|
Chương Hai
Thời Tiền Man.yô và những
nhà thơ cung đ́nh buổi đầu.
1-Thơ thiên hoàng Yuuraku.
2-Thơ thiên hoàng Jômei. 3- Thơ công chúa Nukata. 4- Thơ hoàng hậu
Yamato. 5- Thơ nữ thiên hoàng Jitô. 6- Xướng họa giữa thiên hoàng
Tenmu và quí phi Fujiwara.7- Thơ đại thần Fujiwara no Kamatari. 8-
Thơ công chúa Tajima, công chúa Ôku và hoàng tử Arima. 9- Thơ
Kakinomoto no Hitomaro. 10- Thơ Takechi no Kurobito.11- Thơ Naka no
Imiki Okimaro.
Tiết I:
Thơ Thiên hoàng Yuuryaku
雄略天皇
Man.yôshuu có 4496 bài lồng
trong 20 quyển nhưng bài thơ được đặt lên đầu quyển 1 là bài ngự chế
của Thiên hoàng Yuuryaku (Hùng Lược, đời thứ 21). Ông là vị vua mà
cuốn cổ sử Nihon Shoki cho biết đă trị v́ trên đất Nhật 23 năm trời
vào hậu bán thế kỷ thứ 5 và đă từng phái sứ giả sang Trung Quốc năm
478, được người nước ấy gọi với danh hiệu là Vũ (Nụy Vương).
Hai quyển 1 và 2 của Man.yôshuu
đóng một vai tṛ rất đặc biệt. Trong đó lúc nào cũng bắt đầu bằng
danh xưng của vị thiên hoàng đương nhiệm rồi dưới đó mới kê khai
những bài thơ làm ra dưới thời người ấy trị v́. Ngự chế của thiên
hoàng Yuuryaku (năm sinh và mất không rơ) là bài thơ cổ đứng vào
hàng thứ ba về niên đại, chỉ sau các bài thơ tối cổ ( bài 2-85,
2-86, 2-87, 2-88, 2-89, 2-90) của Hoàng hậu Iwa (Iwanohime no
Ôkisaki, vợ Thiên hoàng Nintoku) và bài (13-3263) của thái tử Karu
(Karu no Hitsugi no Miko, con trai Thiên hoàng Ingyô). Tuy được viết
dưới h́nh thức chôka, nhưng thời đó chôka chưa được đi kèm với một
bài hanka đoạn hậu. Về số âm trong câu cũng chỉ là h́nh thức 5 và 7
âm. Ngự chế của ông được xem như là một Ôuta (Đại ca) nghĩa là đem
ra tŕnh diễn giữa triều đ́nh và có nhạc khí ḥa tấu theo. Bài thơ
đó nguyên văn như sau:
1-1
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana):
篭毛與美篭母乳 布久思毛與 美夫君志持
此岳尓 菜採須兒 家吉閑名 告<紗>根
虚見津 山跡乃國者 押奈戸手 吾許曽居 師<吉>名倍手吾己曽座
我<許>背齒
告目 家呼毛名雄母
Dạng huấn độc (đă chua âm):
篭もよみ篭持ち 堀串もよ み堀串持ち
この岡に 菜摘ます子 家聞かな 告らさね そらみつ 大和の国は おしなべて 我れこそ居れ しきなべて 我れこそ座せ 我れこそば告らめ
家をも名をも
Phiên âm:
Komoyo miko mochi / fukushimoyo / mibukushi mochi
/ kono oka ni / natsumasu ko / ieki kana / nanorasanu / soramitsu /
Yamato no kuni wa / oshinabete / ware koso ore / shikinabete / ware
koso mase / ware koso wa norame / ie wo mo na wo mo.
Diễn ư:
Giỏ (tre, mây) đây, tay cầm cái
giỏ tốt. Cuốc (nhỏ bằng tre, cây, để đào gốc) đây, tay cầm cái cuốc
tốt. Hỡi cô gái đang lên đồi cao kiếm (hái) rau. Ta muốn hỏi nhà em
ở đâu? Nói cho ta biết tên với. Dấu làm ǵ, ta là người cai trị toàn
thể đất nước Yamato mà lại. Mọi người đều nghe theo và đưa ta lên
làm vua. (Chính ta là người muốn thành chồng em), ta sẽ cho em biết
nhà ta ở đâu (nên cứ yên tâm mà nói cho ta hay đi).
Tạm dịch thành thơ:
Tay cầm cái giỏ tốt / Tay
cầm cái cuốc con/ Hỡi người con gái trẻ / Lên đồi hái rau non / Nhà
em ở đâu thế? Nói cho ta hay cùng / Tên em là ǵ vậy? / Ta biết có
được không? / Yamato toàn cơi / Lập ta làm vua chung / Ḷng ta đang
ao ước / Cùng em thành vợ chồng / Nhà ta, ta sẽ chỉ / Sao em c̣n
ngại ngùng!
Giải thích:
Thời thượng cổ, khi một người
con trai hỏi tên và hỏi nhà của người con gái là có ư cầu hôn. Việc
đi lại với nhau rất là quan trọng cho nên khi nghe con trai ướm hỏi,
con gái không bao giờ đáp lời. Cho dù người đang đứng trước mặt có
địa vị cao sang, tùy tùng theo tấp nập đi nữa, việc do dự không xưng
tên hay cho biết nhà cửa là điều thường t́nh. Do biết phong tục dân
gian như thế nên nhà vua phải tự giới thiệu về ḿnh trước. Như thế
nhà vua muốn giải tỏa mối lo âu của cô gái nhưng cũng để thúc bách
cô chấp nhận lời cầu hôn của ḿnh.
Theo nhiều tác giả khác
(Sakaguchi, Nakanishi , xem thư mục), việc xưng tên (nanori名告)
c̣n sâu sắc hơn v́ có ư nghĩa tôn giáo. Người xưa nghĩ rằng linh hồn
con người nằm trong cái tên của ḿnh (Người Việt Nam cũng có cổ tích
về người bị hớp hồn v́ trả lời ma quỷ khi được gọi tên). Xưng tên là
tượng trưng cho sự chấp thuận. C̣n việc đi hái rau (natsumi菜摘み)
tưởng là b́nh thường kia, theo tác giả Sakaguchi Yumiko, thật ra là
một nghi thức dành cho phụ nữ vừa đến tuổi thành nhân. Chuyện thiên
hoàng cầu hôn vào mùa xuân lúc cây cỏ nhú mầm lại có ngụ ư như một
nghi thức shaman (đồng cốt) để cầu xin sự phồn thực của đất
đai hoa màu và người con gái không phải người thường nhưng là một cô
đồng (miko巫女).
Thời Vạn Diệp, c̣n có nhiều bài thơ khác nhắc đến việc cầu hôn của
Thiên hoàng kèm theo việc thách cưới và xem những dụng cụ dùng vào
việc kiếm rau như là sính lễ nữa. Ví dụ Kojiki (Cổ Sự Kư) có chép
thơ vịnh một nàng con gái từ chối lời cầu hôn, nấp trong núi, thách
cưới những 500 cái cuốc con để đào đất.
Về loại thơ hỏi tên họ, hăy c̣n
có bài 9-1726 của Tajihi no Mahito hỏi thăm tên của người con gái đi
cắt rong biển
trên băi Naniwa (Ôsaka bây giờ) khi
nước triều rút xuống:
難波方 塩干尓出<而>
玉藻苅 海未通<女>等汝名告左祢
難波潟潮干に出でて玉藻刈る海人娘子ども汝が名告らさね
Naniwagata /
shio hi ni idete / tamamo karu / ama otome domo/ na ga nanorasane
Khi nước
triều rút cạn / Khỏi băi Naniwa / Hỡi nàng con gái biển / Nhặt rong
đẹp bên bờ / Tên chi xin hăy tỏ.
Các nàng
cũng đă đáp lại bằng những vần sau đây (bài 9-1727) để đuổi khéo anh
ta, với ư khuyên chàng nên bớt những lời cầu hôn nồng nhiệt đi một
chút cho dù chưa chắc bọn họ là những người con gái thuộc giai cấp
tầm thường.
朝入為流 人跡乎見座 草枕
客去人尓 妾<名>者不<教>
あさりする人とを見ませ草枕旅行く人に我が名は告らじ
Asari suru /
Hito to wo mimase / kusamakura / tabiyuku hito ni / wa ga na wa
noraji
Khách lạ
qua đường ơi / Đừng để ư chúng tôi / Phận nghèo hèn chài lưới / Tên
tuổi ai lại nói / Cho người ḿnh không quen.
Cũng thế, bài 11-3101 và bài
11-3102 cũng là lời đối đáp giữa một người con trai si t́nh và một
người con gái thận trọng. Nàng đă trả lời thẳng thừng trước lời cầu
hôn của chàng trai, mới gặp lần đầu đă yêu ḿnh ngay và cho biết
nàng không thể đem tên tuổi thổ lộ cho một người đàn ông không hề
quen biết.
Bài ngự chế của Thiên hoàng
Yuuryaku có hai đoạn. Đoạn đầu cho ta thấy bối cảnh của bài thơ là
một ngày xuân đẹp, nhân vật chính là nàng con gái đang lên đồi hái
rau. Tất cả như vẽ ra một bức tranh đẹp, lôi cuốn ḷng người đọc.
Đoạn thứ hai tức là phần c̣n lại đưa ra h́nh ảnh trang trọng của một
vị vương giả với dáng dấp đường đường đang bày tỏ và nhấn mạnh đến
địa vị tôn quí và ư chí và hoài băo thực hành chính trị của ḿnh.
Bắt đầu bằng komoyo (3 âm), tiến lên mikomochi (4 âm), fukushimochi
(5 âm) rồi mibukushimochi (6 âm), t́nh cảm của nhà vua như càng ngày
càng dâng lên một cách mạnh mẽ như lớp sóng, khi thế của nó thích
hợp cho một bài ôuta (đại ca) tŕnh diễn trong cung điện với
nhạc khí ḥa tấu theo.
Thiển nghĩ bài thơ này có phong
vị mộc mạc chất phác giống thơ Quan Thư trong Kinh Thi và những bài
trai gái tỏ t́nh với nhau trong ca dao Việt Nam.
Xin chú ư sora mitsu
(nh́n quét ngang trời) là một makura-kotoba (chữ gối đầu),
cụm từ chuyên dùng để tu sức, chỉ đất Yamato rộng bao la.
Nói về phong cách hùng tráng
của Thiên hoàng Yuuryaku, đoạn 179 trong Kojiki có chép bài thơ này
kèm theo một giai thoại về ông. Lúc ông ở ngôi, có lần để mắt đến
một người con gái đẹp là bà Hiketabe no Akaiko khi bà đang giặt đồ
trên bờ sông Miwa và hứa cưới bà làm vợ, xong về cung. Akaiko vui
mừng khôn xiết, sửa soạn chu tất để được nhà vua vời vào cung. Thế
nhưng nhà vua sau đó tuyệt vô âm tín, cô gái đẹp trở thành một cụ
già ngoài 80, mặt hoa đă héo, làn da đẹp mỹ miều nhăn nheo, mái tóc
huyền cũng bạc trắng. Hết chịu nổi cảnh tượng ḿnh sẽ chết đi trong
câm nín và quên lăng nên một hôm bà sắm sửa lễ vật vào chầu. Khi
nghe tâu, hoàng đế mới sực nhớ, hết sức kinh ngạc và hối hận đối với
nàng nhưng không thể nào vời một bà cụ vào cung, cho nên chỉ biết
tặng lại bà bài thơ và khi nghe đọc, bà chỉ biết khóc sụt sùi ướt
đầm áo xống. Bà cũng phụng đáp một bài thơ và nhận được nhiều ân
thưởng từ nhà vua. Đối với chúng ta, qua bài thơ này, th́ chỉ thấy
được h́nh ảnh một ông vua trẻ tuổi, hào hoa và hơi vô tâm mà thôi.
Và âu chuyện cớ phần phi lư v́ nếu bà Hiketabe lúc đó đă ngoại bát
tuần th́ tuổi tác của Thiên hoàng phải đến bao nhiêu?
