện này có cái ǵ chung. Buổi lễ Misa chấm dứt, khi tôi bước ra bên ngoài nhà nguyện th́ cơn mưa đă tạnh nhưng trời vẫn đầy sương mù vừa mới bốc lên. Hướng thôn làng của người Kakure mà cha xứ vừa chỉ cho tôi hôm qua đang bị một màn sương trắng như sữa phong kín. Trong vùng sương mờ ấy tôi thấy bóng dáng những khu rừng cây trôi bồng bềnh tựa như phong cảnh trong tranh thủy mặc. -Sương mù kiểu này, không cách chi lên tới đó đâu! Vừa chà xát hai bàn tay vào nhau, từ sau lưng tôi, cha xứ lẩm bẩm -Đường núi trơn lắm đấy! Chắc hôm nay, thầy nên nghỉ một ngày lấy sức đi! Sáng mai lên đường th́ đă sao nào! “Trong xóm này cũng có mộ của người Kirishitan, từ chiều hôm nay, thầy đă có thể đi thăm được rồi”. Đó là phương án cha xứ đă đề nghị với tôi. C̣n như ngôi làng của người Kakure th́ nó vốn nằm ở lưng chừng núi, dân bản địa thời may ra chứ một người từng bị cắt đi một lá phổi như tôi, làm ǵ có đủ lượng không khí để thở nếu phải bước trên những con đường ướt át nằm bên dưới màn mưa. Đến lúc sương mù tách ra, qua khe hở của nó, tôi đă nh́n thấy biển. Khác với hôm qua, dường như màu nước đen thẫm hơn mà c̣n lạnh nữa. Chưa thấy bóng con thuyền nào dám ra khơi. Giống như những chiếc răng nanh màu trắng, sóng đang trào bọt. Dù chỉ đứng ở đây mà nh́n, tôi cũng có thể hiểu được t́nh huống. Sau khi dùng xong cơm sáng với cha xứ, tôi sang bên căn pḥng sáu chiếu tatami họ dành cho ḿnh, nằm lăn ra và đọc quyển sách viết về lịch sử vùng đất này. Những hạt mưa thưa đă rơi trở lại, âm thanh lạo xạo như cát đang chảy của nó bao trùm lên bầu không khí tĩnh mịch của căn buồng. Trên tường, ngoài tấm thời khắc biểu những chuyến ô-tô-buưt được dán lên, không c̣n thấy ǵ khác. Tự dưng tôi những muốn quay lại Tôkyô. Theo những ǵ được ghi chép lại th́ cuộc bách hại người Kirishitan ở địa phương này đă khởi đầu từ năm 1607[25] nhưng xảy ra kịch liệt nhất là trong giai đoạn 1615 đến 1617. -Giáo sĩ Pedro de San Dominico -Mathias -Fransisco Gorosuke -Miguel Shin’emon -Dominico Kisuke... Tôi đă tuyển chọn những cái tên đó từ danh sách các nhà truyền giáo hay tu sĩ tử đạo (junkyô = tuẫn giáo) vào năm 1615 trên mảnh đất nơi tôi đang có mặt. Nhưng thực tế th́ chắc chắn là trong số nông dân không tên tuổi cũng như phụ nữ các làng chài hăy c̣n có vô số người đă bỏ ḿnh v́ đạo. Lúc trước, khi có nhiều thời giờ rảnh rỗi dành cho việc đọc lịch sử những người tử đạo, trong đầu tôi có lần đă nẩy ra một giả thuyết khá táo bạo. Tôi lập luận là những cuộc xử h́nh này không nhắm vào ḷng tin của từng cá nhân một nhưng phải chăng nó đă được dàn dựng để răn đe các chức sắc và nhân vật đại diện cho dân chúng trong các thôn làng? Tuy rằng trong khi chưa t́m ra một bản ghi chép đương thời nào chứng minh cho nó, lập luận của tôi vẫn c̣n nằm trong phạm vi của một giả thuyết và sẽ c̣n như thế không biết đến bao giờ. Thế nhưng, tôi có cảm tưởng là vào thời đại ấy, mỗi cá nhân không ai tự ḿnh chọn lựa giữa tử đạo hay bội đạo mà thường quyết định theo ư chí của làng nước. Lư do là vào lúc ấy, ư thức cộng đồng của đám dân làng và dân xă ấp thường dựa trên quan hệ huyết thống, xem nó như một trọng điểm, và lại mạnh mẽ hơn bây giờ nhiều. Việc đề kháng được sự bức hại hay chuyển qua vâng phục không do từng cá nhân quyết định nhưng là quyết định chung của cả tập thể dân làng. Điều đó là cơ sở một giả thuyết mà xưa tay tôi vẫn chủ trương. Nói tóm lại, nếu đám nha lại đem tất cả những ai cương quyết không bỏ đạo mà giết hết th́ họ đồng thời cũng tiêu diệt sức lao động trong vùng nên họ chỉ nhắm xử h́nh những người tiêu biểu. Về phía dân chúng làng xă th́ v́ sự sống c̣n của tập đoàn, khi bắt buộc phải thay đổi, họ sẽ bỏ đạo cùng một lượt. Ư tưởng trên đă làm cho tôi xem việc tử đạo ở Nhật Bản có một cái ǵ khác so với việc tử đạo ở ngoại quốc. Có tư liệu ghi lại rằng vào thời xưa, một ḥn đảo Nam Bắc dài 10 km, Đông Tây rộng 3, 5 km như nơi đây, đă có vào khoảng 1.500 giáo dân Kirishitan sinh sống. Lúc bấy giờ, người đến truyền đạo trên đảo là linh mục Camillo Constanzo, một giáo sĩ Bồ Đào Nha. Vị này đă bị đưa lên giàn hỏa trên băi biển Tabira vào năm 1622[26]. Nghe kể rằng khi lửa đă bén đến củi và linh mục bị bao trùm bởi làn khói đen, đám đông vẫn nghe ông hát bài thánh ca “Laudate Dominum” để tôn vinh Chúa. Sau khi hát xong, ông c̣n cao giọng lập đi lập lại “Thánh thay! Thánh thay!” tất cả năm lần rồi mới trút linh hồn. Nơi xử h́nh linh mục này là một ḥn đào nhỏ lởm chởm những đá mà nếu muốn đi từ ḥn đảo này đến đó, đám nông dân và chài lưới phải dùng thuyền con và mất khoảng nửa giờ. Các tín đồ không chịu từ bỏ đạo đă bị trói nguyên cả chân tay và xô xuống biển từ những vách đá thẳng đứng.Vào thời điểm cuộc đàn áp đi đến chỗ ác liệt nhất, h́nh như mỗi tháng số tín đồ bị đem đến xử tử trên ḥn đảo nham thạch gọi là Nham Đảo (Iwajima)ấy không bao giờ dưới 10 người. Bọn nha lại có khi cảm thấy phiền toái cho ḿnh nên đă bọc họ trong chiếu lát thành từng bó và thảy tất cả xuống mặt biển lạnh giá. Dĩ nhiên thi thể của những tín đồ bị ném như vậy hầu như không ai t́m ra được. Tôi đă giết thời giờ bằng cách đọc lại quyển sử nói về những người tử đạo thảm thương ấy cho đến quá buổi trưa. Bên ngoài những giọt mưa sương vẫn cứ rơi rơi. Trong bữa ăn trưa, tôi không thấy bóng cha xứ đâu. Một bà trung niên da dẻ rám nắng với g̣ má nhô cao phụ trách việc dọn cơm cho tôi. Tôi cứ ngỡ bà là vợ của một ông dân chài nào nhưng qua câu chuyện, chao ôi, tôi đă ngạc nhiên biết mấy khi hay rằng bà là một nữ tu, sống độc thân và đă dành cả đời ḿnh để làm công việc nhà thờ. Nói về các nữ tu th́ một người như tôi, lúc ở Tôkyô, chỉ biết có những bà xơ hay mặc mấy bộ đồ màu đen rất đặc biệt. Nhờ có bà này mà lần đầu tiên tôi mới được nghe kể về tổ chức hội thánh ở đây, trong đó bà là một trong những người thuộc về “Onnabeya” (Chi nhánh nữ), thuật ngữ trong vùng để chỉ về những người đàn bà vừa lo công việc đồng áng như một nông dân, vừa trông coi con nít ở nhà trẻ, vừa chăm sóc bệnh nhân ở bệnh viện...Nói chung sinh hoạt của họ đều là sinh hoạt tập đoàn. --Đức cha vừa lấy xe gắn máy đi lên núi Fudô (Bất Động Sơn) đấy ạ! Khoảng ba giờ chiều, ngài sẽ về! Bà vừa nh́n về phía cửa sổ đang ướt nước mưa vừa bảo tôi: -Tiếc là thời tiết xấu khiến thầy đâm chán, chứ chút nữa thôi, sẽ có Jirô-san đằng cơ quan hành chánh đến hướng dẫn thầy đi xem ngôi mộ của người Kirishitan đấy Jirô-san bà vừa nhắc đến là anh thanh niên tối hôm qua đă cùng cha xứ đứng đợi tôi trước cửa nhà thờ. Đúng như lời bà, khi tôi vừa ăn xong bữa cơm trưa chưa được bao lâu, anh Jirô đă tới để rủ tôi đi. Đặc biệt là anh đă chuẩn bị cho tôi một đôi ủng cao. -Thầy đi giày của ḿnh là không được đâu! Lấm bùn hết cho coi. Anh ta cứ cúi đầu lia lịa, xin lỗi xin phải tôi măi v́ đôi ủng anh vừa mang tới là đồ dùng đă cũ, làm tôi cũng đâm ái ngại cho anh. -Em thật mắc cỡ khi phải đưa thầy đi bằng chiếc xe thồ cà tàng này! Chiếc xe hơi bốn bánh loại nhẹ của anh khi vừa ra khỏi xóm th́ đúng như điều tối hôm qua tôi đă tưởng tượng, đă đi vào một con đường có những căn nhà mà mùi tanh của cá thấm cả vào từng thớ gỗ. Ngoài cảng của đảo, có chừng mười chiếc thuyền con đang đậu, ư chừng họ vẫn chuẩn bị rời bờ dù thời tiết xấu. Ở vùng này chỉ có công sở và trường tiểu học là được xây bằng bê tông cốt sắt.Tiếng là khu phố chính nhưng chưa đến năm phút sau, phong cảnh đă đổi thành những mái nhà dân lợp bằng rơm rạ. Trên một cột điện ướt nước mưa, có ai đó đă dán một tấm quảng cáo một buổi tŕnh diễn vũ lơa thể. Tấm quảng cáo ấy có h́nh ảnh một bà người không mảnh vải đang đưa một cánh tay đè lên đôi vú, bên dưới c̣n chạy một hàng chữ: “Nữ hoàng của nhục thể (Sekusu no ôja). -Cha xứ đă vận động dư luận trong vùng để phản đối kiểu quảng cáo như thế rồi! -Nhưng lớp trẻ vẫn lục tục đến xem chứ ǵ? Ngay cả giới thanh niên đi đạo nữa, có phải không? Nghe câu nói đùa của tôi, anh Jirô chỉ nắm chặt tay lái mà không trả lời. Tôi bèn vội vàng đổi đề tài: -Bây giờ, số tín đồ trong vùng được khoảng bao nhiêu hở cậu? -Thưa Sensei, có lẽ chừng một ngh́n. Có tư liệu ghi chép là vào thời Kirishitan, dân số ở đây lên đến 1.500, vị chi là nó đă giảm bớt đi 500. -C̣n số người Kakure? -Thưa em không biết nhưng chắc là mỗi năm mỗi ít đi dần th́ phải.Những người c̣n giữ phép tắc thờ phượng của Kakure chỉ độc các ông già bà cả chứ bọn trẻ đă xem mấy chuyện đó là hủ lậu từ lâu. Anh Jirô đă kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện khá thú vị. Chẳng hạn như việc nhóm người Kakure này, dù các cha xứ và tín hữu Ki-Tô Giáo thuyết phục “trở lại đạo” đến đâu, họ cũng không bao giờ chịu nghe. Theo lời họ kể th́ chính họ là những người đă ǵn giữ tôn giáo cũ (Cựu giáo) do ông bà truyền lại và mới đúng là người Cơ Đốc chính gốc. Họ lại cực lực chủ trương rằng Cơ Đốc Giáo có từ thời Meiji chỉ là một thứ đạo mới (Tân giáo). Hơn nữa, h́nh ảnh của các giáo sĩ (Padre) họ giữ trong tâm khảm tự bao đời và cách phục sức của các cha xứ ngày nay đă khác nhau quá đỗi và những điều đó đă trở thành mầm mống cho sự thiếu tin tưởng nơi họ. -Tuy vậy, thầy ạ, có một vị linh mục người Pháp thấy thế mới vắt óc và đă nẩy ra một kế lạ. Ông đă ăn mặc quần áo y hệt kiểu các Padre thời xưa và t́m tới gặp những người Kakure này. -Thế rồi sao? -Người Kakure lúc đó mới thưa với ông rằng giống th́ giống đấy nhưng vẫn có cái ǵ khang khác. Do đó họ không thể nào tin nổi... Qua câu chuyện Jiro-san kể, tôi cảm thấy anh có một chút khinh miệt đối với người Kakure nhưng lúc ấy, tôi chỉ phá lên cười. Việc vị linh mục người Pháp kia giả dạng các giáo sĩ Tây, Bồ thời Namban (Nam Man)[27] đến thăm người Kakure xem ra có chút ǵ hài hước nhưng dù sao, tôi vẫn thấy nó phù hợp với tâm trạng của người dân trên đảo này. Sau khi ra khỏi xóm, chiếc xe đi theo con đường màu xám chạy dài ven biển. Phía tay trái ép sát vào núi c̣n bên tay mặt là biển. Biển đang động, nước vẩn đục và xám một màu ch́. Tôi vừa mở hé cánh cửa kính trên xe th́ đă thấy những luồng gió đem theo nước mưa vào, đập đến rát mặt. Khi đến được chỗ có khu rừng được trồng lên với mục đích chắn gió, Jirô-san dừng xe lại. Anh giương dù ra che cho tôi. Tuy khu vực này là đất cát nhưng người ta cũng ráng trồng rải rác đó đây được mấy cụm thông. Khu có mộ của người Kirishitan nằm một góc trên một ngọn đồi cát cheo leo đổ nghiêng vể phía biển. Gọi là mộ nhưng đó chỉ là một phiến đá mà nếu lên gân, tôi có thể ôm và nâng cả nó lên. Một phần ba ngôi mộ đá đó đă lún vào trong cát, c̣n mặt ngoài v́ gió táp mưa sa nên đă xám xịt như ch́. Trên đá vỏn vẹn một vài nét bút kẻ h́nh thập tự giá và mấy chữ M.và R. theo mẫu tự La Mă. Nó làm tôi liên tưởng đến danh hiệu Đức Mẹ Maria nên đoán ṃ rằng đây có thể là nơi an nghĩ của một nữ tín hữu. Tôi không hiểu tại sao lại có một ngôi mộ nằm riêng biệt ở một nơi khuất nẽo như thế này? Phải chăng sau khi bị bức hại, thân tộc đă lén lút dời xác bà ra một nơi mà sẽ không ai để ư. Cũng có thể là giữa lúc bị bức hại, bà đă bị xử h́nh tại chỗ nghĩa là ngay trên đồi cát. Phía bên kia nấm mồ của người tín nữ bị bỏ bê không ai lư tới đó, một vùng biển hoang dă đang trải rộng. Tiếng gió đập vào cánh rừng chắn nó tạo thành những âm thanh như khi giây điện xoẹt vào nhau. Giữa biển khơi đen kịt, tôi chợt thấy một ḥn đảo nhỏ. Phải chăng đó là Iwajima (Nham Đảo), nơi có cái vách đá dựng đứng mà những kẻ đàn áp đă cột các tín đồ thành xâu và ném họ xuống biển? *** Tôi nhớ ḿnh đă có lần nói dối mẹ. Chuyện nói dối mẹ, bây giờ nghĩ lại, tôi cho rằng nó đă phát xuất từ mặc cảm tôi có đối với bà. Để có thể quên đi những khổ muộn từ khi bị người chồng ruồng bỏ, mẹ tôi chỉ biết t́m nguồn an ủi trong t́nh yêu tôn giáo. Ngoài nó ra bà không có ǵ khác để nương tựa. Cái nhiệt t́nh đeo đuổi một âm tố vĩ cầm của thời son trẻ, bà đă chuyển hướng về một Đấng thiêng liêng duy nhất. Ngày nay tôi có thể thông cảm phần nào thái độ tận tụy của bà nhưng phải nói vào lúc đó, nó đă áp bức tôi mệt đến ngạt thở. Bà càng cưỡng ép tôi theo cùng một tôn giáo với bà bao nhiêu th́ càng làm cho tôi, giống như một đứa trẻ sắp chết đuối, cố sức vùng vẫy để thoát khỏi áp lực của ḍng nước cho bằng được. Trong các cậu bạn cùng lớp của tôi có một đứa tên Tamura, con trai một ông chủ nhà chứa ở vùng Nishinomiya. Lúc nào nó cũng quấn quanh cổ một cái băng vải bẩn thỉu và hay vắng mặt ở lớp. Có lẽ từ hồi đó, nó đă bắt đầu mắc phải bệnh lao rồi. Thấy bọn học sinh giỏi trong lớp ra vẻ khinh miệt nó và nó cũng không có bao nhiêu bạn bè, tôi bèn t́m đến làm thân. T́nh cảm muốn kết bạn với một người như nó có thể xem như phản ứng nổi loạn của tôi trước lối cư xử quá nghiêm khắc của mẹ ḿnh. Lần đầu tiên khi được Tamura dạy cho hút thuốc lá, tôi đă cảm thấy ḿnh như vừa mắc phải một tội trọng. Đứng đằng sau chỗ tập bắn cung của nhà trường, nh́n trước nh́n sau coi có ai không, Tamura đă chậm răi rút từ trong túi bộ đồng phục một gói thuốc lá đă nhăn nhúm. -Mới hút lần đầu nên mầy chớ hút một hơi quá mạnh. Và nhớ thổi phù ra ngay! Tôi đang khổ sở với cái mùi hăng hắc làm ḿnh phát ho v́ nó kích thích cả mũi lẫn cuống họng, th́ cùng lúc, dưới riềm mi tôi, lại hiện ra khuôn mặt của mẹ ḿnh. Đó là khuôn mặt khi bà vừa bước ra khỏi giường giữa đêm đen rồi bắt đầu lần chuỗi mân-côi cầu nguyện. Như để đuổi cho khuất mắt cái h́nh ảnh đó, tôi lại nuốt khói vào sâu hơn nữa. Chuyện ghé vào rạp xi-nê trên đường từ trường về nhà, tôi cũng đă được Tamura tập tành cho. Tôi theo chân nó và nấp trong bóng tối để lén chui vào rạp Niban ở gần ga Nishinomiya trên đường xe điện Hankyuu. Nơi đó luôn luôn thoang thoảng một mùi thối tha từ nhà vệ sinh. Tiếng máy chiếu phim rè rè đơn điệu chen vào giữa tiếng ho của mấy người già và tiếng con nít khóc. Những lúc như vậy, tôi thường tự đặt câu hỏi là không biết mẹ tôi giờ này đang làm ǵ. -Tụi ḿnh về đi mầy! Tamura bị tôi thôi thúc măi nên phát cáu. -Thằng này sao mà ồn ào quá thể! Nếu mầy muốn th́ cứ về một ḿnh đi. Khi hai đứa tôi ra đến bên ngoài, chuyến xe điện Hankyuu chở đầy người vào giờ tan tầm vừa chạy ngang trước mắt. -Làm ǵ mầy sợ bà già mầy đến cỡ đó? Tamura lắc vai tôi và nói như chế diễu. “Cứ lựa lời khôn khéo giải thích cho bả nghe là được thôi mà!”