Truyền thuyết
hoàng hậu hay ghen Iwa no Hime
磐姫
Tên của bà chính ra là Iwa no
Hime no Ôkisaki, tục gọi là Hoàng Hậu Đá, có thể v́ đá là vật tổ của
bộ lạc (Phù Dư, đến từ Triều Tiên?) của bà. Vợ của Thiên hoàng
Nintoku (Nhân Đức), một ông vua trong thần thoại Nhật Bản. Trong
danh sách 5 vị vua Nhật Bản thời cổ chép ở sử thư Trung quốc (Nụy
Ngũ Vương) th́ tên ông là Tán hay là Trân. Ngựi ta thường ca tụng
ông như bậc thánh đế v́ c̣ ḷng thương dân.
Kojiki chép bà là người rất hay
ghen, không cho thiên hoàng đưa người thiếp nào vào sống trong cung
cả. Nếu các phi tần hay thị nữ làm ǵ không vừa ư là dậm chân dậm
cẳng. Thiên hoàng vốn yêu một người con gái họ Amabe no Atai ở đất
Kibi tên là Kurohime, dung nghi xinh đẹp và đoan chính, bèn cho gọi
đến. Hoàng hậu quá đỗi ghen tuông, cô ấy phải bỏ trốn về quê.
Bà có viết 4 bài thơ tưởng nhớ
đến chồng. Bài 1-85 đă tŕnh bày bên trên giằng co giữa ḷng nôn
nóng muốn đi gặp vua (đang đi tuần du trong núi hay đi thăm mỹ nhân
th́ không rơ) mà đó về hay ngồi một chỗ mà chờ của bà được xem là
bài thơ xưa nhất trong Man.yôshuu. Sau đây, xin chép thêm 3 bài thơ
khác tiếp theo sau trong cùng một chùm thơ:
1-86
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana):
如此許戀乍不有者 高山之 磐根四巻手
死奈麻死物<呼>
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
かくばかり恋ひつつあらずは高山の磐根しまきて死なましものを
Phiên âm:
Kakubakari / koitsutsu arazu / takayama no / iwaneshi makite /
shinamashi mono wo /
Diễn ư:
Nếu phải
tiếp tục sầu khổ héo hon không thôi v́ t́nh yêu như thế này thà lên
trên non cao, gối đầu lên ḥn đá mà chết đi c̣n hay hơn.
Tạm dịch thơ:
Nếu tiếp tục héo sầu / V́
yêu ngài tha thiết / Thiếp thà lên non cao / ( Nơi không ai hay biết
) / Mượn đá kia làm gối / Ngủ trọn giấc ngàn năm
1-87
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana):
在管裳君乎者将待 打靡 吾黒髪尓
霜乃置萬代日
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
ありつつも君をば待たむうち靡く我が黒髪に霜の置くまでに
Phiên âm:
Aritsutsu mo
/ kimi wo ba matamu (matan) / uchinabiku / wa ga kurokami ni / shimo
no oku made ni /
Diễn ư:
Em sẽ cứ như
thế mà chờ ngài măi măi. Đợi cho đến khi mái tóc mượt mà đen dày của
em trở thành bạc trắng như sương.
Tạm dịch thơ:
Thiếp sẽ chờ đợi hoài / Đến
khi ngài trở lại / Dù mái tóc đen tuyền /( Đang xơa xuống bờ vai ) /
(Qua những tháng năm dài) / Sẽ đổi màu sương tuyết /
1-88
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana):
秋田之穂上尓霧相 朝霞 何時邊乃方二
我戀将息
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
秋の田の穂の上に霧らふ朝霞いつへの方に我が恋やまむ
Phiên âm:
Aki no ta
no / ho no e ni kirau / asakasumi / itsu e no kata ni / a ga koi
yamamu (yaman) /
Diễn ư:
Cũng như
sương mai trĩu nặng trên bông luá trên cánh đồng thu dần dần tan
biến đi, t́nh yêu trong ḷng ta biết bao giờ mới tan biến đi đây. E
rằng nó chẳng bao giờ tan biến cả...
Tạm dịch thơ:
Sương mai trên đồng thu /
Trĩu nặng bao cành lúa / Yêu thương nào chẳng úa / Tan tác cũng như
sương / Nhưng ḷng của em đây / T́nh không hề cạn mạch /
Tiết II:
Thơ Thiên hoàng Jomei舒明天皇:
Thiên hoàng Jomei (Thư Minh,
593-641, trị v́ 629-641) đă ngâm bài thơ nổi tiếng sau đây lúc ông
leo lên Kaguyama trong xứ Yamato và đưa mắt nh́n xuống giang sơn đất
nước trải rộng bao la dưới chân núi.
1-2
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana):
山常庭 村山有等 取與呂布
天乃香具山 騰立 國見乎為者 國原波 煙立龍 海原波 加萬目立多都 怜A國曽 蜻嶋 八間跡能國者
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
大和には 群山あれど
とりよろふ 天の香具山 登り立ち 国見をすれば 国原は 煙立ち立つ 海原は 鴎立ち立つ うまし国ぞ 蜻蛉島 大和の国は
Phiên âm:
Yamato ni wa
/ murayama aredo / tori yorofu / ame no Kaguyama / noboritachi /
kunimi wo sureba / kunihara wa / kemuri tachitatsu / unahara wa /
kamame tachitatsu / umashi kuni zo / Akitsushima / Yamato no kuni
wa/
Diễn ư:
Trên đất
Yamato núi non trùng điệp nhưng trong những ngọn núi đó, có ngọn nào
đầy đủ ưu điểm như núi Kagu (Hương Cụ Sơn) chăng? Leo lên núi ấy mà
nh́n suốt cả nước th́ thấy khắp b́nh nguyên đâu đâu cũng có khói
thổi cơm ở các nhà dân bốc lên, c̣n trên mặt hồ (ao) Naniyasu rộng
kia th́ biết bao nhiêu chim hải âu bay lượn. Nước Yamato này thật là
một xứ sở tuyệt vời.
Tạm dịch
thơ:
Yamato
trùng điệp / Bao nhiêu là núi non / Nhưng có ǵ sánh được / Núi tên
Hương Cụ Sơn / Ta leo lên đỉnh ấy / Nh́n suốt cả giang san / B́nh
nguyên tỏa khói bếp / Mặt nước bóng âu vờn / Yamato no ấm / Hỏi nơi
nào đẹp hơn?
Núi Kagu nằm
phía Tây Nam huyện Shiki thuộc Nara tương truyền ngày xưa có thần
nhân giáng hạ, cho nên được xem như một ngọn núi linh thiêng. Núi
lại có h́nh dung cân đối, cây cối xum xuê xanh tốt nên không ḥn núi
nào sánh bằng. Khi nà vua lên cao thị sát dân t́nh th́ thấy phong
quang đẹp đẽ của đất nước nên cất tiếng ca ngợi. Trong đoạn đầu, tác
giả đứng ở vị trí khách quan để tŕnh bày sự vật, đoạn hai đi dần
vào lập luận chủ quan. H́nh thức với biển chuyển tâm lư như thế rất
quen thuộc trong thi ca Man.yô. Những câu nói về khói bếp (ám chỉ no
cơm) hay cánh âu (ám chỉ nhiều cá) có khi chỉ để nói lên niềm ước
vọng cho một cảnh đời sung túc chứ chưa chắc đó là thực tế ngoại
giới.
Về mặt h́nh
thức, cụm từ Akitsushima ư nói “ḥn đảo đất đai màu mỡ, có những vụ
mùa ngũ cốc tốt đẹp” cũng đóng vai tṛ của một từ tu sức
(makura-kotoba) cho danh từ Yamato.
Tuy nhiên,
qua bài thơ trên, ta h́nh dung được Yamato như một đất nước có quốc
chính hẳn hoi với một bậc vương giả nhân từ và nơi đó, dân chúng
sống cuộc đời cần cù làm ăn và sung túc.Yamato là một vị trí địa lư
thường được nhắc đến nhiều trong Man.yôshuu.
Sau đây là một ngự chế khác của
Thiên hoàng Jomei (bài 8-1511):
暮去者 小倉乃山尓 鳴鹿者
今夜波不鳴 寐<宿>家良思母
夕されば小倉の山に鳴く鹿は今夜は鳴かず寐ねにけらしも
Yuu sareba /
Kokura no yama ni / nakushika wa / koyoi wa nakazu / ine ni
kerashimo
Trong núi
Kokura / Thường hôm nào cũng vậy / Mỗi khi chiều vào tối / Vọng lại
tiếng nai xa / Hôm nay sao không nghe / Phải chăng nai ngủ sớm?
Mỗi ngày
đúng vào một giờ nào đó, trong núi có tiếng nai vẳng tới. Tiếng nai
đó là tiếng nai đực gọi nai cái, đă trở thành quen thuộc như tiếng
của buổi chiều. Hôm nay không nghe nai kêu, Thiên hoàng cảm thấy một
nỗi buồn trống vắng và ông chỉ mong sao sẽ chẳng có ǵ bất thường,
và biết đâu đó chẳng là một ngoại lệ. Có thể hôm nay nai đă đi ngủ
sớm. Nó cũng có thể xem như dấu hiệu cho thấy ông quan tâm đến mọi
chuyển biến dù nhỏ nhất của đất nước ông trị v́.

Nai (Nguồn Internet)
Qua bài thơ
này, ta thấy được bản tính thuần hậu của nột ông vua như Jomei. Một
bài khác với nội dung tương tự mang số hiệu 9-1664 lại được gán cho
Thiên hoàng Yuuryaku nói trên (thường được xem như một ông vua vũ
dũng nhưng bạo ngược):
暮去者 小椋山尓 臥鹿之 今夜者不鳴 寐家良霜
夕されば小倉の山に伏す鹿の今夜は鳴かず寐ねにけらしも
Yuu sareba /
Ogura no yama ni / fusu shika no / koyoi wa nakazu /
ineni kerashimo
Nội dung hầu
như đồng nhất. Khác chăng chỉ là địa danh Kokura trở thành Ogura và
con nai kêu (naku shika) trở thành nai nằm phủ phục (fusu shika).
Tiết III:
Thơ Quận chúa Nukata
額田王:
Quận chúa
Nukata, c̣n đọc là Nukada, con người cao quí, thông minh và tài sắc
vẹn toàn, là một nhân vật nữ cao cấp, đóng vai tṛ trung tâm trong
làng thơ thời Man.yô. Bà là tác giả bài chôka thứ 16 trong tập thơ
mang chủ đề so sánh mùa xuân và mùa thu bên nào hơn bên nào kém cũng
như 11 bài thơ đẹp như châu ngọc khác. Cuộc đời t́nh cảm đầy sóng
gió của bà xuyên qua những câu thơ ấy đă làm rung động trái tim
người đọc nhiều thế kỷ về sau.
Quận chúa là con gái tước vương
Kagami (Kính vương) và là em gái một quận chúa khác, Kagami Ôkimi,
người cũng đă để lại 4 bài thơ luyến ái trong Man.yôshuu. Bà Nukata
lấy tên vùng đất ḿnh cư trú làm tên riêng. Ban đầu, bà được hoàng
tử Ôama (Đại Hải Nhân, sau là Thiên hoàng Temmu, Thiên Vũ) yêu dấu,
hai bên đă có một con gái tức là quận chúa Tôchi (Tôchi no Himemiko,
hoàng phi của Thiên hoàng Kôbun, Hoằng Văn). Hai ông bà rất đỗi yêu
nhau. Thế nhưng số phận éo le, Nukata lại bị nạp vào cung Thiên
hoàng Tenji (một ông vua anh hùng khác, anh của Temmu, và cũng là
ḱnh địch trên chính trường). Bà phải gạt lệ đi vào hậu cung ở Ômi
của Tenji lúc ấy quyền lực rất lớn (Temmu chỉ c̣n biết đợi thời để
đoạt lại nước cũng như người yêu).
1-20
Dạng
nguyên thủy (Man.yôgana):
茜草指 武良前野逝 標野行
野守者不見哉 君之袖布流
Dạng huấn
độc (đă chua âm)
あかねさす紫野行き標野行き野守は見ずや君が袖振る
Phiên âm:
Akanesasu /
murasaki no yuki / shimeno yuki / nomori wa mizuya/ kimi ga sode
furu
Diễn ư:
Đi ngang qua
cánh đồng thuốc đầy hoa murasaki (một loại hoa nhỏ mùa hạ, cánh
trắng và nhỏ nhắn, có rễ tím rất quí dùng làm thuốc nhuộm áo xống
các bậc vương hầu và có khả năng giải độc) đẹp lung linh, nơi Thiên
hoàng đang tổ chức cuộc săn (tức là hái thuốc), hoàng tử hướng về em
phất tay áo như ra dấu vẫy gọi. Người canh vườn (chồng hiện tại của
em) có thấy không đó? Xin chớ liều lĩnh làm như thế nữa nhé.