. Sau khi chia tay với nó, tôi tiếp tục bước trên con đường vắng vẻ, thầm nghĩ không biết ḿnh sẽ đánh lừa mẹ cách nào. Thế mà ngay đến khi về tới nhà, tôi vẫn chưa nghĩ ra một câu nói dối nào cho thỏa đáng. -Con có giờ học thêm. Các thầy bảo cần chuẩn bị để thi vào trường cấp trên. Tôi đă lấy hơi để tuôn ra một lèo lời giải thích đó. Thế rồi khi thấy mẹ ḿnh cứ tin vào đó không chút nghi ngờ, trong ḷng tôi bỗng dậy lên cùng lúc một nỗi đau đớn kèm thêm cái t́nh cảm thỏa thuê. Thành thực mà nói, lúc ấy tôi không có ḷng tin tôn giáo nào hết. Dù tuân theo mệnh lệnh của mẹ để đi nhà thờ nhưng tôi chỉ vờ vỉn làm mấy cử chỉ như chắp hai tay và cầu nguyện chứ thật ra tôi đang ở trong trạng thái lơ đăng và thường là suy nghĩ không đâu. Đầu óc tôi đang nhớ lại những “xen” trong mấy cuốn phim đôi khi tôi đă đi xem với Tamura cũng như mấy tấm ảnh đàn bà mà có một hôm nó đă dú dí cho tôi. Trong nhà nguyện, tôi chỉ bắt chước các tín đồ, lúc qú xuống, lúc đứng lên và cầu kinh theo cha xứ giống như cái máy khi ông cử hành lễ Misa. Tôi càng muốn khống chế bao nhiêu, những ư nghĩ vẩn vơ lại trào lên trong đầu bấy nhiêu như thể chúng muốn trêu ngươi tôi. Tôi thực không hiểu v́ cớ ǵ mẹ tôi lại theo cái thứ tôn giáo này. Tôi có cảm tưởng nội dung lời giảng của cha xứ cũng như những sự kiện chép trong Kinh Thánh, ngay cả cái thập tự giá kia đều là những chuyện xảy ra tự đời xửa đời xưa, chẳng liên hệ ǵ đến chúng tôi cả và tôi không thể nào cảm được chúng như những sự thực. Tôi thấy ḿnh nghi ngờ t́nh cảm của đám giáo dân đến ngày chủ nhật là tới đây nhóm họp, lúc vừa đằng hắng, lúc vừa nạt nộ bọn con nít, lại vừa chấp hai tay làm lễ. Đôi khi tôi có hối hận v́ lối suy nghĩ và con người của ḿnh, cảm thấy có lỗi với mẹ nên đă cầu xin rằng nếu có một Đức Chúa Trời, xin ngài hăy ban cho tôi một ḷng tin tôn giáo, nhưng dĩ nhiên, ngay khi mang t́nh cảm đó, ḷng tôi cũng chả có ǵ thay đổi. Về sau, lấy cớ là phải lo học để chuẩn bị th́ vào trường cấp trên, tôi không c̣n đi xem lễ Misa mỗi buổi sáng với mẹ nữa. Từ thời gian này, mẹ tôi đă bắt đầu có những cơn đau tim làm cho hồi hộp nhưng mỗi sáng mùa đông, bà vẫn một ḿnh đi đến nhà thờ. C̣n tôi th́ nằm ĺ trong giường và không mảy may xúc động khi nghe tiếng chân bà bước ra ngoài ngơ. Cuối cùng, ngay cả nghĩa vụ đi nhà thờ mỗi tuần một lần vào ngày Chủ nhật, tôi cũng bỏ bê nốt. Tôi lén nhà ra phố Nishinomiya từ thật sớm và ngay trước mũi của mẹ, đến một khu vực buôn bán mà măi lâu sau mới thấy có khách hàng tụ họp mua sắm. Tôi cứ đi thơ thẩn nơi đó, ngắm nghía mấy tấm bảng quảng cáo phim sắp chiếu của các rạp xi-nê cho hết ngày giờ. Dạo ấy, mẹ tôi bắt đầu than có triệu chứng như tức ngực, khó thở. Đôi khi đang đi ngoài đường, bà đă phải đưa một bàn tay lên chận lấy ngực, mặt th́ nhăn nhó v́ đau đớn và dừng bước đứng nguyên một chỗ. Thấy cảnh đó, tôi vẫn tỉnh như không. Một đứa con trai mới 16 tuổi nào đă tưởng tượng ra sự khủng khiếp của cái chết! Cơn đau tim của mẹ tôi chỉ là nhất thời, năm phút sau bà đă trở lại như cũ cho nên tôi đă cho rằng chứng bệnh này không có ǵ đáng lo. Thực ra là buồng tim của bà đă yếu đi dần sau một thời gian dài nếm trải nhiều lao khổ về tinh thần lẫn vật chất. Thế mà mỗi sáng mẹ tôi vẫn thức dậy vào lúc 5 giờ và lê bước ra ngoài lúc trên đường c̣n chưa có bóng người để đến ga Nishinomiya lấy tàu điện. Nhà thờ mẹ tôi thường xuyên lui tới vốn nằm ở một vị trí cách nơi đó hai ga. Có một sáng Chủ nhật, tôi không thể thắng được sự cám dỗ nên trên đường đến trường, nửa chừng tôi đă xuống xe và đến một khu phố tấp nập. Cặp sách th́ tôi đă nhờ người ở quán cà phê quen biết từ lúc tôi và Tamura bắt đầu lui tới đó giữ hộ rồi. Hăy c̣n khá nhiều thời gian trước giờ rạp xi-nê mở cửa. Tuy trong túi tôi có tờ giấy bạc 1 Yen[28] nhưng đó là món tiền mà mấy hôm trước, tôi đă lấy trộm từ ví của mẹ. Tôi vẫn thường có thói quen lục ví bà ra xem. Tôi đă ngồi coi phim cho đến chiều tối và khi về đến nhà, cố giữ bộ mặt điềm nhiên, làm như ḿnh chả biết ǵ. Không ngờ là vừa khi mở cửa gian tiền sảnh, tôi đă thấy mẹ đứng đó. Bà không nói ǵ, chỉ đưa mắt nh́n tôi đăm đăm.Thế rồi khuôn mặt đó từ từ méo mó đi, và trên g̣ má đă lệch lạc ấy, có những giọt nước mắt từ từ lăn xuống. Tôi biết ngay là nhà trường đă phác giác và điện thoại báo tất cả tin tức về tôi cho bà hay rồi. Đêm hôm ấy, tôi nghe tiếng thút thít của bà ở pḥng bên cạnh măi đến thật khuya. Tôi đă cố t́nh nút ngón tay vào lỗ tai để khỏi phải nghe tiếng khóc ấy nhưng nó vẫn truyền đến và làm rung màng nhĩ. Tuy vậy, thay v́ hối hận việc ḿnh làm, tôi chỉ muốn t́m cách thoát ra khỏi t́nh trạng hiện tại. *** Tôi được anh Jirô đưa tới cơ quan hành chánh của đảo. Trong khi tôi đang đứng xem mấy món đồ họ khai quật được th́ kính cửa sổ đang trắng ra. Ngước mắt nh́n lên, mới biết cơn mưa dai dẳng đă bắt đầu tạnh. -Nếu ḿnh mời Sensei qua bên trường học, chắc thầy có thể thấy thêm ít món đồ nữa ấy nhỉ? Ông trợ tá có tên là Nakamura đặt câu hỏi, vẻ mặt ra chiều lo lắng. Làm như ở trong vùng này, có khi chỉ v́ một chuyện không đâu, người ta tỏ vẻ như ḿnh là người phải gánh trách nhiệm. Những hiện vật có ở công sở cũng như trường học đều không phải là di tích của người Kakure mà tôi đang chờ đợi. Bên trường tiểu học chỉ có vài mảnh vỡ của b́nh gốm thời thượng cổ mà các thầy giáo ở đó đă đào lên được. -Thế không có mấy di vật của họ như chuỗi mân côi hay thập tự giá hay sao ông? Một lần nữa ông Nakamura lại lắc đầu một cách sợ sệt: -Mấy người Kakure vốn thích dấu diếm. Nếu thầy không đi đến chỗ họ để hỏi trực tiếp, tôi thấy khó ḷng. Nhưng đám đó lại sống chui rúc trong hốc núi nên mới khổ. Cũng như trường hợp anh Jirô, lời lẽ của ông Nakamura khi đả động tới những người Kakure, tôi thấy đều biểu lộ một sự khinh miệt. Anh Jirô sau khi ra ngoài xem thời tiết thế nào đă quay trở lại và lên tiếng mời mọc: -Coi bộ trời tốt trở lại rồi. Nếu ngày mai ḿnh đi chắc không có vấn đề. Thế th́ từ giờ thầy có muốn ra ḥn Iwajima (Nham Đảo) hay đâu đó để ngắm cảnh không? Thực ra hồi năy khi đến viếng ngôi mộ của người Kirishitan, tôi đă gợi ư với anh xem có cách nào ra thăm Nham Đảo được không?
Mẹ Maria-Quan Âm người Kakure Kirishitan thờ phượng
Ông trợ tá Nakamura bèn gọi điện thoại cho Hợp Tác Xă Ngư Nghiệp. Họ cho biết là trong trường hợp này và chắc là phù hợp với nhu cầu của cơ quan hơn cả, là họ sẽ cho chúng tôi mượn một chiếc ghe máy của Hợp Tác Xă. Áo dùng để đi mưa th́ tôi đă mượn đỡ của Nakamura-san một cái Capa[29] bên ngoài có tráng lớp nhựa cao su. Kể thêm Jirô-san nữa th́ thành một bộ ba, chúng tôi cùng nhau ra bến tàu. Đến nơi mới thấy một ngư dân đă chuẩn bị sẵn chiếc ghe máy cho bọn tôi rồi. Tuy ông ta có lót một manh chiếu lát lên tấm ván ướt cho chúng tôi ngồi nhưng bên dưới chân lại đọng đầy nước bẩn. Trong vũng nước bẩn ấy, tôi thấy cái xác chết màu sáng bạc của một con cá con đang nổi lềnh bềnh. Khi động cơ mới rú lên và chiếc ghe c̣n chưa ra đến vùng biển động, tôi đă cảm thấy mỗi lúc thân h́nh ḿnh càng bị lắc lư dữ dội. Lúc ghe lướt lên ngọn sóng, tôi có đôi chút khoan khoái nhưng khi nó rơi xuống, tôi thấy như có ai đang bào gan thắt ruột ḿnh. -Nham Đảo là một nơi câu cá tốt lắm đấy! Bọn tôi hễ có ngày nghỉ là ra đấy câu. Không biết thầy có thường đi câu cá không ạ? Khi thấy tôi lắc đầu th́ ông Nakamura nh́n tôi như nh́n một người đang muốn phá bĩnh rồi quay sang khoe khoang với ông ngư dân và anh Jirô thành tích ḿnh đă có lần câu được ở đấy một con trắm đen (kurodai) to khủng khiếp. Cái Capa bị bọt nước nước bắn lên đến ướt rượt, lại thêm gió biển thổi rát mặt làm tôi phải ngồi im tự năy giờ. Thêm vào đó, cho đến khoảng biển này, nước chỉ xám như ch́ nhưng kể từ đây, nó đă đổi qua màu đen và lại c̣n lạnh buốt. Đầu óc tôi nghĩ đến những tín hữu cách đây bốn thế kỷ đă bị trói thành xâu và ném xuống biển. Nếu lỡ sinh ra vào thời đại đó, tôi e rằng ḿnh không đủ tự tin để hứng chịu những cực h́nh như thế. Bất chợt tôi nghĩ đến mẹ ḿnh. H́nh ảnh cái thời đi lang thang trong những khu phố tấp nập của Nishinomiya hay đặt điều dối mẹ...thi nhau sống lại trong kư ức của tôi. Chúng tôi đă đến gần đảo. Đúng như cái tên Nham Đảo của nó, trên đó toàn là đá và đá. H́nh như chỉ ở mấy đỉnh núi mới có dăm bụi cây c̣i là sống nổi. Hỏi thăm ông trợ tá, tôi mới biết nơi đây chỉ có nhân viên Bộ Bưu Chính và Viễn Thông lâu lâu mới đến kiểm tra đo đạc và đảo chỉ được mỗi một ích lợi là làm chỗ cho dân trong vùng đến câu cá. Độ chừng mươi con chim với cái giọng khàn khàn vừa cất tiếng kêu vừa bay lượn trên mấy đỉnh của ḥn đảo. Tiếng kêu của chúng như đang muốn xé rách cái bầu trời xám xịt đầy hơi nước. Những chỗ lồi lơm nơi vách nứt của ghềnh đá bắt đầu hiện ra trước mắt tôi. Ngọn sóng đánh vào nơi đó đă tạo nên những âm thanh bi tráng và làm bắn tung bọt nước trắng xóa. Tôi hỏi thăm người trên ghe xem đâu là cái bức vách thẳng đứng chỗ ngày xưa các giáo đồ từng bị xô xuống biển nhưng ông ngư dân lẫn ông trợ tá đều nói là không biết. Chắc không phải chỉ có một cái vách nhất định nào v́ chỗ nào trên ḥn đảo này, tôi đều thấy có khả năng ném xuống từ đó.. “Chỉ nghĩ đến thôi mà cũng đă khiếp vía1” “Thời nay có ai dám tin chuyện như thế từng xảy ra đâu!” Tuy nhiên, tôi có cảm tưởng những ư tưởng ám ảnh tôi tự năy giờ chưa một lần nào hiện ra trong đầu Jirô-san và ông trợ tá dù họ là hai tín đồ Cơ Đốc. -Cái hang này coi bộ lắm dơi đấy nhỉ? Mới đến gần một chút mà đă nghe những tiếng kêu “chii chii” của chúng. -Quái thật. Lũ dơi này bay nhanh khủng khiếp nhưng chả bao giờ thấy chúng va chạm vào đâu cả. Làm như trong người chúng đă gắn sẵn máy ra-đa (radar). -Ḿnh xem sơ sơ đủ một ṿng rồi quay về nghe Sensei! Những ngọn sóng hung bạo như muốn cắn vào mặt sau của ḥn đảo. Mấy đám mây nặng nề hơi nước rồi cũng tách ra, giúp cho tôi bắt đầu nh́n được rơ hơn khúc giữa của những ngọn núi nằm trên đảo. -Làng của người Kakure ở chỗ kia ḱa. Ông trợ tá Nakamura đưa tay trỏ về hướng bên kia núi, đúng cái chỗ mà cha xứ tối hôm qua đă chỉ cho tôi. -Bây giờ, tín đồ Kakure bắt đầu đi lại với mọi người rồi chớ ǵ? -Vâng, có th́ cũng có đấy! Một người đă đến giúp việc chân tay cho trường tiểu học. Này, cái ông Shimomura kia, đúng là dân Kakure đấy chứ? Dù sao, tính nết ông ấy có hơi lạ. Nói chuyện với ai cũng không ăn khớp. Theo lời hai ông cho biết, giáo dân Cơ-Đốc trong vùng vẫn thường tỏ ra do dự khi giao tiếp hay phải chọn vợ chọn chồng trong cộng đồng người Kakure. Lư do không đến từ việc tôn giáo khác nhau nhưng từ những rào cản hay đối lập có tính cách tâm lư. Cho đến ngày nay, người Kakure vẫn tổ chức hôn lễ giữa họ v́ họ nghĩ nếu không làm như thế sẽ không ǵn giữ được giềng mối đạo nhà. Tập quán nầy đă khiến cho họ bị xem là một đám người đặc biệt, không giống ai. Trên lưng chừng những ngón núi vây bọc bởi lớp khói sóng mơ hồ ấy, suốt ba trăm năm, những người Kakure Kirishitan nói chung cũng như các nhóm Kakure ẩn náu trong những thôn xóm biệt lập khác đă đặt ra những chức vụ trong thôn như O-mizuyaku (Người tắm nước), Hariyaku (Người canh chừng), Okuri-yaku (Người đưa đón), Toritsugi-yaku (Người giao liên) để tuyệt đối ngăn cản bí mật của tổ chức không được ṛ rỉ ra ngoài. Từ ông truyền qua cha, từ cha truyền qua con, đời đời nối tiếp họ ǵn giữ những bản Orashio (Oratio, Lời khấn nguyện)[30] trong các gian nhà kho u tối và cũng là nơi họ sẽ cử hành mọi thứ lễ lạc ǵ ǵ đó. Tôi cũng cảm thấy các thôn làng sống cô lập thường toát ra một cái ǵ hoang vắng thê lương nên đă đưa mắt xem kỹ phần lưng chừng của những ḥn núi ấy. Dĩ nhiên từ nơi đó, đă không có ǵ khả dĩ khiến tôi chú ư. -Sao Sensei lại tỏ ra thích thú với bọn người dở hơi đó làm chi vậy? Ông trợ tá có lẽ lạ lùng về thái độ của tôi nên đă đặt câu hỏi nhưng tôi chỉ đưa ra một câu trả lời để cho qua chuyện. *** Được một ngày mùa thu quang đăng, tôi mua bó cúc để đi tảo mộ mẹ. Mộ của mẹ tôi nằm trong nghĩa trang Công giáo ở Fuchuu[31].Tôi đă đi đi lại lại trên con đường đưa vào khu mộ địa này không biết bao nhiêu lần từ khi c̣n là một sinh viên Ngày xưa, hai bên đường là những lùm cây dẻ, cây sồi và những cánh đồng lúa mạch trải rộng. Vào mùa xuân, đó là một nơi rất thú vị để tản bộ. Ngày nay đă có những tuyến xe buưt chạy thẳng vào nghĩa trang và nhiều hàng quán được cất lên, sắp thành hàng bên nhau. Ngay cả tiệm bán đồ đá (sekiya) xưa kia giống như một túp lều con trơ vơ bên đường nay đă biến thành một ngôi nhà hai tầng. Mỗi lần đi ngang qua đây, từng h́nh ảnh một của thời đó đă sống lại trong tôi. Hôm tốt nghiệp đại học, tôi đă đi thăm mộ. Ngày trước khi đáp tàu thủy sang Pháp du học, tôi cũng tới đây. Lúc v́ bệnh hoạn phải trở về nước th́ ngay hôm sau khi vừa đặt chân lên đất Nhật, việc đầu tiên tôi làm là chạy bay tới chỗ này. Rồi khi kết hôn cũng như trước những lần nhập viện, tôi không bao giờ quên ghé thăm ngôi mộ của mẹ tôi. Ngay bây giờ, nhiều khi tôi không cho cả vợ tôi hay mà lẳng lặng làm một cuộc hành hương đến đó. Đây là nơi tôi từng trao đổi những mẩu đối thoại với mẹ mà tôi không thể tiết lộ nội dung cho một người thứ ba. Trong đáy ḷng ḿnh, tôi vẫn giữ cái t́nh cảm là không để cho những kỷ niệm của bà bị ai đó nhơn nhơn xúc phạm, dù họ là những người thân yêu nhất của tôi. Qua hết một con đường nhỏ, tôi đă bước vào khu vực nghĩa trang, nơi có một bức tượng Đức Mẹ dựng ở trung tâm. Xung quanh tượng là một dăy bia được sắp đặt ngay ngắn li lai, đó là nơi chôn cất những vị nữ tu đă gửi nắm xương tàn trên đất Nhật. Chính giữa khu vực có những cây thánh giá màu trắng với các ngôi mộ xây bằng đá. Ánh sáng của vầng thái dương và một bầu không khí tĩnh mịch bao trùm lên trên toàn bộ khu vực. Mộ của mẹ tôi chỉ nhỏ bé thôi. Khi nh́n những phiến đá quá đỗi nhỏ nhoi ấy, ḷng tôi không khỏi đau đớn. Tôi nhổ mớ cỏ dại mọc chung quanh mộ. Trong khi làm việc, lũ côn trùng vo ve và bay chung quanh tôi. Ngoài tiếng đập cánh của chúng, hầu như không có một âm thanh nào khác. Tôi vừa cầm gáo tưới nước lên phần mộ mẹ tôi, và cũng như mọi lần, suy nghĩ về cái cảnh hôm bà qua đời. Đó là một kỷ niệm vô cùng cay đắng đối với bản thân tôi. Bà đă bất ngờ bị nhồi máu cơ tim rồi ngă gục ngoài hành lang. Trong lúc bà thở hơi cuối cùng, tôi đă không có mặt. Tôi đang ở nhà Tamura và làm những chuyện hỡi ơi mà nếu mẹ tôi thấy, bà sẽ không sao cầm nổi nước mắt. Lúc bấy giờ, Tamura đang rút ra từ ngăn kéo của nó một mớ thiệp gói trong giấy báo.Thế rồi, cũng như mọi lần, khi thầm th́ chỉ vẻ cho tôi một điều ǵ, mặt nó lúc nào cũng nở một nụ cười tinh quái: -Đây là thứ “xịn” không phải đồ lùi xùi đâu nhé bạn! Trong bọc giấy báo ấy có đến ít nhất mười bức ảnh như vậy. Có lẽ v́ nước rửa ảnh thuộc loại xấu nên màu xanh lục đă biến thành màu vàng. Ảnh có chỗ lộ ra cái thân thể đen đen của một người đàn ông và trăng trắng của một người đàn bà đang nằm chồng lên nhau. Đôi mi của người đàn bà nhíu lại ra chiều khổ sở. Tôi vừa nén thở vừa lật từng cái một xem đi xem lại không biết bao lần. -Thằng dê con. Sao, mầy coi đă sướng mắt chưa? Bỗng có tiếng điện thoại reo. Chân ai đó đang lúp xúp chạy ra bắt máy rồi quay lại phía này. Tamura vội vàng đem mấy tấm ảnh đó nhét lại trong ngăn kéo. Có tiếng đàn bà gọi đúng tên tôi. -Cậu mau mau mà về. H́nh như mẹ cậu th́nh ĺnh bị tai biến đấy. Tamura hỏi thăm: -Sao vậy mầy? -Tao đâu có biết. Chính ra mắt tôi vẫn c̣n đang dán vào cái ngăn kéo: -Không hiểu sao bả lại biết được là tao đang ở nhà mầy? Tôi chỉ lo mỗi việc tại sao mẹ tôi lại biết là tôi đang ở đây chứ không nghĩ ǵ đến căn bệnh đột biến của bà. Từ khi biết bố của Tamura đang kinh doanh một cái nhà thổ, bà đă triệt để ngăn cấm tôi đến chơi với con trai ông ta. Vả lại, mấy lúc sau này mẹ tôi thường nằm liệt giường v́ những cơn đau tim, nếu bà bị đột quị như vậy, tất không có ǵ đang lấy làm lạ. Lần trước, nhờ có một vị bác sĩ mà tôi quên tên đă kê đơn cho một loại thuốc viên màu trắng mà bà tỉnh táo trở lại. Tôi vẫn lững thững bước trên những con hẻm ngập nắng nằm đằng sau phố phường. Trên một miếng đất có treo bảng “Đất Bán” có những đống sắt rỉ đang để ngổn ngang. Nằm cạnh đó là một xưởng máy trong xóm. Không hiểu trong cái xưởng đó người ta đang đập cái ǵ mà lại vọng ra những âm thanh đều đặn và chát chúa. Một anh đàn ông đạp xe đạp từ phía đó đến và bắt đầu đứng tiểu tiện lên đám cỏ dại đầy bụi rác mọc trên khu đất trống.