Tạm dịch thơ:
Em qua khu vườn cấm / Rợp
“hoa tím” lung linh / Chàng phất tay áo vẫy / Muốn tỏ muôn ư t́nh /
Nhỡ người canh họ thấy / (Lộ hết chuyện đôi ḿnh).
Akane sasu là một từ tu sức
(makura-kotoba) cho cây thuốc nhuộm murasaki, một loại cây
quí. Người ngoài không được bén mảng đến nơi trồng nó, một khu vườn
cấm (shimeno).
Năm thứ bảy sau khi thiên hoàng
Tenji tức vị (668), ngày mồng 5 tháng 5 đă đưa cả quần thần trong đó
có ngự đệ là hoàng tử Ôama đi hái thuốc (kusurigari, dù kari có
nghĩa là đi săn) ở cánh đồng Kamôno (thường là vào mồng 5 tháng 5).
ở Ômi. Trong đám tùy tùng ấy cũng có quí phi của ông là công chúa
Nukata, từng là người yêu và có một mặt con với Ôama. Thế mà Ôama
dám vuốt râu hùm, vẫy ta áo ra hiệu cho Nukata, tỏ t́nh quyến luyến.
Lúc đó Ôama độ 40 và Nukata khoảng 35 tuổi, coi như đă đến tuổi chín
muồi rồi chứ không c̣n trẻ trung ǵ. Công chúa tuy sung sướng biết
người xưa vẫn yêu ḿnh nhưng không khỏi lo sợ v́ cử chỉ bạo dạn đó
đă xảy ra trước đông đảo quần thần, e rằng Tenji (người chồng hiện
tại, nói bóng gió là người có nhiệm vụ giữ khu vườn cấm) ấy biết
được th́ khốn. Bài thơ vừa là lời cảm ơn vừa là lời trách móc Ôama.
Nhất là khi trong t́nh anh em của hai ông vua anh hùng kia (Tenji và
Ôama, sau này trở thành Temmu) đă thấy có đám mây u ám của cuộc
tranh chấp quyền lực bao phủ.
Có thể tưởng tượng được cảnh
trời cao xanh, gió nam ấm áp một ngày đầu hạ, trong không khí hứng
phấn của cuộc săn (hái thuốc), là tâm cảnh phức tạp của ba nhân vật.
Bằng 31 âm thanh ngắn ngủi, công chúa Nukata đă thành công khi diễn
đạt được tâm t́nh vừa yêu thương, vừa cảm kích, vừa lo sợ, vừa trách
móc đó. Âm điệu, màu sắc và giọng thơ đều trôi chảy, đẹp đẽ nhưng
chân thành chứ không có vẻ ǵ là xă giao bề ngoài.

Murasaki
( “Hoa Tím” ) (Nguồn Wikipedia)
Để đáp lời công chúa Nukata,
hoàng tử Ôama cũng đă viết bài đánh số 1-21 liền theo sau:
Hoàng tử Ôama大海人(tức
Thiên hoàng Temmu天武天皇)
1-21
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana)
紫草能 尓保敝類妹乎
尓苦久有者 人嬬故尓 吾戀目八方
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
紫のにほへる妹を憎くあらば人妻故に我れ恋ひめやも
Phiên âm:
Murasaki no
/ nioeru imo wo / nikuku araba / hitozuma yue ni / ware koi meyamo
Diễn ư:
Hỡi nàng con
gái đẹp diễm lệ như cành hoa murasaki kia ơi! Nếu ta thực sự ghét em
v́ bây giờ em đă thuộc của về người khác tức là thành vợ ông anh của
ta th́ cớ sao ta cứ măi măi yêu em nồng nhiệt đến độ không thể nào
giữ ǵn được như giờ đây.
Tạm dịch
thơ:
Lộng lẫy như “hoa tím” / Hỡi
người em gái tôi / Nếu ghét v́ em đă / Thành ra vợ của người / Sao
(ḷng ta nóng bỏng) / Nhớ nhung hoài không thôi?
Luân lư của thời Man.yô tuy
chưa chặt chẽ lắm nhưng đă bắt đầu nghiêm ngặt trong chuyện có t́nh
ư đối với vợ người (hitozuma) rồi. Hoàng tử Ôama, người đàn ông đang
bị xâu xé bởi t́nh yêu, xung động t́nh dục và sự ràng buộc của lễ
nghi, khi gặp đối tượng yêu đương đă có hành động tỏ t́nh khinh suất
trước mặt mọi người. Bài thơ đă nói lên được sự thực của ḷng chàng
và v́ nói rơ được sự thực nên nó rất chân thành và nam nhi.
Chữ Nio trong Nioeru không phải
là “mùi” như nghĩa tiếng Nhật hiện đại (khứu giác) nhưng trong cổ
ngữ, đó là một từ diễn ư “dáng vóc xinh đẹp” (thị giác). Bài thơ này
v́ là một henka (返歌phản
ca, thơ họa lại), cho nên hoàng tử Ôama đă dùng cùng h́nh ảnh cây
hoa murasaki để đối lại với bài thơ trước của công chúa Nukata vốn
đă nói đến hoa này.
Một chi tiết thú vị là hai bài
thơ trên đây được các nhà biên soạn Man.yôshuu xếp vào loại zôka
(tạp ca) gồm cả các bài thơ làm ra ở chốn công đường chứ không phải
trong mục sômonka (tương văn ca) như thơ luyến ái. Trong Man.yôshuu,
loại zôka được sắp lên hàng đầu, trước cả sômonka và banka chứ không
phải bị xem như loại thơ đa tạp, vụn vặt đặt ở cuối những thi tập
đâu. Điều này chứng tỏ hai bài thơ đó đă được trao đổi ở bàn tiệc
của triều đ́nh, trước mặt công chúng và cả Thiên hoàng Tenji. Do đó,
nó cho ta thấy hai người t́nh nhân này rất dạn dĩ, nếu không nói là
đang đùa với lửa.
Hoàng tử Naka no Ôe中大兄皇子
(tức Thiên hoàng Tenji天智天皇)
T́nh cờ hay hữu ư, ba bài thơ
sau đây của Hoàng tử Naka no Ôe và cũng là người được biết dưới cái
tên Thiên hoàng Tenji (tại vị 668-671, 626-671), một ông vua anh
hùng trong lịch sử Nhật Bản, có nói đến quan hệ tay ba của ...ba ḥn
núi.
1-13
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana)
高山波 雲根火雄男志等 耳梨與
相諍競伎 神代従 如此尓有良之 古昔母 然尓有許曽 虚蝉毛 嬬乎 相<挌>良思吉
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
香具山は 畝傍を愛しと 耳成と
相争ひき 神代より かくにあるらし 古も しかにあれこそうつせみも 妻を争ふらしき
Phiên âm:
Kaguyama wa
/ Unebi wo oshi to / Miminashi to / aiarasoiki / kamuyo yori / kaku
ni aru rashi / inishie mo / shika ni are koso / utsumemi mo / tsuma
wo arasou rashiki /
Diễn ư:
Ta nghe nói
v́ núi Unebi yêu núi Kagu nên tranh nhau với núi Miminashi.H́nh như
từ đời thượng cổ (đời các thần) đă có câu chuyện đó. Bởi v́ xưa đă
từng xảy ra,
nên người
thời nay cũng đi tranh vợ với nhau như thế.
Đây là một
chôka kể lại truyền
thuyết mối
t́nh tay ba của ba ngọn núi gọi là Đại Ḥa tam sơn v́ chúng cùng nằm
trên b́nh nguyên Yamato. Sau phải nhờ đến
thần Abô
no Ôkami từ Izumo (nay thuôc tỉnh Shimane phiá biển Nhật Bản) lên
dàn xếp
nhưng khi thần đến nơi
th́ mọi việc
đă an bài. Tương truyền thuyền
của thần
đi đến
cánh đồng
Inami kunihara ở
Harima th́ bị lật
úp phải ở lại, nơi đó c̣n một cái g̣ làm dấu tích.
Có lẽ sau
khi đi đánh Shiragi (Tân La) về, ghé qua cánh đồng,
hoàng tử Naka no Ôe đă vịnh bài thơ đó. Chuyện này hẳn dính dáng đến
mối
t́nh chung của hai anh em ông và có một cuộc
tranh chấp đă xảy ra.
Tạm dịch
thơ:
Giữ Kagu không thả / Hùng hổ Unebi / Tranh t́nh yêu
người đẹp / Trước Miminashi / Ta nghe rằng việc ấy / Từng có tự lâu
rồi / Vỡ lẽ ra tranh vợ / Đâu chuyện đời nay thôi!
1-14
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana)
高山与 耳梨山与 相之時 立見尓来之
伊奈美國波良
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
香具山と耳成山と闘ひし時立ちて見に来し印南国原
Phiên âm:
Kaguyama
to / Mimnashiyama to / aishi toki / tachite mikoshi / Inami kunihara
/
Diễn ư:
Ôi, đây có
phải là cánh đồng Inami kunihara, nơi thần Abô no Ôkami đă từng đứng
chứng kiến
cảnh tranh chấp một người đàn bà của
hai ḥn núi Kagu và Miminashi ?
Trong bài
này, khác với
ư trong chôka, Kagu và Miminashi mới là hai ngọn núi đàn ông
t́nh địch và có thêm một khách bàng quan đứng ngắm là ông thần Abô.
Bài này c̣n gợi cho ta thấy t́nh cảm thiêng liêng của hoàng tử Naka
no Ôe đối với non sông đất nước trường cửu đă có từ đời các thần
(jindai).
Tạm dịch
thơ:
Có phải nơi đây là / Đồng Kunihara / Thần Abô chứng
kiến / Một chuyện t́nh tay ba / Hai ḥn núi ganh tị / V́ một bóng
đàn bà ? /
1-15
Dạng nguyên thủy (Man.yôgana)
渡津海乃豊旗雲尓 伊理比<紗>之
今夜乃月夜 清明己曽
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
海神の豊旗雲に入日さし今夜の月夜さやけくありこそ
Phiên âm:
Watatsumi
no / toyohatakumo ni / irihisashi / koyoi no tsuku yo / sayakeku ari
koso /
Diễn ư:
Trên mặt
biển rộng, mây bay như những lá cờ phất phới. Những tia nắng chiếu
xuyên
qua đám mây trông thật tráng lệ. Chắc hẳn khi trời về chiều
và đêm xuống,
trăng cũng trong vắt và sáng ḷa.
Bài thơ này
rất hào hùng, có khẩu khí của một bậc thiên tử tương lai, người đă
đảo chánh quyền
thần
Soga, cải cách nhà nước và trung hưng vương thất.
Tạm dịch
thơ:
Mây như
cờ phất phới / Mặt biển rộng bao la / Ánh mặt trời sáng lóa / Chiếu
dơi khắp gần xa /
Chắc rằng đêm có xuống/ Trăng thanh cũng rạng ngời /
Quận chúa Nukata có vẻ là một
người đa t́nh. Đă đành bà yêu Temmu (Ôama) nhưng đối với Tenji (Naka
no Ôe), ông chồng oai hùng ấy, bà cũng đă tỏ rơ t́nh cảm yêu mến và
khó ḷng nói là lúc ấy bà không chân thực. Hăy xem bài 4-488 sau
đây:
4-488
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana):
君待登 吾戀居者 我屋戸之
簾動之 秋風吹
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
君待つと我が恋ひ居れば我が宿の簾動かし秋の風吹く
Phiên âm:
Kimi matsu
to / wa ga koi ireba / wa ga yado no / sudare ugokashi / aki no kaze
fuku
Diễn ư:
Trong khi
ḷng em đang nhớ nhung, chờ đợi xa giá quân vương đến chơi th́ bức
mành mành nhà em bỗng phất phơ, phát ra âm thanh nhẹ nhàng. Tưởng
ngài đến nên ḷng em chợt hết lo âu, chẳng dè tiếng động ấy chỉ là
do trận gió thu tạt ngang bức mành thôi.