Tượng kỷ niệm đặt nơi xưa kia người Kakure ẩn náu Tôi vừa thấy ngôi nhà của ḿnh hiện ra trước mắt. Không có ǵ khác ngày thường. Cũng như mọi hôm, cánh cửa sổ pḥng tôi vẫn để mở nửa vời. Đằng trước nhà, lũ con nít hàng xóm đang nô đùa. Mọi sự vẫn yên ổn và tôi không thấy dấu hiệu của một biến cố nào vừa xảy ra cả. Trước gian tiền sảnh chỉ có vị linh mục của giáo phận đang đứng[32]: -Mẹ của cháu....vừa mới mất lúc năy. Ông thông tin cho tôi một cách trầm tĩnh và phát âm rơ rệt từng tiếng một. Đó là giọng nói của một người muốn đè nén t́nh cảm đang trào dâng trong ḷng. Trong câu nói ấy, ngay cả một đứa học tṛ trung học ngốc nghếch như tôi vẫn có thể hiểu một cách rơ ràng là nó có ngầm chứa một sự mỉa mai. Giữa gian pḥng tám chiếu sâu trong nhà nơi đặt di thể của mẹ tôi, người cḥm xóm và tín hữu của giáo hội đang ngồi vây quanh và đầu cúi thấp. Không có lấy một người quay lại nh́n và cũng không ai nói câu nào với tôi. Tôi hiểu ngay là tất cả những cái lưng cứng nhắc ấy đang chĩa sự phê phán của họ vào tôi. Mặt của mẹ tôi đă trắng bệt như sữa. Phần giữa đôi mi c̣n đọng lại dấu vết của sự thống khổ. Tôi thật là kẻ không biết hối cải chút vào v́ ngay lúc ấy, cái chợt hiện ra trong đầu tôi là dáng dấp và biểu cảm của người đàn bà nằm trong bức ảnh tối tăm nọ. Lúc này, lần đầu tiên tôi mới ư thức được những ǵ ḿnh đă làm cho tới nay và bật khóc. Tôi vừa tưới hết nước trong thùng gổ và đặt bó cúc vào chỗ cắm bên phiến đá ngôi mộ xong th́ lũ côn trùng hồi năy vừa vo ve quanh tôi đă bay tới bên cạnh khóm hoa. Đất nơi tôi đem chôn thân xác của mẹ là loại đất màu đen đặc biệt của vùng b́nh nguyên Musashino[33]. Ngày nào đó, có lẽ rồi tôi cũng sẽ được chôn cất ở đây. Một lần nữa, giống như thời niên thiếu, hai mẹ con tôi sẽ có cơ hội hủ hỉ với nhau thôi. *** Ông trợ tá của anh Jirô vừa đặt câu hỏi tại sao tôi thích t́m hiểu về người Kakure như vậy và hồi năy tôi đă đưa ra một câu trả lời cho qua chuyện. Thực ra th́ dạo này, người có hứng thú t́m hiểu về đám Kakure mỗi lúc mỗi đông thêm. Những nhà nghiên cứu về Tôn giáo học đối chiếu cho rằng câu chuyện về họ sẽ là tài liệu quí giá khi phải bàn tới hiện tượng những tôn giáo bí mật gọi là Hắc giáo (Hidden religions). Không chỉ có NHK là đài phát sóng đă đưa những phim truyền h́nh nói về họ mà trong số các nhà truyền giáo ngoại quốc quen biết với tôi, khi đến Nagasaki, không ít người đă đôn đáo t́m hiểu về họ. C̣n như đối với tôi th́ hứng thú của việc t́m hiểu người Kakure chỉ đến từ một lư do duy nhất. Đó là việc họ vốn là con cháu của những người bội đạo (haishinsha, korobimono)[34].Nhưng hơn thế nữa, đám con cháu này cũng như cha ông họ, đă không thể bội đạo một cách hoàn toàn. Suốt đời, họ đă phải chọn một cách sống dối trá và biết đánh lừa, sống trong hối hận đồng thời tiếp tục mang mặc cảm phạm tội cũng như những t́nh cảm khuất nhục. Kể từ lúc sử dụng bối cảnh thời đại Kirishitan làm khung cho một cuốn tiểu thuyết, tôi bắt đầu bị lôi cuốn bởi cuộc đời của đám con cháu những người bội đạo này. Họ phải nói dối với người khác, nhất định không bao giờ hé lộ điều ḿnh thực tâm suy nghĩ, suốt đời luôn luôn sống bằng hai bộ mặt. Trong đám người Kakure sống như vậy, nhiều khi tôi cảm thấy có cả h́nh ảnh của ḿnh. Cho đến nay, tôi cũng có mang những điều ḿnh không thể thốt ra bằng lời cũng như một bí mật nào đó mà có lẽ tôi sẽ giữ rịt cho đến ngày chết. Tối hôm ấy, tôi đă uống rượu với cha xứ, anh Jirô lẫn ông trợ tá. Hôm sau, vào giờ cơm trưa, bà nữ tu đóng vai hầu bàn đă mang tới cho chúng tôi một cái đĩa thật to sắp đầy những múi cầu gai (uni, urchin) và bào ngư sống. Rượu nấu ở địa phương (jisake) lại quá ngọt (amakuchi) cho một người chỉ biết uống loại rượu cay (karakuchi) như tôi nên thật là tiếc. Tuy vậy cầu gai ở đây rất tươi làm cho món tôi từng nếm được ở Nagasaki hóa ra là đồ đă bị để lâu. Cơn mưa vừa tạnh nay nhỏ giọt trở lại. Anh Jirô đă say mèm, bắt đầu cất tiếng hát:
Nào, hăy đi thôi, ta hăy đi thôi. Tôi có biết bài hát này. Bởi v́ hai năm trước, khi lên đường đi Hirado, một tín hữu ở đó đă dạy nó cho tôi.Tuy tôi v́ không nắm vững nhạc điệu cho nên không nhớ được nhưng hôm nay qua tiếng ca như chất chứa nỗi niềm của anh Jirô, gương mặt u ám của những người Kakure dường như đang trôi bồng bềnh trước mắt tôi. Đó là những khuôn mặt với g̣ mà nhô ra và hốc mắt lơm sâu, đăm đăm nh́n về một điểm nào đó. Trong thời gian bế quan tỏa cảng, có lẽ đó là những bài mà họ đă cất lên với tiếng ca nho nhỏ, mỏi ṃn chờ đợi con thuyền của những nhà truyền giáo mà nhất định sẽ không bao giờ có cơ hội cập bến nữa. -Ông Takaishi trên núi Fudô vừa chết mất con ḅ. Một con ḅ cái tốt lắm đấy! Cha xứ không c̣n một vẻ ǵ là con người mà tôi đă gặp trong buổi tiếp tân trên Tôkyô. Chỉ cần một be sake nhỏ là ông đă đỏ rực từ đầu đến cổ và nay ông đang ngồi tṛ chuyện với ông trợ tá Nakamura. Hôm nay trọn một ngày, h́nh như cả đức cha lẫn anh Jirô đều đă vứt bỏ cái nh́n xem tôi như một người xa lạ. Tự nhiên, tôi đâm ra có cảm t́nh tốt đẹp với cái ông cha xứ mà giống như một anh nông dân và hoàn toàn khác với các vị chức sắc nhà ḍng tính t́nh kênh kiệu ở Tôkyô. -Thưa cha, trên núi Fudô có người Kakure sống không ạ? -Không đâu thầy! Ở đó tất cả đều là tin đồ thuộc giáo phận của tôi. Cha xứ trả lời với một vẻ tự hào. Cả anh Jirô lẫn ông trợ tá đều gật đầu một cách trịnh trọng để tán thành câu nói. Đây là chuyện tôi mới nghĩ ra từ hồi sáng nhưng đúng là hai người này đều có mang t́nh cảm khinh miệt đối với cộng đồng Kakure. Họ giống như hai kẻ đứng trên cao nh́n xuống. -Biết làm sao bây giờ hở thầy. Mấy người đó không có điểm chung nào với chúng tôi. Họ hành động như thành viên của một hội kín. Tuy nhiên, tôi thấy người Kakure ở các đảo như Goto hay Ikitsuki đă có thái độ bớt khép kín so với những đồng bọn của họ đang sống trên ḥn đảo này. Ở đây, ngay những tín đồ Cơ đốc cũng cảnh giác về chủ nghĩa bí mật của người Kakure. Tuy vậy, tôi biết cả Jirô-san và Nakamura-san đều có mang phần nào ḍng máu Kakure từ tổ tiên của họ nhưng lại lấy làm quái là bây giờ, họ không hề tỏ ra một thái độ châm chước nào đối với quá khứ của ḿnh. -Này, các ông, họ thờ ai thế nhỉ? -Thờ ai à? Có thờ chứ! Nhưng họ hoàn toàn không c̣n là tín đồ Cơ Đốc chính tông nữa. Như vừa bị dồn vào thế khó, cha xứ đành thở dài đánh sượt rồi nói tiếp:. -Một h́nh thức mê tín dị đoan thôi! Tôi lại được nghe thêm một câu chuyện thú vị. H́nh như là trong khi tín đồ Cơ Đốc Giáo (Catholics) mừng các lễ Giáng Sinh và Phục Sinh theo Tây Lịch th́ người Kakure lại âm thầm tổ chức các lễ ấy theo Âm Lịch. -À, có hôm khi tôi leo núi, t́nh cờ thấy người Kakure đang tụ tập. Về sau mới hay là hôm đó họ đă lén lút cử hành lễ Phục Sinh. Sau khi anh Jirô và ông Nakamura rời đi, tôi đă trở về pḥng. Có lẽ v́ uống rượu, đầu tôi nóng bừng nên phải mở cửa sổ và thấy bên ngoài có tiếng sóng kêu to như ai đang đánh trống. Bóng tối vừa sâu thẳm vừa trải rộng. Tôi nghĩ là những âm thanh của biển cả đă làm cho bóng tối và sự tĩnh mịch ở đây càng sâu thêm. Cho đến nay tôi đă ngủ trọ ở nhiều nơi nhưng chưa bao giờ đứng trước một bóng đêm sâu không thấy đáy như ở đây.
Di tích nhà thờ thời Kirishitan với phong cách kiến trúc hỗn hợp Âu Á
Cảm giác trong ḷng tôi bỗng dạt dào khi nghĩ đến những người Kakure từ bao nhiêu năm tháng từng nghe tiếng sóng này và nh́n bóng đêm đen như tôi hôm nay. Họ là con cháu của những kẻ sa ngă đă vứt bỏ tôn giáo của ḿnh chỉ v́ sự yếu đuối của xác thịt và nỗi sợ hăi khi đứng trước cái chết. Bị đám sai nha và tín đồ Phật giáo khinh miệt, họ phải dời nhà qua quần đảo Goto, Ikitsuki hay ra tận ḥn đảo này để sống. Ấy thế mà họ không thể nào bỏ được giáo nghĩa tổ tiên đă dạy. Dù sao, nói cho công bằng, họ cũng không đủ can đảm đứng ra hiên ngang bảo vệ niềm tin tôn giáo của cha ông như các vị tử đạo đời xưa. Người Kakure chỉ biết cắn răng nén lấy nỗi hổ thẹn đó vào ḷng để kéo dài sự sống cho đến ngày nay. G̣ má nhô cao, cặp mắt lơm sâu với cái nh́n lúc nào cũng như qui về một chỗ, những đặc điểm thấy trên khuôn mặt họ là do nỗi hổ thẹn thâm niên đó tạo thành qua thời gian. Cả bốn, năm người cư dân bản địa đi chung chuyến phà với tôi hôm qua, cả anh Jirô lẫn ông Nakamura, trợ tá của anh, đều có chung một khuôn mặt. Và trên khuôn mặt đó, lắm lúc tôi thấy phảng phất một vẻ trí trá lẫn nhút nhát chen vào. Tổ chức của người Kakure ở vùng Goto và Ikitsuki so với nơi đây lại có đôi chỗ khác nhau. Người đóng vai cha xứ có chức danh là Hariyaku (Người canh pḥng) và c̣n được gọi là Yajiyaku (Ông trùm họ). Tất cả nhóm Kakure đă nhận bài cầu nguyện (Oratio) từ Ông trùm đó rồi giữ ǵn cẩn thận và đem ra truyền lại cho thế hệ sau vào những dịp tế lễ quan trọng. Người phụ trách tẩy lễ (phép báp-têm) cho những đứa trẻ sơ sinh là cái ông lo việc nước nôi, tắm táp (Mizukata, Người lo nước). Tùy theo vùng mà Yajikata có thể kiêm nhiệm luôn chức Hariyaku hay không. Ngoài ra, phần lớn những người mang chức phận này đă truyền nó lại cho con cháu của họ theo kiểu thế tập. Có khi chỉ cần năm hộ là có thể làm thành một tổ chức như vậy và thí dụ này tôi đă từng được thấy ở địa phương Ikitsuki. Khi đứng trước mặt đám nha lại, dĩ nhiên là người Kakure thường đội lốt tín đồ Phật giáo. Họ cũng ghi danh trên danh bạ (gọi là Shuumonchô[35]) ở một ngôi chùa họ được chính quyền chỉ định phải qui thuộc (gọi là Dannadera). Có những thời kỳ - giống như tổ tiên - họ đă phải đưa chân dẫm lên thánh giá (fumie) trước mặt đám nha lại. Hôm bị bắt buộc làm hành động ấy, khi quay về xóm, họ đă cắn răng tự trừng phạt cái tội hèn nhát và đáng khinh của ḿnh bằng cách dùng một món đồ bằng thừng tên là O-tenpensha mà họ tự bện lấy để quất lên người. Tên O-tenpensha vốn đến từ Teshiperina trong tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là cái roi (muchi). Hồi ở Tôkyô, khi đến nhà của một học giả chuyên môn nghiên cứu về người Kirishitan, tôi đă có dịp nh́n thấy cái roi O-tenpensha ấy. Đó là một bó giây thừng gồm 46 sợi. Trên thực tế, khi thử đánh vào cổ tay ḿnh, tôi thấy nó cũng đau ra phết. Nhưng người Kakure c̣n dùng nó để đánh cả lên người cơ. Tuy vậy, sự tự trừng phạt đó không đủ để làm họ hết bị giày ṿ bởi mặc cảm phạm tội. Sự nhục nhă và bất an của một kẻ phản bội không dễ ǵ biến mất. Những đôi mắt của bạn bè đă tử đạo cũng như của các nhà truyền giáo từng buông lời trách mắng nghiêm khắc vẫn c̣n nh́n họ đăm đăm từ một chốn xa xôi nào đó. Dù muốn đuổi cho được những ánh mắt chê cười ấy, họ cũng không thể làm. V́ vậy, nội dung bài cầu kinh (Oratio) của họ có những đoạn không giống những ǵ thấy trong bản dịch lời cầu kinh của Cơ Đốc Giáo hiện đang lưu hành bởi v́ nó chỉ là một chuỗi câu chữ đặt bên nhau một cách không rơ ràng nhưng phảng phất một nỗi buồn, và sau rốt là những lời cầu xin được tha thứ. Nó đă ra đời từ những lời cầu nguyện th́ thầm chất đầy tủi hổ của nhóm người Kakure v́ mù chữ đă phải lúng búng phát âm từng tiếng một. “Thánh mẫu Maria, Mẹ của Chúa, xin hăy tha thứ cho chúng con là kẻ có tội....hôm nay cũng như trong giờ lâm tử...” “Chúng con đang cầu xin Mẹ, đang khóc lóc thở than trong thung lũng đầy nước mắt này...Mẹ hăy đoái hoài tới chúng con và nh́n chúng con bằng đôi mắt đầy thương xót của ngài”. Trong bóng đêm, khi lắng nghe tiếng sóng vỗ ́ ầm, trong ḷng tôi bỗng hiện ra h́nh ảnh những người Kakure mà có thể là mỗi ngày sau khi xong công việc đồng áng hay ra biển về nhà đă th́ thầm khấn khứa những lời được chép trong phiên bản Oratio ấy. Họ chỉ c̣n biết mong chờ vị thánh mẫu sẽ chấp nhận những lời cầu xin và tha thứ cho những yếu đuối ươn hèn của thân xác họ. Nhưng v́ sao thế? Chỉ v́ đối với người Kakure, Đức Chúa Trời (Deus) là một hiện hữu giống như vị cha nghiêm khắc nên họ phải hướng những lời cầu xin ấy về phía Đức Mẹ (Santa Maria) v́ người là một bà mẹ. Và nó đă làm cho tôi nghĩ là nếu tín ngưỡng Maria mạnh mẽ đến như vậy và nếu họ lại đặc biệt sùng bái Maria-Quan Âm, chắc hai việc ấy chỉ có thể đến từ lư do trên. Tôi trở vào giường nằm nhưng không thấy buồn ngủ. Cuộn ḿnh trong lớp chăn mỏng, tôi định cất tiếng hát nho nhỏ bài ca hồi năy anh Jirô vừa mới dạy cho nhưng vô ích v́ không c̣n nhớ được chữ nào cả. *** Tôi nằm chiêm bao. Trong giấc mơ, h́nh như đó là lúc tôi vừa được giải phẫu xong và người ta mới chuyển tôi về pḥng, Họ đặt tôi lên giường nằm như một cái thây chết. Họ thông lỗ mũi tôi với cái b́nh chứa dưỡng khi bằng một ống cao su. Cả cánh tay mặt lẫn chân mặt của tôi đều có kim đâm vào. Lư do là bên giường của tôi có treo một b́nh dung dịch huyết và người ta đang truyền máu cho tôi. Dù tôi chỉ ư thức có phân nửa thôi nhưng vẫn biết cái bóng mờ mờ xam xám đang nắm lấy tay tôi là ai. Đó là mẹ tôi. Ngoài mẹ tôi ra, không thể có ai khác. Lúc đó, trong pḥng bệnh không thấy bóng một bác sĩ, ngay cả vợ tôi cũng không có mặt. Mẹ không chỉ hiện ra cho tôi trong những giấc chiêm bao mà thôi. Khi leo lên cầu vượt để băng qua đường một buổi chiều tối, bất chợt tôi nh́n thấy h́nh ảnh mẹ hiện ra trên khung trời mây giăng. Đang tṛ chuyện với mấy người con gái trong quán rượu, lúc câu chuyện nửa chừng đứt quăng và cảm thấy có một sự trống vắng vô nghĩa băng ngang qua ḷng ḿnh, đột nhiên tôi ư thức sự hiện diện của mẹ ở bên cạnh. Ngay cả giữa đêm khuya, khi đang g̣ lưng trên bàn làm việc, tôi bỗng có linh cảm là bà đang đứng đằng sau. H́nh như bà đang theo dơi chuyển động của ng̣i bút tôi viết từ phía sau lưng. Thực ra mỗi khi ngồi vào bàn viết, dĩ nhiên tôi tuyệt đối không để cho con trai ḿnh cũng như bà vợ bước vào thư trai. Thế mà, kỳ lạ thay, nếu như mẹ tôi có đó, tôi sẽ không xem bà là kẻ quấy rầy và cũng không hề cảm thấy bực bội. Vào những lúc ấy, h́nh ảnh của mẹ tôi không phải là một người đă liên tục kéo cây mă vĩ để cố sức đi t́m một âm tố mà ḿnh mong muốn và cũng không phải là người nữ tín đồ đă bắt chuyến xe điện Hankyuu đầu tiên trong ngày rồi ngồi chân chỉ lần chuỗi mân côi trong một góc toa. Tôi chỉ thấy h́nh bóng một người đàn bà chấp hai tay trước mặt, đưa cặp mắt từ phía sau lưng và gửi đến tôi một cái nh́n thoáng chút buồn bă. Giống như hạt trân châu dần dần kết tụ trong một cái vỏ trai, nhất định là h́nh ảnh những bà mẹ không biết lúc tự nào đă thành h́nh trong tâm khảm tôi theo cùng một qui tŕnh. Lư do là người mẹ đă nh́n tôi với đôi mắt mệt mỏi lại đọng chút buồn thương ấy chưa bao giờ là một hiện thực đến từ kư ức của tôi. Nói về xuất xứ của h́nh ảnh đó th́ giờ đây tôi đă hiểu. Th́ ra nó vốn trùng lặp với khuôn mặt thấy trên pho tượng “Đức Mẹ Thương Khó” (Mater Dolorosa) ngày xưa mẹ tôi thường mang theo người. Sau khi mẹ tôi qua đời, những vật bà sở hữu cũng như các tấm áo kimono và dải lưng obi dần dần đă bị người ta lấy đi hết. Với danh nghĩa là “chia sẻ kỷ vật của người quá cố” (katamiwake), trước mắt đứa học sinh trung học là tôi, các bà cô của tôi đă đến cho tay vào trong các ngăn kéo và lật lên lật xuống chẳng khác nào lúc họ đang đi lựa hàng ngoài cửa hiệu bách hóa. Dù vậy, họ đă không để mắt đến những món đồ mà mẹ tôi trân quí nhất như cây đàn vĩ cầm cũ kỹ, cuốn kinh cầu nguyện bà đă dùng đến long gáy cũng như chuỗi mân côi mà sợi giây bằng kim loại để nối các hạt hầu như sắp đứt. Thế rồi trong đống mấy món đồ các cô tôi định đem đi vứt lại có cả pho tượng “Đức Mẹ Thương Khó” (Mater Dolorosa) là cái vật giá rẻ mạt mà bất cứ giáo hội nào cũng đem bày bán. Phần tôi th́ sau khi mẹ mất, bức tượng đó là di vật quan trọng nhất trong số những di vật mà tôi đă thu vào trong hộp và đem theo người mỗi khi đổi nhà trọ hay thay chỗ ở. Cuối cùng chiếc vĩ cầm đă đứt giây và mang đầy vết nứt. Cuốn kinh cầu nguyện cũng rớt cả b́a. C̣n như bức tượng Đức Mẹ th́ đă bị cháy trong một cuộc oanh kích vào mùa đông năm Shôwa thứ 20 (1945). Buổi sáng hôm sau trận oanh kích, bầu trời thật trong xanh nhưng suốt một dải từ Yotsuya cho đến Shinjuku, chỉ thấy một vùng rộng lớn phủ màu nâu sậm, dấu tích của trận dội bom. Khắp nơi đều thấy tro than c̣n nghi ngút khói. Tôi co chân ngồi xuống nơi có dấu tích của ngôi nhà trọ ở Yotsuya, lấy một que gỗ cào đống