Tạm dịch
thơ:
Thiếp tựa
của mong sao / Hôm nay xa giá đến / Chợt nghe tiếng lao xao / (Ḷng
mới nguôi lo lắng) / Dè đâu trận gió thu / Thổi nhẹ qua rèm vắng.
Đây là một bài thơ b́nh dị nhẹ
nhàng và cảm động. Buổi chiều hôm đó có tin Thiên hoàng sẽ ngự tới
cung ḿnh nên quận chúa (hoàng phi) đă sửa soạn để tiếp rước và lặng
lẽ đợi chờ. Khi nghe tiếng rèm cửa lay động lao xao, nàng tưởng nhà
vua đă tới và mới hết lo âu, như thở hắt được ra. Tuy không có kỹ
xảo tu từ nhưng bà đă bày tỏ được tấm ḷng mong nhớ dịu dàng mà sâu
sắc của một người đàn bà khi đang dồn hết tâm trí để lắng nghe một
tiếng người qua.
Bài này có thể đă được đem dâng
lên Thiên hoàng nhưng sách vở không chép lại bài họa (henka) nào của
ông. Có lẽ v́ là một ông vua anh hùng, chuộng hành động hơn là lời
nói, ông đă trực tiếp t́m đến bà ngay chăng?
Qua hai bài 1-20 và 4-488 của
quận chúa Nukata, ta thấy bà vừa thông minh, tao nhă, vừa khả ái vừa
sâu sắc. Bà không bao giờ quên hoàn cảnh phức tạp của ḿnh đang sống
và những người chung quanh, nên thuận theo ḍng đời một cách b́nh dị
và thanh thoát chứ không hề khóc than cho số phận.
Dưới chế độ nhất phu đa thê,
những người đàn bà phải chờ đợi chồng ban đêm đến thăm (Người Nhật
cổ gọi là aitsuu = tương thông). Bài thơ của bà, cũng như những bài
thơ cùng loại của các mệnh phụ khác (như bài thơ của Sotoori hime
viết cho Thiên hoàng Ingyô chẳng hạn)
đă nói dược lên tâm t́nh nhớ mong của
những người phụ nữ có chung cảnh ngộ khi màn đêm xuống.
Quận chúa Nukata c̣n có một bài
thơ khác và từng được một cuộc trưng cầu ư kiến độc giả thời đại
chúng ta đánh giá là một trong 10 bài thơ hay (hoặc ít nhất là có ư
nghĩa quan trọng hơn cả) trong thơ Vạn Diệp. Bài ấy không phải thơ
t́nh nhưng có dụng ư chính trị. Như sau:
1-8
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana):
熟田津尓船乗世武登 月待者 潮毛可奈比沼
今者許藝乞菜
Dạng huấn độc
(đă chua âm):
熟田津に船乗りせむと月待てば潮もかなひぬ今は漕ぎ出でな
Phiên âm:
Nikitatsu (Nigitatsu) ni /
funanori semu (sen) to / tsuki mateba / shio mo kanainu / ima wa
kogi idena
Diễn ư:
Vừa khi đợi trăng mọc để cho
thuyền rời bến Nikita (có sách đọc là Nigita) th́ đúng lúc thủy
triều đă dâng lên đầy ắp. Nào nào, hăy cùng nhau chèo chống ra khơi
!
Nếu không t́m hiểu bối cảnh ra
đời của bài thơ th́ ta đă có thể tưởng là một bài thơ nói về cảnh
đẹp đêm trăng hay sinh hoạt dân chài. Thật ra nó là một hịch văn “bỏ
túi” để khuyến khích tướng sĩ.
Tháng giêng năm 661, Nữ thiên
hoàng Saimei cất quân sang bán đảo Triều Tiên giúp di thần của tiểu
quốc Kudara (Bách Tế) chống lại sự xâm lấn của người Shiragi (Tân
La), một tiểu quốc khác nằm trên bán đảo vốn có một đồng minh đáng
ngại là nhà Đường (618-907). Sau khi tạm dừng chân ở Nikita (hay
thuộc thị trấn Matsuyama, tỉnh Ehime), chiến thuyền Yamato lại rời
bến để đi về phía Tây. Nukata chắc với địa vị một nữ quan hay thơ,
đă đại diện thiên hoàng làm bài thơ kêu gọi đó dù cũng có thuyết chủ
trương thơ này là của chính Saimei.
Trong chuyến đi, có cả các nhân
vật lănh đạo tương lai như hai hoàng tử Naka no Ôe (về sau là Thiên
hoàngTenji) và Ôama (về sau là Thiên hoàng Temmu) cũng như nhiều
công chúa. Bài thơ nói lên không khí hứng khởi của đoàn quân đang
gặp lắm điều kiện thuận lợi cho cuộc hành tŕnh như trăng sáng, biển
lặng, nước ṛng. (Thế nhưng sau khi ghé cảng Hakata ở Kyuushuu và
sang đến Triều Tiên, đoàn quân này đă đại bại ở Hakusuki no e (hay
Hakusonkô, ở vị trí cửa sông Cẩm Giang bây giờ) trước liên quân
Đường – Shiragi vào năm 663). Vương triều Kudara hoàn toàn bị tiêu
diệt. Nhờ đó, người Nhật đă tỉnh ngộ, rút quân về và Tenji làm nên
cuộc cải cách năm Taika (Taika no kaishin, 645), chấn chỉnh lại nội
bộ và đưa đất nước đi lên.
Tạm dịch thơ:
Đang khi chờ trăng mọc / Để
rong thuyền khơi xa / Bến Nikita ấy / (Ḱa bao đoàn quân ta) / Thủy
triều giờ đă ngập / Nhanh tay mà chèo ra /
Tiếp theo đây là một bài thơ
nổi tiếng khác của quận chúa Nukata (bài 1-16), khi có cuộc tranh
luận giữa triều thần xem giữa mùa xuân và mùa thu, bên nào đẹp hơn
(xuân thu tranh ưu luận) .
1-16
Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):
冬木成春去来者 不喧有之 鳥毛来鳴奴
不開有之 花毛佐家礼抒 山乎茂 入而毛不取 草深 執手母不見 秋山乃 木葉乎見而者 黄葉乎婆 取而曽思努布 青乎者 置而曽歎久曽許之恨之
秋山吾者
Dạng huấn độc (đă chua âm):
冬こもり春さり来れば 鳴かずありし
鳥も来鳴きぬ 咲かずありし 花も咲けれど 山を茂み 入りても取らず 草深み 取りても見ず 秋山の 木の葉を見ては 黄葉をば 取りてぞ偲ふ
青きをば 置きてぞ嘆く そこし恨めし 秋山吾は
Phiên âm:
Fuyugomori / harusari kureba / nakazarishi / tori mo
kinakinu / sakazarishi / hana mo sakeredo / yama wo shimi / torite
mo torazu / kusa fukami / torite mo mizu / akiyama no / kono ha wo
mite wa / momiji wo ba / torite zo shinofu / aoki wo ba / okite zo
nageku / sonoshi urame shi / akiyama ware wa.
Diễn ư:
Mùa đông vừa dứt và xuân đă
đến, những con chim nằm im trong tổ bắt đầu cất tiếng hót. Cây khô
lại bắt đầu ra hoa thắm. Thế nhưng cây trong núi quá rậm rạp cho nên
thân gái như ta không có thể vào đó kiếm hoa. Cỏ lại mọc dày măi
trong sâu đến nổi không sao nh́n ra hoa để hái. Trong khi đó, khi
trời vào thu, ta có thể bẻ cành cây lá đỏ mà trực tiếp thưởng thức
vẻ đẹp của nó. Riêng nhưng cành hăy c̣n xanh, ta cứ để nó nguyên
trên cành và than thở sao nó chưa chịu đổi màu. Núi mùa thu đẹp hơn
núi mùa xuân nhưng riêng có điểm nói trên th́ ta lấy làm tiếc. Kết
cuộc, nếu so sánh, ta vẫn phải thiên về cảnh núi mùa thu.
Tạm dịch thơ
Đông qua xuân vừa tới/ Chim
thức giấc ḥa ca / Cành khô dù điểm thắm / Rừng rậm khó t́m hoa / Cỏ
xuân dày khắng khít / Ai mà nh́n cho ra! Cảnh thu th́ ngược lại / Lá
hồng trong tay ta / Bẻ xuống ngắm tận mắt / Riêng cành xanh bỏ qua /
Vẫn để nguyên trên đó / Sao chẳng chuyển sang đỏ ? / Hai mùa nếu so
sánh / Tiếc điều đó chăng là / Nhưng dù xuân có đẹp / Ta chỉ ngóng
thu xa.
Chuyện xảy ra vào một hôm (có
lẽ sau khi dời đô về Ômi năm 667) khi Thiên hoàng Tenji nói với đại
thần Fujiwara no Kamatari hăy ra đề luận xem hoa trên núi mùa xuân
và lá đỏ trên núi mùa thu cái nào đẹp hơn (xuân sơn vạn hoa lệ, thu
sơn thiên diệp thái) th́ quận chúa Nukata nhân đó đưa ra bài thơ để
đánh giá và đặt giá trị của mùa thu lên trên mùa xuân. Ban đầu, bà
đưa ra những điểm mạnh của mùa xuân, sau đó mới gợi ra những khuyết
điểm của nó. Tiếp đến bà cũng đưa ra cái hay cái dở của mùa thu để
đi tới kết luận cho mùa thu thắng cuộc.
Việc tranh luận về ưu khuyết
điểm và sự đối lập của hai mùa (xuân thu tranh ưu luận)
đă được nhắc tới trong đoạn 15
(Akiyama no shitai otoko / haru yama no shitai otoko) của tập sử thư
Kojiki và chương Usugumo (Phận mỏng như mây) của Truyện Genji. Cũng
vậy tập nhật kư Sarashina cũng chép lại việc công chúa Yuushi bàn
với Minamoto no Sukemichi về cái hay cái dở của hai mùa và đă chọn
mùa xuân thay v́ mùa thu. Ngược lại, Shuuishuu (Thập Di Tập) quyển 9
phần Tạp hạ th́ lại đưa ra một bài thơ bênh vực và tán dương mùa
thu.
Về mặt h́nh thức, cụm từ
fuyugomori là một từ tu sức (makura-kotoba) để nói việc mùa xuân đă
đến và liên kết nó với sự ra đi của mùa đông (fuyu). Shinofu nghĩa
thời Nara có nghĩa là thưởng thức, tưởng nhớ, chưa trở thành shinobu
(nhớ lại, chiu đựng, nhẫn nhục) như bây giờ. Về mặt ư nghĩa th́ sự
có mặt của bài chôka này rất quan trọng. Lư do là dưới triều Ômi,
trong cung, mỗi khi yếu ẩm, người ta chỉ chuộng Hán thi. Hơn nữa bên
cạnh Hán thi diễm lệ và khá cầu kỳ th́ bài thơ viết bằng quốc văn
mộc mạc như thế này lại có cái ǵ tươi mới và dân tộc.
Nhân nói về việc thiên đô đến
Ômi, tuy đó là việc lớn của quốc gia quyết định bởi Thiên hoàng
Tenji nhưng nó đă để lại trong ḷng những người tùy tùng của ông
nhiều cảm khái khi họ phải rời khỏi vùng Asuka nơi có kinh đô cũ,
băng qua xứ Yamashiro để vào đất Ômi. Quận chúa Nukata cũng vậy, bà
không hết có dịp nh́n thấy lại ngọn Miwayama (Tam Luân Sơn) xưa nay
sớm chiều vẫn như ở bên cạnh ḿnh:
1-18
Dạng nguyên thủy (Man.yôgana):
三輪山乎 然毛隠賀 雲谷裳
情有南畝 可苦佐布倍思哉
Dạng huấn độc
(đă chua âm):
三輪山をしかも隠すか雲だにも心あらなも隠さふべしや
Phiên âm:
Miwayama wo
/ shikamo kakusu ka / kumo da ni mo / kokoro arana mo / kakusafu
(kakusô) beshi ya /
Diễn ư:
Núi Miwa trong đất Yamato nhớ
thương ơi, mi trốn ta như thế sao? Ta mong ngươi ít nhất cũng mang
chút nỗi ḷng như đám mây dày đang trùm kín ngươi. Núi ơi, ta ngoảnh
lại bao nhiêu lần để nh́n thấy mi mà nấp măi trong mây như thế à ?
Đây là bài hanka tiếp sau một
chôka, thơ chia tay với núi Miwa. Núi ấy không phải một ngọn núi
thường. Nó là nơi cư ngụ của của thần núi Ômiwa vốn mang xác rắn (xà
thể), đáng tôn kính và cũng đáng khiếp sợ. Trong Kojiki (Cổ Sự Kư,
712) đă chép truyền thuyết (Miwayama densetsu) về thần rắn trên núi
Miwa ban đêm giả dạng đàn ông đẹp trai đến thông dâm cùng con gái
nhà lương dân, sáng ra lại lẻn về núi (truyện nàng Ikutama
yoribime). Nàng mang thai (sau đẻ con trai ra là tổ tiên họ Miwa).
Một hôm cha mẹ cô cài giây vào chéo áo để ṃ theo dấu th́ thấy người
đàn ông đó đi về phía núi. Hoá ra là thần rắn Ômiwa. Do đó, bài thơ
này có khi không chỉ nói lên t́nh cảm đối với kinh đô cũ nhưng có
nhiệm vụ lễ nghi tôn giáo là thay mặt Hoàng tử Naka no Ôe (Tenji) để
trấn yểm quỷ thần, trước tiên là thần núi Miwa, sau là chư thần toàn
cơi Yamato.
Có tác giả lại suy luận rằng
đây chỉ thuần túy là một bài thơ t́nh. Ngọn Miwa là Ôama, ông chồng
cũ. Theo đó, tác giả chỉ tỏ nỗi ḷng se sắt và quyến luyến người xưa
mà thôi.
Tạm dịch thơ:
Miwa ơi hỡi núi / Cớ ǵ lẫn
trốn ta / Hay muốn trùm mây trắng / Tỏ ḷng buồn cách xa / Bao lần
nh́n ngoái lại / Vẫn dấu mặt không ra /
Quận chúa
Kagami (Kagami no Ôkimi
鏡女王)
Người chị của quận chúa Nukata
là quận chúa Kagami (Kagami no Ôkimi
鏡女王),
tuy địa vị cao quí, cũng là một người suốt đời t́nh cảm hẩm hiu. Ban
đầu, bà được Thiên hoàng Tenji (chồng cô em) sủng ái nhưng sau lại
được (bị) vua gả làm vợ chính thức cho đại thần Fujiwara no
Kamatari, một công thần của ông. Chẳng ngờ số phận đen đủi, đến năm
Temmu thứ 12 (Temmu là chồng trước của cô em) th́ bà lại mất. Sử thư
Nihon Shoki có chép việc Temmu có thân hành ngự giá đến thăm khi
bệnh bà đă nguy kịch. Công chúa Kagami đă để lại 4 bài thơ trong
Man.yôshuu. Xin chọn dịch liên tiếp hai bài 4-489 và 2-92:
4-489
Dạng Man.yôgana:
風乎太尓 戀流波乏之 風小谷 将来登時待者
何香将嘆
Dạng huấn độc
(đă chua âm):
風をだに恋ふるは羨し風をだに来むとし待たば何か嘆かむ
Phiên âm:
Kaze wo da ni / kouru wa
tomoshi / kaze wo da ni/ komu to shi mataba / nani ka nagekamu
Diễn ư:
Này cô em gái tôi ơi, nghe
tiếng gió lao xao động mành cửa mà cô đă rộn ràng như thế, cô thật
là người có phước. Chỉ nghe mỗi tiếng gió thôi mà ḷng đă em tôi đă
dao động như vậy, chị ghen với cô đấy. Cô ḿnh c̣n được nhà vua
(Thiên hoàng Tenji, chồng chung của hai ta) đoái hoài t́m đến, chứ
chị đây chỉ biết thở vắn than dài.
Tạm dịch thơ:
Nghe gió em rộn ràng / Chị
ước được như em / Nghe gió em c̣n đợi / Bóng quân vương đến thăm /
Riêng ḷng chị nức nở / Ghen cả với t́nh em.
Bài thơ này, quận chúa Kagami
làm ra để họa lại bài thơ của cô em gái, công chúa Nukata, đă nhắc
đến ở trên (4-488). Tuy không rơ bà viết bài này (4-489) vào thời
nào nhưng sử chép bà hết c̣n được Thiên hoàng Tenji yêu thương nên
ông mới đem gả bà cho Fujiwara no Kamatari như món quà tặng người
bầy tôi đắc lực. Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, chồng bà cũng thành
người thiên cổ, bà phải sống trong cô pḥng, thành ra lời thơ mới
năo nuột như vậy.
Cụm từ Kaze wo da ni lập lại
hai lần như muốn nhấn mạnh ḷng thèm thuồng số phận của cô em tốt
phúc, tăng thêm ngữ khí cho câu cuối Nani ka nagekamu. Thiên hoàng
Tenji, đối tượng của cô em, ngày xưa cũng đă có thời chiều chuộng
ḿnh (xin xem tiếp bài 2-92 sau đây, đánh dấu những ngày yêu đương
đó). Và bà cũng đă được nhà vua ban cho một bài thơ đầy lời lẽ dịu
ngọt nữa (bài 2-91). Nhưng nay chỉ c̣n tiếng kêu uất nghẹn của một
người đàn bà đă đánh mất t́nh yêu, lẽ sống của ḿnh. Nhất là t́nh
yêu ấy vốn âm thầm, câm nín nhưng bền bĩ:
2-92
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana):
秋山之樹下隠 逝水乃 吾許曽益目 御念従者
Dạng huấn độc
(đă chua âm):
秋山の木の下隠り行く水の我れこそ益さめ御思ひよりは
Phiên âm:
Akiyama no / ko no shitagakuri / yuku mizu no / ware
koso masame / omowazu yori wa
Diễn ư:
Ḍng nước nấp dưới những lớp lá rụng của rừng trên
núi thu vẫn âm thầm chảy và mỗi ngày càng dạt dào thêm nhưng người
bên ngoài nào có biết cho đâu. Ḷng của thiếp thương tưởng đến quân
vương thật c̣n thắm thiết hơn cả tấm t́nh vô cùng quí hóa của ngài
đối với thiếp nữa kia.
Tạm dịch thơ:
T́nh thiếp như nước chảy /
Dưới lá rụng rừng thu / Tuôn ra dào dạt bấy / Mà ai thấy cho đâu /
Quân vương dầu đoái tưởng / Nồng nàn hơn thiếp sao!
Đây là bài phụng họa bài ngự
chế (2-91). Quận chúa Kagami cho biết t́nh yêu của bà cũng như ḍng
nước tuy bị lá núi rụng che khuất nhưng vẫn chảy dạt dào. Lối ví von
này thật nhẹ nhàng và thấm thía, ư nói thiếp câm nín, ôm nỗi khổ một
ḿnh riêng không cho ai hay. Đó cũng ẩn dấu một lời trách móc nhẹ
nhàng (T́nh yêu của ngài không tương xứng với t́nh yêu của thiếp).
Qua hai bài thơ của bà, chúng ta h́nh dung ra được một nàng quận
chúa mà sự ôn ḥa, nhu ḿ trên bề mặt che lấp một t́nh yêu đam mê và
bỏng cháy trong đáy ḷng.
Ngự chế ấy (bài 2-91) của Tenji
nguyên văn như sau:
2-91
Dạng nguyên thủy
(Man.yôgana):
妹之家毛 継而見麻思乎 山跡有
大嶋嶺尓 家母有猿尾 [一云妹之當継而毛見武尓]
[一云 家居麻之乎]
Dạng huấn độc
(đă chua âm):
妹が家も継ぎて見ましを大和なる大島の嶺に家もあらましを
[一云
妹があたり継ぎても見むに]
[一云家居らましを]
Phiên âm:
Imo ga ie mo / tsugite mimashi wo / Yamato naru /
Ôshima no ne ni / ie mo aramashi wo / (imo ga atari / tsugite mo
minu ) / (ie wo ramashi wo) /
Diễn ư:
Ta muốn măi măi nh́n được ngôi
nhà em ở ! Tiếc quá, nhà em nếu ở trên đỉnh cao của Ôshima (trong
vùng) Yamato th́ ta lúc nào mà chẳng được thấy em!
Thiên hoàng dùng chữ “ne” là
đỉnh núi cho nên quận chuá Kagami mới đáp lại bằng akiyama (núi
thu). Núi thu là một từ để chỉ nỗi buồn, cả sự chết chóc (xem thơ
Hitomaro khóc vợ trong những trang sau th́ rơ). Khi ông xướng “yoku
miereba ii no ni” (phải chi như thế lúc nào mà chẳng thấy) th́ bà
dùng “kakuremizu” (nước khuất dưới lá rừng thu), để phủ nhận luận
điệu của ông. Riêng lời thơ của ông có toát ra một cái ǵ gượng gạo
và biện bạch.
Tạm dịch thơ:
Ḷng luôn
luôn nghĩ tới / Ngôi nhà người em ta / Phải chi cất
trên đỉnh / Cao như Ôshima / Th́ đứng
đâu cũng thấy
/ (Đỡ khổ cảnh chia xa) /
Tiết IV:
Thơ Hoàng Hậu Yamato 倭大后
Hoàng hậu Yamato (Yamato no
Ôkisaki) chữ Hán viết là Nụy Đại Hậu, con gái của Hoàng thái tử
Furuhito,
cháu nội Thiên hoàng Jomei, đă được Thiên hoàng Tenji (hàng chú của
bà v́ Tenji là con thứ hai của Jomei) tấn phong hoàng hậu vào năm
Tenji thứ 7. Trong Man.yôshuu quyển 2, bà có 1 bài chôka và 3 bài
tanka. Sau đây là 2 trong 3 bài tanka đó, đều được xếp vào loại
banka (thơ điếu tang). Chữ hoàng hậu ở đây viết bằng hai chữ Hán
“đại hậu” chỉ muốn cho biết bà là vợ chính (đích thê = chakusai) để
phân biệt với các phi tần khác.
2-147
Nguyên
văn (dạng Man.yôgana):
天原 振放見者 大王乃
御壽者長久 天足有
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
天の原振り放け見れば大君の御寿は長く天足らしたり
Phiên âm:
Ama no hara
/ furisake mireba / ôkimi no / mi-inochi wa nagaku / amatarashitari
Diễn ư:
Ngước nh́n
lên bầu trời cao thấy trời kia cao rộng và dài lâu vĩnh cửu. V́ trời
là tượng trưng cho bậc thiên tử nên thiếp chắc chắn tuổi thọ của bệ
hạ cũng sẽ lâu dài như trời đất.
Tạm dịch
thơ:
Ngước
nh́n lên trời cao / Bao la và cao sâu / Trời tượng trưng thánh chúa
/ Ḷng không nghi chút nào / Thọ mệnh của bệ hạ / Cùng trời đất dài
lâu.
Đây là bài thơ nói về việc
hoàng hậu Yamato khấn nguyện cho chồng là Thiên hoàng Tenji đang bị
bệnh chóng b́nh phục. Người đời thượng cổ tin vào sức mạnh thần bí
của bầu trời, cho rằng không gian có thể chi phối vận mệnh của con
người nên sùng bái nó. Chắc lúc này triều thần đang nh́n thiên tượng
để đoán việc cát hung của nhà vua và khi hoàng hậu ngước nh́n lên
thấy bầu trời rộng bao la không bến bờ, bà mới quyết đoán rằng chồng
ḿnh nhất định sẽ qua khỏi. Đây cũng là một lời khuyến khích chồng
chiến đấu với bệnh tật. Bài thơ tuy đơn sơ, không có ǵ đặc sắc,
nhưng mạnh mẽ, tràn đầy sự kính mến của bà đối với chồng.
2-148
Nguyên
văn (dạng Man.yôgana):
青旗乃 木旗能上乎 賀欲布跡羽
目尓者雖視 直尓不相香裳
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
青旗の木幡の上を通ふとは目には見れども直に逢はぬかも
Phiên âm:
Aohata no /
kohata no ue wo / kayou to wa / me ni wa miredomo / tada ni awanu
kamo
Diễn ư:
Những chiếc
phướn màu xanh cắm trên lăng của nhà vua bay phất phới th́ quả là
mắt của thiếp có nh́n thấy rơ ràng. Thế nhưng long nhan th́ từ đây
không bao giờ được chiêm ngưỡng nữa nên ḷng thiếp buồn làm sao !