tro tàn để t́m kiếm nhưng chỉ bới ra được dăm mảnh vỡ của bộ ấm chén uống trà và cái xác quyển từ điển c̣n sót vài trang. Khi cố cời thêm th́ từ đống tro than đang cháy dở, tôi bỗng cảm thấy ḿnh đang đụng vào một vật cưng cứng. Th́ ra đó là pho tượng Đức Mẹ nhưng chỉ có phân nửa thân trên. Chất thạch cao đă hoàn toàn đổi sắc, khuôn mặt trước đây có những nét b́nh thường nay đă trở nên xấu xí. Từ dạo đó trở đi, theo thời gian, đường nét mặt mũi của tượng cũng đă phai mờ. Sau khi kết hôn, có lần vợ tôi tuột tay đánh rơi nó và đă phải dùng keo gắn lại. Chẳng biết có phải v́ lư do đó hay không mà pho tượng không c̣n lộ ra biểu cảm ǵ nữa. Khi nhập viện, tôi vẫn đặt pho tượng ấy trong pḥng bệnh. Sau lần giải phẫu thất bại và phải nằm lại bệnh viện đến năm thứ hai, cả tinh thần lẫn vật chất của tôi đă đi đến chỗ cùng quẫn. Các bác sĩ xem chừng hết hy vọng cứu chữa, c̣n về phía tôi th́ tài chánh đă lâm vào thế kẹt. Đêm hôm, dưới ánh đèn mờ, tôi lặng ngắm pho tượng Đức Mẹ đặt ở đầu giường. Không hiểu v́ sao mà tôi thấy khuôn mặt ấy có vẻ buồn bă và đang chăm chú nh́n ḿnh. Vẻ mặt ấy cho đến nay th́ dù đă được xem nhiều tác phẩm Đức Mẹ của hội họa và điêu khắc Tây phương, tôi vẫn thấy nó hoàn toàn khác với chúng. Bị hư hại gây ra bởi trận không kích và ảnh hưởng của ḍng thời gian, khuôn mặt đă khuyết mất cả mũi kia chỉ c̣n lưu lại một cái ǵ và đó là một thoáng buồn bă. Trong thời gian lưu học ở Pháp, tôi đă bao lần được ngắm những bức tượng hay bức họa với đề tài Đức Mẹ Thương Khó (Mater Dolorosa). Dĩ nhiên bức tượng kỷ vật của mẹ tôi v́ trận không kích và sự xoi ṃn của tháng năm đă mất đi biểu cảm của bức tranh mẫu. C̣n sót lại nơi nó chỉ là một thoáng u buồn mà thôi. Có lẽ là không biết tự lúc nào, tôi đă đồng hóa t́nh cảm từng bộc lộ trên khuôn mặt của mẹ ḿnh với biểu cảm của bức tượng đó để rồi chúng trở thành một. Nhiều khi tôi thấy khuôn mặt của bức tượng mang h́nh ảnh mẹ tôi lúc bà chết. Lúc được đặt nằm trên tấm nệm giường, vẻ đau khổ hăy c̣n đọng lại ở khoảng cách giữa đôi mi. Tôi hăy c̣n nhớ một cách rơ ràng khuôn mặt của bà sau khi chết là thế đấy. Tôi ít khi kể cho vợ tôi nghe về việc mẹ đă hiện ra cho tôi. Có một lần, khi tôi thốt ra chuyện đó, vợ tôi nói một hai câu ǵ đó nhưng chắc chắn là những câu nói ấy đă xuất phát từ một t́nh cảm không mấy thoải mái. *** Sương mù đă vựng lên khắp trời. Nhân nghe tiếng quạ kêu trong vùng sương mù đó, tôi biết rằng ḿnh đă tiến gần đến thôn xóm. Đối với một người có một lượng khí thở trong phổi giới hạn như tôi, để đến được đây, thật tôi đă chịu lắm gian nan. Không những phải vượt con đường núi với những cái dốc khá đứng mà thêm vào đó, đôi ủng cao su anh Jirô cho mượn lại hay làm trượt chân khi gặp phải một đoạn đường đất sét trơn trợt như thế này, nên tôi đành im hơi lặng tiếng. “Như thế này là c̣n khá đó, Sensei!”. Ông trợ tá Nakamura nói như phân bua với tôi. “Xưa kia vẫn có sương mù dày không thấy đường như hôm nay nhưng lúc đó độc chỉ có một con đường ṃn trên núi ở phía Nam. Nghe nói là mỗi lần muốn đi đến thôn (buraku)[36] này, phải mất cả nửa ngày trời. Mấy người Kakure khi chọn một nơi hiểm trở để sinh sống cũng đă tỏ ra khôn ngoan lắm đấy. Như vậy mới tránh được tai mắt của sai nha. Hai bên đường là những đám ruộng h́nh bậc thang. Bóng đen đen của những ngọn núi đang lờ mờ ẩn hiện sau lớp sương mù dày. Tiếng quạ giờ đây lại to hơn hồi năy. Tôi bỗng nhớ ra là hôm qua ở trên đỉnh Nham Đảo ḿnh cũng đă thấy có nhiều đàn quạ lượn ṿng. Trên cánh đồng, hai người có vẻ là mẹ con đang làm việc. Khi ông Nakamura cất tiếng gọi, bà mẹ liền kéo cái khăn đang che mặt xuống và cúi đầu chào một cách kính cẩn. -Nhà ông Kawahara Kikuchi có phải nằm ở quăng dưới này không hở? Có Sensei trên Tôkyô xuống đây muốn gặp ổng để hỏi thăm đấy! Đứa con của bà đưa mắt nh́n tôi như một vật lạ nhưng bị mẹ mắng cho nên đă chạy vào trong cánh đồng. Ông trợ tá Nakamura rất biết xă giao nên đă mua sẵn một ít rượu ở ngoài phố đem đến làm quà. Suốt chặng đường, anh Jirô đă đảm trách việc xách nó nhưng khi bước vào thôn th́ tôi đă nhận lại và ôm theo cái b́nh đựng một thăng (= đấu) rượu ấy. Đầu thôn đă nghe vọng ra tiếng ra-đi-ô đang phát mấy bài tân nhạc cải cách. Trong nhà kho của vài ngôi nhà, tôi c̣n thấy họ để cả xe gắn máy. -Đám trẻ trong thôn này đă bỏ xứ đi hết. -Ra ngoài phố à? -Không, nhiều đứa đến tận mấy hải cảng như Sasebo hay Hirado để kiếm việc. Trên ḥn đảo này, đă mang tiếng là con cái gia đ́nh Kakure, không ai thèm mướn đâu.
Hậu duệ người Kakure (nguồn AFP) Lũ quạ không biết c̣n đuổi theo nhau đến tận đâu. Lần này, chúng lại t́m đến đậu trên một nóc tranh và cất tiếng kêu inh ỏi. Làm như thể chúng muốn báo cho người sống trong nhà phải coi chừng v́ có những kẻ lạ mặt như chúng tôi đang t́m đến. Ngôi nhà của ông Kawahara coi bộ lớn hơn mấy nhà khác một tí, mái lại lợp ngói, đằng sau lưng lại có một cây long năo cổ thụ. Tôi biết ngay ông Kawahara phải là một người chức phận cỡ Yajiyaku (ông Trùm họ), tóm lại là ông đóng vai một cha xứ trong cộng đồng này. Ông Nakamura để tôi đứng đợi bên ngoài một lúc và vào trong thương lượng với gia đ́nh chủ nhà. Đứa trẻ hồi năy thấy ngoài đồng đang cho tay đút vào trong giữ cái quần cho khỏi tụt, từ xa đưa mắt nh́n chúng tôi. Tôi để ư thấy đôi chân trần của nó hăy c̣n lem luốc bùn đất. Một lần nữa, đàn quạ lại tiếp tục kêu. -Chán quá nhỉ. Làm như họ không thích tiếp ḿnh! -Ổ, lo ǵ! Thầy cứ để mặc ông trợ tá. Bác Nakamura ấy nói là xong ngay mà. Được anh lên tiếng Jirô trấn an, tôi thấy vững tâm hơn. Cuối cùng, cuộc thương lượng đă ngă ngũ và bọn chúng tôi được đưa vào một căn buồng với nền đất nện (doma). Từ phía sâu trong bóng tối, có bóng một người đàn bà đang nh́n về phía chúng tôi. Tôi biếu họ cái b́nh đựng một thăng rượu sake đem theo để làm lễ ra mắt nhưng phía bên kia chẳng thèm đáp lại câu nào. Căn pḥng hết sức tối. Tuy hôm nay trời xấu nhưng tôi nghĩ là ngay một hôm đẹp trời, nơi dây chắc cũng chẳng sáng sủa hơn bao nhiêu. Thế rồi trong pḥng lại có một mùi hôi hám thật đặc biệt đang bốc lên mũi. Người tên Kawahara Kikuichi là một ông già tuổi độ sáu mươi. Ông ta không chịu ngó thẳng vào mặt tôi. Dù đang lên tiếng trả lời tôi, ông đôi mắt đầy vẻ sợ hăi của ông cứ dán chặt vào một nơi nào đó trong không gian. Ngay câu trả lời của ông cũng ngắn củn. Tôi có cảm tưởng ông đang muốn chúng tôi ra về cho chóng. Giữa khi câu chuyện của hai bên bị ngắt ngang bằng những khoảnh khắc im lặng, tôi đă đảo mắt quan sát những nơi trong gian buồng đất nện từ cái cối đá, manh chiếu cho đến mấy bó rơm. Ư tôi là muốn ḍ xem cây trượng tùy thân một chức sắc Yajiyaku và bài vị thần Nandogami của người Kakure đang được cất giữ ở đâu? Cây trượng Yajiyaku th́ chỉ có người lănh chức Yajiyaku (Già làng hay Trùm họ) mới được quyền mang theo. Lúc đi chủ tŕ lễ rửa tội (báp-têm) th́ cây trượng ấy phải là cây trượng làm bằng gỗ sồi (kashi), c̣n khi đến nhà ai để đuổi tà khi phải dùng cây trượng bằng gỗ cây dâu bạc (gumi, silverberry) nhưng nhất quyết là họ không dùng trượng làm bằng tre trúc. Rơ ràng về việc sử dụng trượng, người đời sau vẫn bắt chước thói quen các cha xứ có từ thời đại Kirishitan[37]. Tuy tôi đă hết sức chú ư nhưng dĩ nhiên là tôi chẳng thấy chỗ họ cất dấu cây trượng và bài vị thần Nandogami ở đâu. Măi sau tôi mới được họ cho nghe bài khấn nguyện Orasho (Oratio) nhưng nội dung bài của họ và những bài khác mà tôi đă được nghe những người Kakure khác tụng niệm cũng na ná như nhau. Nói chung chúng đều là những lời lẽ van xin tha thứ và lúc nào cũng đượm một nỗi buồn. “Chúng con van xin ... trong khi đang than khóc và rên siết trong thung lũng đầy nước mắt này”. Khi bắt đầu lời nguyện, mắt của ông Kikuichi đă đăm đăm nh́n vào khoảng hư không. “Xin hăy tha thứ cho chúng con và hăy nh́n chúng con với cái nh́n đầy thương xót của ngài”. Tôi chợt thấy nó giống như khúc ca truyền miệng (mawashibushi) mà anh Jirô đă hát trong buổi tối trước đây, nghĩa là một chuỗi câu chữ ghép lại một cách vụng về nhưng đang muốn bày tỏ nỗi ḷng ḿnh cho một Đấng cao xa nào đó. “Than khóc và rên siết...trong thung lũng đầy nước mắt này...” Tôi lẩm bẩm lập lại lời của ông Kikuichi như muốn ghi lại tất cả những lời ấy vào kư ức. “Xin tha thứ cho chúng con...” -Xin tha thứ cho chúng con...” “Và hăy nh́n chúng con với cái nh́n đầy thương xót của ngài” -Và hăy nh́n chúng con với cái nh́n đầy thương xót của ngài”. Trong chốn sâu thẳm của đầu óc tôi hiện ra h́nh ảnh của những người Kakure bị cưỡng bách kiểm tra bằng cách bắt dẫm lên thánh giá. Sau lúc phải làm chuyện ấy, trong đêm trở về thôn xóm, mỗi người đều đă cất tiếng đọc lời cầu xin đó trong những ngôi nhà tối tăm như thế này.”Xin tha thứ cho chúng con...Xin hăy nh́n chúng con với cái nh́n đầy thương xót của ngài!”. Đàn quạ đang kêu. Chúng tôi giữ nguyên sự im lặng trong một lúc lâu, mắt nh́n ra ngoài hiên, nơi một lớp sương mù đang bồng bềnh kéo tới. Có lẽ v́ trời vừa nổi gió nên lớp sương mù trắng như sữa ấy đă đến đây với một tốc độ khá nhanh. -Ông chủ nhà...có thể nào cho chúng tôi xem Nandogami (Thần Chủ, Thần Nhà Kho) không ạ? Tôi ngượng ngập thốt ra mấy câu nhờ vả đó nhưng ông Kikuichi vẫn đưa mắt nh́n vào không gian và chẳng lên tiếng trả lời. Nondagami (Nạp Hộ Thần) hoàn toàn không phải là một thuật ngữ Kirishitan nhưng nó có ư nghĩa là vị thần được thờ trong nhà kho (nạp hộ). Bởi lẽ giữa người Kakure với nhau, họ muốn lễ bái vị thần của ḿnh trong gian nhà kho tức một nơi không ai thể chơ mắt vào. C̣n như đối với bên ngoài th́ qua cách gọi đặc biệt ấy, họ có thể đánh lừa được đám sai nha. Thế rồi, tuy ngày nay tín ngưởng Nandogami đă được mọi người công khai thừa nhận, người Kakure vẫn không muốn cho người khác đạo (zencho, gentio)[38] xem thực thể của thần. Không ít tín hữu Kakure tin rằng nếu họ đem nó cho người ngoại đạo xem th́ h́nh ảnh vị thần Nandogami sẽ bị ô uế. Ông Nakamura lại mạnh miệng nói giúp tôi: -Sensei từ trên Tôkyô xuống đây chỉ v́ mục đích này thôi đó! Ông cho thầy ấy xem chút đi. Ông Kikuichi lúc ấy mới chịu nhấc mông lên. Sau đó, vừa lúc chúng tôi đi xuyên qua gian pḥng nền đất nện để vào bên trong, tôi lại thấy ánh mắt của người đàn bà khi năy. Từ trong bóng tối, bà vẫn c̣n nh́n chầm chập vào chúng tôi với một cái nh́n khó thể nói là b́nh thường. -Thầy để ư cho. Khi sắp đi ngang qua cánh cửa để vào bên trong nhà kho th́ từ đằng sau lưng có tiếng anh Jirô dặn ḍ tôi phải coi chừng v́ nếu tôi không khom ḿnh sẽ bị va đầu. So với gian pḥng đất nện th́ nhà kho là một khoảng không gian nhờ nhờ tối và chật hẹp hơn, ngai ngái cái mùi sống sít của rơm rạ và khoai tây. Phần chính giữa phía bên kia có đặt một cái ban thờ Phật nhỏ với dăm ba ngọn nến. Chắc đây chỉ là những món đồ họ dùng để ngụy trang. Ánh mắt của ông Kikuichi hướng về một điểm cao bên tay trái. Phương hướng của ánh mắt ấy là hai tấm rèm màu vàng đang buông lửng, nơi mà khi mới bước vào pḥng tôi đă để ư ngay. Trên cái kệ có đặt bánh gạo nếp (mochi), một b́nh con màu trắng để đựng rượu lễ (miki). Khi ông Kikuichi đưa bàn tay đầy nét nhăn nheo chậm răi vén tấm rèm ấy lên th́ bộ phận của một bức liễn (kakejiku) màu nâu đất bắt đầu hé lộ. Đằng sau lưng tôi có tiếng anh Jirô thở dài và thốt lên: “Tranh thôi à?” Đó là một bức tranh Đức Mẹ đang bế Chúa Hài Đồng. Không, đúng ra đó là tranh vẽ một bà nông dân đang cho con ḿnh bú. Bộ đồ đứa trẻ đang mặc được tô một màu lam nhạt trong khi áo xống của bà mẹ lại là màu nâu đất. Cứ nh́n sự vụng về của cả nét vẽ lẫn màu sắc được tô lên đó th́ hiểu ngay rằng đây là một bức tranh do một người Kakure nào đó vẽ ra từ lâu lắm rồi. Bộ ngực của bà nông dân để trần, bầu vú đang lộ ra. Giải giây áo lại buộc ở đằng trước, không khác ǵ y phục của phụ nữ khi ra làm việc ngoài đồng (noragi). Khuôn mặt của nhân vật là khuôn mặt của một phụ nữ có thể t́m thấy ở bất cứ nơi nào trên ḥn đảo này. Đó là khuôn mặt của một bà mẹ vừa để cho đứa con sơ sinh bú sữa, vừa tiếp tục công việc đồng áng hay đang mạng lại một tấm lưới đánh cá. Bất chợt tôi nhớ lại người bà mẹ nhà quê hồi năy đă gỡ cái khăn che mặt để cúi đầu chào ông trợ tá Nakamura. Trong khi Jirô-san nở một nụ cười ngán ngẩm th́ ông Nakamura vẫn giữa một bộ mặt thản nhiên nhưng tôi nghĩ đó chỉ là bề ngoài chứ biết đâu trong bụng, ông chẳng cười thầm! Dù vậy, không hiểu tại sao mắt tôi vẫn không thể rời khỏi tấm tranh bà mẹ được vẽ bởi một bàn tay vụng về như vậy. Những người Kakure này đă chắp hai bàn tay xương xẩu của họ trước bức tranh này để cầu xin sự tha thứ. Tự nhiên trong ḷng tôi dậy lên một niềm cảm khái và tôi tự hỏi không biết tâm sự của họ có giống tôi không? Cái giáo lư dựa trên sự uy nghiêm của người cha mà các giáo sĩ đă vượt vạn dặm ba đào đến đấy rao giảng th́ từ ngày các vị ấy bị chính quyền trục xuất và hội thánh suy sụp, trong bao nhiêu tháng năm dài, nó đă bị người Kakure Nhật Bản loại bỏ một số bộ phận mà họ thấy ḿnh không đương nổi. Dần dần cái giáo nghĩa tập trung vào việc sùng bái Đức Chúa Cha đă được thay thế bằng giáo nghĩa ngưỡng mộ Đức Mẹ, một sự ngưỡng mộ đă có mặt trong bất cứ nền tảng tôn giáo nào ở Nhật Bản. Những lúc suy nghĩ như vậy, tôi lại liên tưởng đến bà mẹ của tôi và thấy như có cái bóng xam xám của bà đang hiện ra bên cạnh. Không phải h́nh ảnh một bà mẹ tay dạo đàn vĩ cầm, cũng không phải là h́nh ảnh một bà mẹ chăm chú lần chuỗi hạt mân côi, nhưng đó là một bà mẹ đang chấp hai tay trước ngực và nh́n tôi với đôi mắt đượm chút sầu thương. Khi vừa rời thôn th́ sương mù đă tách ra nên chúng tôi đă có thể thấy mặt biển đen ở đằng xa. H́nh như biển hôm nay cũng c̣n động và đang dậy sóng. Tôi không nh́n thấy Nham Đảo, nơi chúng tôi vừa đến viếng hôm qua. Bên dưới thung lũng, h́nh như sương mù lại dày thêm, có tiếng quạ kêu từ những lùm cây lờ mờ ẩn hiện làm tôi không biết nó đă vọng đến từ phía nào.”Trong thung lũng đầy nước mắt...Xin hăy đoái hoài đến chúng con...Hăy nh́n chúng con với đôi mắt đầy thương xót của ngài...”Trong ḷng, tôi đang th́ thầm đọc lại những lời cầu kinh Orasho (Oratio) của người Kakure mà tôi vừa học được từ ông Kikuichi. -Bọn họ khùng hết cỡ. Sao lại đưa cho ḿnh xem ba món đồ đó? Chắc Sensei-sama phải thất vọng lắm nhỉ? Lúc ra khỏi xóm, dù chẳng ai trách cứ, anh Jirô vẫn nghĩ ḿnh là người phải nhận trách nhiệm nên đă năm lần bảy lượt xin lỗi tôi. C̣n như ông trợ tá Nakamura th́ đang đi đằng trước chúng tôi. Ông chống một cây gậy không biết vừa nhặt được đâu giữa đường, cứ bước mà không nói không rằng. Nh́n cái sống lưng cứng nhắc của ông, thật t́nh tôi không rơ là ông đang nghĩ ngợi điều ǵ.
Dịch ngày 28/1/2024
Thư mục tham khảo: 1- Endo Shusaku, Haha naru mono (Những bà mẹ), trong Toàn tập Endo Shusaku (Endo Shusaku Zenshuu), nhà xuất bản Shinchô, Tôkyô, 1999, quyển 8/15, từ trang 33 đến 56. Nguyên tác Nhật ngữ. 2- Endo Shusaku, Haha naru mono, Van C. Gessel dịch sang tiếng Anh thành Mothers, in trong Tuyển tập truyện dịch Stained Glass Elegies, do A New Direction Paperbook, USA, xuất bản năm 1990. Từ trang 108 đến 135. Bản ngoại văn tham chiếu.
[19] Ư nói hành động rời bỏ lối sống khép kín và những tập quán đặc thù của họ để gia nhập vào tổ chức của Giáo hội Công giáo hiện tại. [20] Kakure = ẩn nấp, trốn tránh. Kirishitan (Christian) = tín đồ đạo Cơ Đốc thời Edo,một cách gọi có tính lịch sử, phát âm theo tiếng Bồ Đào Nha. Người Kakure chỉ là một nhóm đặc biệt của các Kirishitan. [21] Goto (quần đảo nằm ở ngoài khơi phía Tây thành phố Nagasaki và Ikitsuki phía Bắc nó cũng như cảng Hirado đều là những địa danh gắn bó với lịch sử người Công giáo Nhật Bản. [22] Thần Nandogami (Nando = Nhà kho, nơi cất giữ của cải) đối với người Kakure Kirishitan giống như các vị thần Ebisu và Daigoku của người Nhật vốn là thần bảo vệ gia đ́nh của chủ nhà. Thường được biết qua một bức tranh vẽ h́nh Đức Mẹ bế Chúa Hài Đồng. [23] Áo chùng dài đến chân của chức sắc Cơ Đốc giáo, dùng để phân biệt họ với những người thuộc giáo phái khác như Tin Lành, Sa Bát. Nguyên ngữ tiếng Ư là Sottana. Ở Pháp từ năm 1852, các tu sĩ ấy phải mặc thường xuyên nhưng ở Nhật th́ chỉ cần mặc khi hành lễ, [24] Hankyuu : tên đường tàu tư doanh địa phương nối các vùng Kobe, Ôsaka và Kyôto. [25] Trong giai đoạn này (1607) Shôgun Tokugawa (1542-1616) đă hết giữ chức vụ (1603-05) nhưng vẫn đóng vai tṛ chỉ đạo cho Shôgun đời thứ hai là Hidetada, tại vị từ 1605 đến 1623. [26] Vẫn c̣n ở dưới thời Shôgun Tokugawa thứ hai là Hidetada (Tú Trung, tại vị 1605-1623) [27] Thời Edo, người Nhật gọi người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là bọn rợ phương Nam (Nam Man), một phần do ḷng tự tôn nhưng phần khác có lẽ v́ nhuững người này đă đi từ phía Nam lên. [28] Có lẽ mệnh giá phải cao hơn nhiều, ít nhất tương đương với 10. 000 Yen bây giờ. [29] Áo choàng dài để khoác bên ngoài (từ tiếng Bồ Đào Nha) [30] Oratio, nguyên gốc tiếng La Tinh. [31] Tên một vùng phụ cận của Tôkyô nhưng nay đă nhập hẳn vào thành phố. [32] Theo các truyện khác (như Bóng đổ lên đời tức Omokage) th́ đó là vị linh mục người Đức Pedro Herzog, một người bạn rất thân thiết với bà mẹ của Shusaku. [33] Musashino no kuni. Địa danh cổ của vùng đất bằng chung quanh Tôkyô [34] Có thể xem họ là những người (mono) sa ngă (korobu), đă phải phản bội lư tưởng để sống c̣n. [35] Là những phép tắc thời Edo đặt ra để Mạc phủ kiểm soát hành vi dân chúng. [36] Có lẽ từ buraku ở đây không dùng với nghĩa đơn vị hành chính như thôn ấp nhưng với cái nghĩa xă hội là một nhóm người sống cô lập và bị kỳ thị. [37] Ư nói thời các giáo sĩ Tây phương mới đến truyền giáo. [38] Dị giáo đồ. Ám chỉ người không cùng tôn giáo với họ. Tiếng Bồ Đào Nha là Gentio.
* Nguyễn Nam Trân : Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com ......................... ®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com) |