Tạm dịch
thơ:
Phướn
xanh bay phất phơ / Ở trên vùng lăng tẩm / Mắt thiếp nh́n rơ ràng /
Riêng ḷng buồn vô hạn / V́ từ nay măi măi / Không được thấy long
nhan.
Đây là sáng
tác của hoàng hậu Yamato sau khi Thiên hoàng Tenji băng hà. Người
đời xưa tin rằng khi người ta lâm bệnh nặng hay chết đi th́ linh hồn
vất vưởng trên trời cao. V́ thế, hoàng hậu đă ngước lên trời, khấn
nguyện cho chồng b́nh phục. Nay chồng đă chết, bà chỉ c̣n biết nh́n
những tấm phướn màu xanh trên vùng Yamashina, nơi có lăng tẩm của
ông mà nhớ về kỹ niệm những ngày thiên hoàng c̣n sống chứ sẽ không
c̣n có dịp gặp nhau nữa.
Tâm trạng
trong thơ rất gần gủi với sự thực ngoài đời. Nếu bài thơ trước trang
trọng th́ bài này có nhiều cảm khái. Về mặt h́nh thức, có thuyết cho
rằng cụm từ aoki no kohata là một từ tu sức chỉ việc tang lễ.
Chữ kohata trong câu đầu có thuyết cho là cây cờ, có thuyết
cho là một địa danh ở gần khu lăng tẩm.
Tiết V:
Thơ Nữ thiên hoàng Jitô持統天皇
Nữ thiên hoàng Jitô trước khi
lên ngôi là con gái Thiên hoàng Tenji và hoàng hậu của Thiên hoàng
Temmu.Sau khi Temmu băng, con ruột là Thái tử Kusakabe mất sớm, bà
tức vị. Khoảng 7 năm sau, bà nhường ngôi cho cháu nội là Karu no
Ôkimi, con trai cả của Kusakabe, tức Thiên hoàng Mommu. Mất lúc 58
tuổi. Bà là một nhà cai trị lỗi lạc, khi chết được thần dân thương
tiếc (qua những bài thơ ai điếu trong lễ hỏa táng) nhưng cũng là kẻ
có ư chí sắt đá và nhiều khi tàn nhẫn. Ngự chế có 4 bài tanka (trong
quyển 1, 2 và 3) và 2 bài chôka (quyển 2) nhưng bài tanka trong
quyển 3 không lấy ǵ làm chắc.
1-28
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
春過而 夏来良之 白妙能
衣乾有 天之香来山
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
春過ぎて夏来るらし白栲の衣干したり天の香具山
Phiên âm:
Haru sugite
/natsu kitarashi/ shirotae no / koromo hoshitari / ame no Kaguyama
Diễn ư:
Mùa xuân mới
qua th́ mùa hạ đă đến. Trên ngọn Kaguyama linh thiêng như xuống tự
trời cao, có những tấm áo trắng đẹp được đem ra phơi trên đó.
Tạm dịch
thơ:
Xuân đi
qua mất rồi / Hạ cũng vừa đến nơi / Bao nhiêu áo trắng đẹp / Đem
hong nắng bên đồi / Ngọn Kagu linh hiển / Như hạ cánh từ trời.
Ngọn
Kaguyama nằm cách cung điện Fujiwara (dời đô về đấy năm Jitô thứ 8
tức 694) của bà Jitô khoảng trên nửa cây số. Dưới bầu trời xanh lơ,
trên lưng núi cây xanh lục mơn mởn, dân chúng đă đem áo trắng vừa
giặt xong ra phơi nắng mới . Có thể tưởng tượng đây là lúc thời tiết
giao mùa cuối xuân đầu hạ khi hoa anh đào dại (yamazakura) hăy c̣n
chưa tàn trên một số cành.
Lúc này thời
tiết đă ấm áp, người ta bắt đầu thay áo trắng (koromogae) cho nên
cảnh tượng của một vùng chỉ toàn là những màu sắc tươi tắn nhất là
khi những cánh áo trắng lấp lóa ánh nắng trong làn gió nhẹ đầu hè
như những cánh bướm. Từ cung điện nh́n ra ngọn núi Kaguyama, chứng
kiến cuộc sống thanh b́nh của người dân, nữ hoàng đế không khỏi cảm
động, tức cảnh sinh t́nh. Bài thơ rất sống động, khung cảnh thiên
nhiên như vẽ được ra trước mắt độc giả. Ngoài ra, bài thơ cũng làm
người ta thấy phảng phất đâu đây h́nh ảnh diễm lệ và uy nghi của nữ
hoàng bên cạnh các thị nữ và đ́nh thần.
Có những bài
thơ tập trung vào cảm giác chính là thính giác như bài thơ vịnh mùa
thu của Fujiwara no Toshiyuki Ason trong Kokin-shuu
th́ bài thơ này, cảm giác chính là thị giác. Và khi bài thơ mang lại
màu sắc tươi tắn và phong phú như vậy, nó thể hiện được tâm t́nh
sảng khoái, vui tươi của người trong cuộc.
Tâm t́nh của
con người cổ đại đối với thiên nhiên thường tùy thuộc vào cuộc sống
vật chất của họ. Thích xuân và thu nhưng lại ghét hạ và đông. Đối
với những kẻ văn hóa c̣n thấp kém như người thường dân th́ hạ và
đông chỉ đem lại những khó khăn và bức bách (nóng nảy, lạnh lẽo, dễ
mệt mỏi lúc làm việc, khó kiếm miếng ăn). Do đó họ vui mừng khi
thoát được cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông hay cái nóng dữ dội của
mùa hè. Do đó thơ vịnh xuân (nắng ấm) và thu (gió mát) th́ nhiều,
chứ ít thấy thơ viết về hạ và đông .
Tuy nhiên,
dưới triều đại Jitô, có thể sinh hoạt vật chất của người dân Nhật dễ
chịu hơn trước, họ đă có khả năng nh́n được thiên nhiên như một
khách thể nên mới có những bài thơ nói về mùa hạ như thế này. Cũng
có khi v́ vị nữ hoàng đế này, sống trong cung điện, không hiểu hết
được thực tế khó khăn của cuộc sống bên ngoài và bà chỉ thấy cái mặt
tốt của mùa hạ. Tâm t́nh của bà v́ thế nên tao nhă, khác những vần
thơ của đại chúng nói chung?
Bài thơ này
đă được Fujiwara no Teika xem là một giai tác và tuyển như 1 trong
100 bài vào tập Hyakunin Isshu (Thơ Waka Trăm Nhà) của ông. Có một
bản tương tự trong Kokin-shuu nhưng mặt phẩm chất th́ không bằng.
C̣n về Kaguyama, ta c̣n thấy bài 10-1812 của Hitomaro vịnh cảnh một
chiều vào tiết lập xuân có sương lam che đầu núi.
Sau đây là
một bài thơ khác liên quan đến cuộc sống thường nhật trong cung đ́nh
của nữ thiên hoàng:
3-236
Nguyên
văn (dạng Man.yôgana):
不聴跡雖云 強流志斐能我 強語
比者不聞而 朕戀尓家里
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
いなと言へど強ふる志斐のが強ひ語りこのころ聞かずて我れ恋ひにけり
Diễn âm:
Ina to iedo
/ Shiuru shiinoga / Shiiigatari / kono koro kikazu / ware koi ni
keri
Diễn ư:
Bao nhiêu lần nói ḿnh chán
ngấy nên từ khước không nghe chuyện của mụ rồi, mà mụ Shii này cứ
mời mọc ta nghe. Một thời gian vắng tiếng mụ, bỗng nhiên ta thấy
thèm nghe trở lại, thật là chuyện lạ lùng.
Tạm dịch thơ:
Đă bảo đà chán ngấy / Chuyện
mụ kể xin thôi / Nhưng Shii cứ thế / Vẫn ép uổng khuyên mời / Bẵng
đi thấy thiêu thiếu / Lại muốn gọi mụ rồi!
Đây là bài sômonka tức loại thơ
hỏi thăm của Nữ thiên hoàng Jitô gửi tặng bà hầu cận già tên là Shii
(Trong tập ông chú thích (xem thư mục tham khảo), Sakurai Michiru
lại xếp nó vào loại zôka).
Tại sao một nữ hoàng đế đă viết
những bài thơ cao sang và tinh tế như thơ nói về Kaguyama (bài 1-28)
mà lại có thể viết những vần nhẹ hẫng và tầm thường như bài 3-236
này. Thật ra cả hai đều tượng trưng cho những t́nh cảnh trong cuộc
sống cung đ́nh của vị nữ thiên hoàng. Bà Shii chắc là một bà già
trong kataribe (ngữ bộ) tức một bộ phận nhân sự hầu cận, chuyên môn
kể chuyện giải khuây cho các bậc tôn quí. Người như vậy phải có trí
nhớ tốt và ăn nói thật lưu loát. H́nh như bà cũng rất được ḷng
Jitô. Bài thơ của Jitô rất trôi chảy, bộc lộ được tính hài hước và
rộng lượng qua sự lập đi lập lại 3 bận âm shi (hàm ư nài nĩ,
cưỡng ép) trong câu: Shifuru, Shii, Shiigatari
như thể muốn trêu chọc người hầu cận thân thiết của ḿnh v́ tên bà
là Shii no Omina (đồng âm dị nghĩa với hai từ Shiifuru và
Shiigatari trong lời thơ). Học giả Hashimoto Shinkichi bảo rằng
khi gọi là Shii no ga…và giản lược tên người ḿnh gọi th́ chữ
no này được cho vào để gợi ra ư thân thiết.
Bà Shii cũng hiểu ư nhà vua, đă
phụng họa như sau (bài 3-237):
3-237
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
不聴雖謂 語礼々々常 詔許曽
志斐伊波奏 強<語>登言
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
いなと言へど語れ語れと宣らせこそ志斐いは申せ強ひ語りと詔る
Phiên âm:
Ina to iedo
/ katare to katare to / norase koso / Shii iwamaose / shiikatari to
noru
Diễn ư:
Đă tâu là không kể nữa mà bệ hạ
cứ phán là hăy kể nữa đi, kể nữa đi. V́ đó là đ̣i hỏi của bệ hạ nên
Shii tôi mới tiếp tục thưa chuyện. Thế mà ngài lại bảo là Shii cưỡng
ép. Lời ngài dạy là trái với sự thật, quá sức tưởng tượng của thần.
Tạm dịch thơ:
Đă tâu không kể nữa / Quân
vương cứ ép nài / Tuân lời thần tiếp tục / V́ thánh thượng khuyên
mời / Nỡ ḷng nào nói ngược / Nào ai dám buộc ngài.
Nữ thiên hoàng Jitô thường gọi
bà Shii (Shii no Omina) đến kể chuyện giải khuây nhưng v́ muốn làm
tăng thi vị cho cuộc gặp gỡ mới viết bài thơ có tính hài hước như
trên để trêu bà. Để giữ thể diện của ḿnh, bà Shii này cũng biết dí
dỏm đáp lời. Bà đă khéo léo dùng câu mở đầu Ina to iedo (Đă bảo rằng
không) của Jitô để mở đầu cho bài họa của ḿnh. Bài thơ này chứng tỏ
được tài năng của người hầu cận già, chắc đă khiến cho nữ thiên
hoàng chỉ biết cười trừ.
Tiết VI:
Thơ thăm hỏi giữa Thiên hoàng Temmu
天武天皇và
hoàng phi Fujiwara藤原夫人.
Trong hậu cung của cung điện
Kiyomigahara ở vùng Asuka, ngoài hoàng hậu Jitô (mẹ của thái tử
Kusakabe, sau là nữ thiên hoàng), Thiên hoàng Temmu c̣n có nhiều phi
tần mỹ nữ như công chúa Ôta (mẹ của hoàng tử Ôtsu), công chúa
Nukata... Các bà đều là những người tài mạo tuyệt vời. Theo hệ phổ
định việc kế thừa hoàng vị, ông có đến 10 bà vợ chính, sinh cho ông
10 hoàng tử và 7 công chúa. Các hoàng tử ấy sau này sẽ đóng vai
chính trong một cuộc huynh đệ tương tàn v́ tranh nhau ngôi báu.
Tuy tên không được kể vào 10
người vợ nói trên nhưng hoàng phi (phu nhân) Fujiwara (Fujiwara no
bunin) là người được Temmu vô cùng yêu dấu. Bà tên thật là Ioe no
Iratsume, con gái của đại thần Fujiwara no Kamatari. Chị ruột bà,
Hikami no Otome, là một trong số 10 người vợ chính của Temmu. Hoàng
phi (phu nhân) Fujiwara là một người đàn bà đầu óc thông minh, phong
thái thanh lịch, rất hợp tính với Temmu. Bà đă sinh cho ông hoàng tử
Niitabe no Miko. Bunin (phu nhân) là một chức danh trong hậu cung,
địa vị chỉ dưới tước hậu có một nấc chứ không có nghĩa phu nhân như
ngày nay.
Bà Fujiwara sống riêng ở Ôhara,
một thôn làng trong vùng Asuka, phong cảnh rất đẹp. Một hôm, trời đổ
tuyết lớn, Thiên hoàng dang buồn bực trống vắng giữa bọn cận thần tẻ
nhạt trong cung, bèn nhớ đến người đẹp thông minh và tài hoa của
ḿnh, muốn gặp bà, nên mới gửi tặng bài thơ sau đây.
2-103:
Nguyên văn
(dạng Man.yôgana):
吾里尓大雪落有 大原乃 古尓之郷尓
落巻者後
Dạng huấn độc
(đă chua âm):
我が里に大雪降れり大原の古りにし里に降らまくは後
Phiên âm:
Wa ga sato ni /
ôyuki fureri / Ôhara no / furinishi sato ni /furamaku wa nochi
Diễn ư:
Nơi trẫm đang
ngự (cung điện Kiyomigahara), sáng hôm nay có mưa tuyết lớn, tuyết
tụ lại thật nhiều, cảnh sắc trông hết sức đẹp mắt. Nơi nhà ngươi
đang ở, chốn làng thôn quê mùa cổ lổ như Ôhara th́ c̣n lâu tuyết mới
rơi tới nơi đấy nhé. C̣n đợi ǵ không đến đây ngắm tuyết với ta!
Tạm dịch thơ:
Nơi cung ta
tuyết lớn / Phong cảnh đẹp làm sao! Thôn làng nàng khuất nẻo / C̣n
lâu tuyết mới vào / (Hăy bỏ nơi thô lậu / Đến đây ngắm tuyết nào).
Ba âm f
trong fureri, furi, furamaku và hai âm ô
trong ôyuki, Ôhara lập đi lập lại gây được một hiệu
quả âm thanh cho bài thơ. Chê Ôhara, nơi hoàng phi ở là quê mùa, ta
thấy Temmu viết bài thơ một cách đột xuất và có ư hài hước. Sau khi
nhận được bài thơ này, là người tài hoa và nhanh trí, hoàng phi (phu
nhân) Fujiwara đă hóm hĩnh đáp lời nhà vua. Bài thơ phụng họa của bà
Fujiwara (bài 2-104) có nội dung như sau:
2-104
Nguyên văn (dạng Man.yôgana)
吾岡之 於可美尓言而 令落
雪之摧之 彼所尓塵家武
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
我が岡のおかみに言ひて降らしめし雪のくだけしそこに散りけむ
Phiên âm:
Wa ga oka no
/ okami ni iite / furashimeshi / yuki no kudakeshi / soko ni
chirikemu
Diễn ư:
Bệ hạ chỉ tự
hào là nơi ngài ở, tuyết rơi nhiều (đại tuyết = ôyuki) nên cảnh sắc
xinh đẹp nhưng thiếp xin thưa thật với ngài là trên đồi cao cạnh nhà
thiếp đây có một vị long thần (okami, xà thần) đảm nhiệm việc phân
phát gió mưa. Thiếp đă ra lệnh ông ấy ban bố cho bệ hạ một lượng
tuyết cực nhỏ thôi. Ngôi nhà của thiếp mà ngài coi thường đó mới là
chỗ tuyết xuất phát. Xin quân vương mau dời gót ngọc đến đây (Thật
ra, tính theo đường đất bây giờ th́ Ôhara, nơi phu nhân ở, và cung
điện Kiyomigahara của nhà vua chỉ cách nhau có 1km) (theo Sakaguchi
Yumiko). Nghĩ cho cùng, hai người chỉ muốn ỡm ờ trêu ghẹo nhau mà
thôi.
Tạm dịch
thơ:
Đồi bên
nhà thiếp ở / Có thần rắc gió mưa / Thiếp đă nhắn thần hăy / Tặng
ngài ít tuyết thừa / (Nếu muốn xem tuyết lớn / Xa giá đến ngay cho)
Bài thơ họa của phu nhân thật
là nhẹ nhàng nhưng đáo để, áp đảo được địch thủ bằng chính diện,
chắc nhà vua khi đọc xong, thế nào cũng phải chịu phục là bị người
đẹp trả đ̣n đau. Hai bài sômonka xướng họa này vẽ lên một cách sống
động sự phong phú của cuộc sống cung đ́nh thời cổ mà không một thước
phim nào có thể ghi lại được cho chúng ta.
Tiết VII:
Thơ đại thần Fujiwara no Kamatari 藤原鎌足
Kamatari là Nội Đại Thần, chức
quan đầu triều, bạn chiến đấu với Thiên hoàng Tenji và cũng là cha
vợ của Temmu (hai con gái của ông là vương phi Hikami no Otome và
phu nhân Fujiwara đă được Temmu sủng ái).
1-95:
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
吾者毛也 安見兒得有 皆人乃
得難尓為云 安見兒衣多利
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
我れはもや安見児得たり皆人の得かてにすとふ安見児得たり
Phiên âm:
Ware wa mo
ya / Yasumiko etari / Mina hito no / E kateni sutofu / Yasumiko
etari
Diễn ư:
Ta nay đă
cưới được nàng Yasumiko về làm vợ. Người đời bao nhiêu kẻ mong muốn
nhưng nàng có lọt vào tay họ đâu. Chao ôi, ta lấy được cô nàng rồi!
Tạm dịch
thơ:
Ngày nay ta đă cưới / Yasumiko về / Người đời bao kẻ
ước / Đều thất bại năo nề / Chao ôi sung sướng quá / Rước được cô
nàng về.
Qua bài thơ, ta có thể h́nh dung một cảnh rất sống
động là Kamatari đang nhảy cỡn, sung sướng hạnh phúc v́ lấy được một
người vợ trẻ đẹp. Có lẽ lúc đó ông đă đứng tuổi trong khi Yasumiko
(tên đầy đủ là Uneme no Yasumiko) là một cung nữ trẻ hầu cận lo việc
cơm nước cho Thiên Hoàng. Trên nguyên tắc, một uneme
采女
phải có dung mạo xinh đẹp và xuất thân từ hàng quí tộc, cỡ con một
chức quan trấn thủ địa phương. Kiểu diễn tả như “ai nấy đều ước mơ
nhưng nàng đă lọt vào tay ta” hay nhắc đi nhắc lại tên bà
Yasumiko...chứng tỏ ông mừng rỡ thực sự như đứa bé con được ai cho
miếng bánh. Không thấy đâu là dấu vết của một trang dũng tướng và
chính trị gia lăo thành.
Thơ t́nh giữa chàng Sami
三方沙弥và
nàng Ikuta 生羽女
Sau đây là thơ trao đổi giữa một cặp vợ chồng mới
cưới khác, Sami (Mikata no Sami) và Ikuta (Sono no Omi Ikuta no
Musume) (bài 2-123 và 1-124) mà đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa
rơ là ai nhưng có lẽ là một cặp vợ chồng rất trẻ thuộc một gia đ́nh
quí tộc.
2-123:
Nguyên văn (dạng Man.yôgana):
多氣婆奴礼 多香根者長寸 妹之髪
此来不見尓 掻入津良武香
Dạng huấn độc (đă chua âm):
たけばぬれたかねば長き妹が髪このころ見ぬに掻き入れつらむか
Phiên âm:
Takebanure / takanebanagaki / imogakami / kono koro
minu ni / kirei tsurakamu
Diễn ư:
Mối lần muốn bới tóc em lên cao th́ cứ tuột tay,
không làm sao kết thành búi. Bẵng đi lâu ngày ta bệnh không đến gặp
nàng, chẳng biết mái tóc em nay đă đủ dài để lấy lược chải lên và
bới được chưa.
Tạm dịch thơ:
Xưa mỗi lần muốn bới / Tóc mượt búi không thành /
Lâu ngày anh chẳng đến / (Hỏi tóc có thêm xanh) / Giờ đây đem lược
chải / (Thành búi chưa, cô ḿnh?).
Sami bắt đầu đi lại (đến thăm người hôn ước hay vợ
vào ban đêm ở nhà bố mẹ nàng) từ lúc mái tóc của Ikuta hăy c̣n để rẽ
(con gái thời xưa từ 7, 8 tuổi đă bắt đầu để đường rẻ cho đến 15, 16
tuổi th́ búi, kiểu tóc đó gọi là furiwakegami hay unaibanari,
obanari) và chưa thành búi (taba) (với tục lệ tảo hôn, con gái 12,
13 là vừa đến tuổi có thể lấy chồng). Chẳng bao lâu, Sami lâm bệnh
và không lui tới với nàng được nữa. Nằm trên giường bệnh, chàng trai
da diết nhớ về người vợ (hôn ước) trẻ, không biết mái tóc ngày xưa,
lúc mới đến với nhau, mỗi lần muốn bới mà tay cứ vuột, nay tóc đă
dài ra đủ để có thể lấy lược chải cao lên thành búi hay chưa. H́nh
ảnh mái tóc đă thay thế cho h́nh ảnh nụ cười ánh mắt, những lời ân
ái trao đổi với người ḿnh thương nhớ, nghĩa là tất cả kỷ niệm ngày
tháng yêu đương đă qua. Nó c̣n tượng trưng cho ḍng thời gian đi qua
một cách vô t́nh nữa.
Nàng Ikuta đă làm bài thơ sau đây để họa lại
1-124
Nguyên văn (dạng
Manyô.gana):
人皆者今波長跡 多計登雖言 君之見師髪
乱有等母
Dạng huấn độc (đă chua âm):
人皆は今は長しとたけと言へど君が見し髪乱れたりとも
Phiên âm:
Hito mina wa / ima wa nagashi to / take to iedo /
kimi ga mishigami / midare tari tomo
Diễn ư:
Người chung quanh ai cũng bảo
trông thấy tóc đă dài ra hẳn. Họ khuyên em nên bới lên cao nhưng mái
tóc của em mà chàng từng thấy đó, cho dầu có rối bời th́ em cũng để
mặc nó, không thiết ǵ.
Tạm dịch thơ;
Chung quanh ai cũng bảo /
Tóc dài phải bới lên / Nhớ xưa chàng ve vuốt / Mái tóc này của em /
Nên giờ em chẳng thiết / Tóc rối để y nguyên.
Tấm chân t́nh của Sami đă làm
cho Ikuta cảm động. Bài thơ trả lời này có giá trị như một thang
thuốc hiệu nghiệm cho người đang ở trên giường bệnh. Ikuta không sử
dụng kỹ xảo, tu sức nhưng đă nói lên được t́nh yêu với người chồng
xa cách (đang thời hôn ước). Ngày xưa, khi con gái đến tuổi thành
nhân, lần đầu tiên bới tóc phải nhờ bàn tay của người chồng hay
người hôn ước. Midaregami (tóc rối) là một h́nh ảnh tượng trưng cho
nhớ nhung, tương tư và t́nh yêu nhục thể giữa trai gái, là một chủ
đề lớn trong văn học Nhật. Nữ sĩ Yosano Akiko (1878-1942) đă dùng nó
làm tựa đề cho một tập thơ của bà.
Tiết VIII:
Thơ các công chúa Tajima, Ôku, các hoàng tử Ôtsu và Arima
Mối t́nh giữa công chúa Tajima
但馬皇女và
hoàng tử Hozumi 穂積皇子
Công chúa là con gái Thiên
hoàng Temmu. Mẹ bà là vương phi Fujiwara Hikami no Otome (con gái
đại thần Fujiwara no Katamari), một trong 10 người vợ chính của
Temmu. Như thế bà là cháu, gọi phu nhân Fujiwara “nghịch ngợm” khi
viết về tuyết ở trên là d́. Bà mất năm Wadô nguyên niên (708), có để
lại 4 bài thơ, tất cả đều làm theo thể tanka và đều vịnh về t́nh yêu
thương quyến luyến đối với Hoàng tử Hozumi (Hozumi no Miko), người
anh em cùng cha khác mẹ (mẹ Hozumi là một vương phi khác của Temmu
tức công chúa Ôe). Lúc ấy công chúa Tajima đang sống (owasu)
trong cung một người anh em cùng cha khác mẹ khác là Hoàng tử
Takechi (Takechi no Miko).(Thời ấy, hôn nhân giữa anh em cùng cha
khác mẹ, chú cháu không bị ngăn cấm cho lắm).
2-114
Nguyên văn (dạng Man.yôgana)
秋田之 穂向乃所縁 異所縁
君尓因奈名 事痛有登母
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
秋の田の穂向きの寄れる片寄りに君に寄りなな言痛くありとも
Phiên âm:
Aki no ta no
/ homuki no yoreru / katayori ni / kimi ni yori nana / kochitakari
tomo
Diễn ư:
Giống như
những bông lúa chín trên cánh đồng mùa thu cứ ngă về một phía, em
cũng chỉ ngă một chiều về hướng anh thôi. Cho dầu người chung quanh
có lời ong tiếng ve thế nào đi chăng nữa th́ em cũng để ngoài tai.
Tạm dịch thơ:
Như bông lúa đồng thu / Chỉ
nghiêng về một phía / Ḷng em anh biết rơ / Chỉ tựa vào anh thôi /
Dù cho ai cười cợt / Em cũng mặc tiếng đời.
Bông lúa đến mùa thu th́ chín
và nặng trĩu hạt, thấy như chỉ nghiêng đầu về một phía. Nh́n thấy
cảnh đồng quê như thế, cô công chúa tuy không phải là con gái nhà
nông, cũng cảm thấy nó sao mà giống như in tâm sự của ḿnh. Nhưng
cũng có thể công chúa Tajima đă mượn ư từ một câu ca dao đương thời.
Lối “tỉ” như thế thật khéo léo và nói lên được sự quyết tâm sống
chết v́ t́nh của tác giả.
Sau đây thêm một bài thơ thứ
hai nói lên t́nh cảm nồng nàn của công chúa:
2-116
Nguyên văn (dạng Man
yô.gana):
人事乎 繁美許知痛美 己世尓
未渡 朝川渡
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
人言を繁み言痛みおのが世にいまだ渡らぬ朝川渡る
Phiên âm:
Hitogoto wo
/ shigemi kochitami / onogayoni / imada wataranu / asakawa wataru
Diễn ư:
V́ tiếng đời
đồn đại quá đỗi phiền hà khiến cho em phải làm một việc từ khi sinh
ra ḿnh chưa từng làm là lội qua con sông lạnh lẽo vào một buổi sáng
tinh sương.
Tạm dịch
thơ:
Tiếng đời
quá phiền nhiễu / Ôi khó sống làm sao / Em đành làm một việc / (Thân
gái) chưa khi nào / Lội qua sông buổi sáng / (Đến chỗ hẹn cùng
nhau).
Việc công
chứa đang ở hay sống (owasu) trong cung, có thuyết cho
là đó là cách nói cung kính của người thời cổ thông báo việc bà là
hoàng phi của Hoàng tử Takechi 高市皇子
chứ không có ǵ khác. Trong bài thơ thứ hai này, quyết tâm của công
chúa đă bắt đầu giảm sút sau khi đă bị những lời đàm tiếu tấn công
tới tấp và bắt bà hầu như phải qui hàng. Do đó, sợ mang tiếng nên
khi đến chỗ hẹn (aibiki) với người yêu là hoàng tử Hozumi 穂積皇子
thay v́ đợi hoàng tử đến thăm như thông lệ thời ấy, công chúa phải
đến tất tả lội qua sông lạnh lẽo để giữ sự bí mật, điều mà con người
khuê các tôn trọng lễ nghi ấy chưa hề làm trong đời. Có thể nói bài
thơ này của công chúa là một trong những bài thơ đầu tiên nói về
cuộc sống t́nh cảm của trai gái quí tộc, mở đường cho ḍng thơ luyến
ái của họ. Nó sẽ được các thi nhân cung đ́nh khai triển suốt thời
trung cổ.
Mối t́nh
ngang trái của hoàng tử vá công chúa không kéo dài được bao lâu. Khi
công chúa Tajima mất và được an táng trên một ngọn đồi tên là Ikai
no Oka trong xứ Yonabari, một ngày mùa đông, hoàng tử đứng từ xa
vọng về
phía đó
( ta cũng hiểu tại sao ông không dám đến
gần) và ngâm mấy
vần banka bi thương như sau để khóc nàng:
2-203
Nguyên văn (dạng Man
yô.gana):
零雪者安播尓勿落 吉隠之 猪養乃岡之
塞為巻尓
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
降る雪はあはにな降りそ吉隠の猪養の岡の塞なさまくに
Phiên âm:
Furu yuki
wa / awa ni na furiso / Yonabari no / Ikai no oka no / samuku
aramaku ni /
Diễn ư:
Tuyết
ơi, đừng rơi nhiều đến thế. Rơi chi cho lắm để người đang nằm cô đơn
dưới ḷng đất trên ngọn đồi Ikai xứ Yonabari phải chịu lạnh lùng.
Yobinari ,
nơi có ngôi mộ của công chúa, ở Nara, phiá đông Hatsuse. Thế
mới thấy
t́nh yêu của hoàng tử Hozumi đối với công chúa đến lúc bà mất vẫn
không hề
thay đổi
tuy ông là người đa t́nh, cuộc đời vướng víu nhiều
bóng hồng
và cũng có vẻ tự măn về phong cách Don Juan của ḿnh. Về
già, ông c̣n cưới
thêm bà vợ trẻ lúc đó mới mười mấy tuổi là con người tài hoa Ôtomo
no Sakanoue no Iratsume, nữ thi nhân số một của thời Vạn Diệp.
Tạm dịch
thơ:
Tuyết ơi, ngừng lại nhé ! / Rơi chi tội nghiệp người
/ Xa xôi, dưới ḷng đất / Ngủ một ḿnh trên đồi / Yonabari ấy / Lạnh
buốt tấm thân côi /
Hồi nàng c̣n sống, khi yêu nhau trong nghịch cảnh,
họ từng trao đổi những vần thơ.
Thơ hoàng tử (8-1513) :
今朝の朝明雁が音聞きつ春日山もみちにけらし我が心痛し
Kesa no
asake / kari ga ne kikitsu / Kasugayama / momichi ni kerashi / a ga
kokoro itashi /
( Sáng nay
nghe chim nhạn cất tiếng kêu
vang, rừng cây trên núi Kasuga lá đă chuyển sang màu đỏ. Mùa thu đến
rồi đấy
nhỉ. Ḷng anh thêm đau đớn). Nên nhớ tên núi Kasuga c̣n viết là
“xuân nhật”.
Sáng nay
tin nhàn đến / Kasuga núi cao / Cây vàng chen sắc đỏ / Thu đă đến
rồi sao / Ḷng anh thêm tê tái / Nhớ em, t́nh dạt dào /.
Thơ công
chúa (8-1515):
言繁き里に住まずは今朝鳴きし雁にたぐひて行かましものを
[一云国にあらずは]
Kotoshigesa
/ sato ni sumazu wa / kesa nashiki / kari ni taguite / yukamashi
mono wo (kuni ni arazu wa)
(Người ta cứ
nói ra nói vào / Ở quê hương ḿnh c̣n như thế
th́ làm sao sống
nổi.
Sáng nay nghe chim nhạn kêu, em muốn theo chim bay đi đâu mất cho
xong).
Quê hương
mà khó sống / Hết lời ra tiếng vào / Sáng nay nghe tin nhạn / Vọng
lại tự trời cao / Muốn theo chim đi khuất / Xa xôi một cơi nào /
T́nh máu mủ giữa công
chúa Ôku大伯皇女và
hoàng tử Ôtsu大津皇子
Xin chuyển đoạn qua một đề tài
khác, vẫn là thơ của một nàng công chúa: công chúa Oku (Oku no
Himemiko). Tuy nhiên, đối tượng 2 bài thơ sau đây (2-105 và 2-106)
của bà không phải là người yêu mà là cậu em ruột, Hoàng tử Ôtsu
(663-686), một ông hoàng tài giỏi, khôi ngô tuấn tú, văn vơ kiêm
toàn nhưng số phận bi đát.
2-105
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
吾勢乎 倭邊遺登 佐夜深而
鷄鳴露尓 吾立所霑之
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
我が背子を大和へ遣るとさ夜更けて暁露に我れ立ち濡れし
Phiên âm:
Wa ga seko
wo / Yamato e yaru to / akatoki tsuyu ni / waretachi nureshi
Diễn ư:
Ta đi ra bên
ngoài lúc trời đă khuya để tiễn đưa em trai ta về vùng Yamato trước
ngày em quyết tâm cử sự. Sương móc trong ánh b́nh minh (akatoki) đă
thấm ướt áo của ta.
Tạm dịch
thơ:
Trời
khuya chị bước ra / Tiễn em về phương xa / Yamato chốn ấy / (Biết
mai sau sao là) / Vừa khi ngày rựng sáng/ Sương đêm đầy áo ta.
Bài thơ vần
điệu bi ai phản ánh tâm trạng năo nề của tác giả. Dĩ nhiên phải là
như vậy thôi bởi v́ sự t́nh chính trị và hoàng tộc khúc mắc đă buộc
Hoàng tử Ôtsu phải khởi binh mưu phản. Cuộc gặp gỡ giữa công chúa
trinh nữ đền thần Ise và em trai của bà đă đến lúc chia tay. Ông ta
được đưa về vùng Yamato. Tác giả không nói lên t́nh cảm cá nhân của
ḿnh trong cuộc chia tay đau đớn (sẽ là vĩnh biệt ngh́n thu) nhưng
chỉ diễn tả ngoại giới (sương xuống lúc hừng đông) để nói thay cho
nỗi buồn vô hạn của ḿnh. Từ khi hoàng đệ c̣n ở đó cho đến lúc ông
đi lâu rồi, bà vẫn c̣n đứng ngóng theo, không biết sương đêm hay
nước mắt đă thấm đầy áo ḿnh.
Công chúa Ôku và Hoàng Tử Ôtsu
đều là con sinh ra giữa Thiên Hoàng Temmu và một trong những vương
phi của ông, Công chúa Ôta (Ôta no Himemiko, con gái của Thiên hoàng
Tenji và là em gái một cha một mẹ với hoàng hậu của Temmu, người sau
sẽ là Nữ thiên hoàng Jitô. Chính bà chị Jitô này là người muốn lấy
thủ cấp con trai em gái). Công chúa Ôku năm mới 13 tuổi th́ đă được
thần chọn qua quẻ bói để làm trinh nữ đền thần (gọi là Saiguu hay
“trai cung”, người đi tu thế cho vua). Sử cũ chép 12 năm sau bà được
phép về lại kinh đô rồi mất ở tuổi 41.
C̣n Hoàng tử Ôtsu, em trai bà,
được mô tả là một ông hoàng nhiều đức tính, được thần dân ngưỡng mộ,
nhưng những đức tính và tài năng đó lại là đầu mối cho sự bất hạnh
của ông. Cũng theo sử chép lại - và người ta ngờ rằng đó là cái kế
thâm độc của Jitô – một tăng sĩ đến từ Shiragi (Tân La, nay thuộc
nam Triều Tiên) tên là Gyôshin (Hành Tâm) đă thấy những quí tướng
của ông nên xúi giục ông nổi loạn. Ốtsu đă bị bà d́ ruột cho xử tử
năm mới 24 tuổi, vừa đúng lúc, cha ông là Temmu (trị v́ 673-686) mới
nằm xuống có 25 hôm. Và như một sự ngẫu nhiên, chính bà d́ ấy đă lên
nối ngôi thiên hoàng (xưng chế năm 686, xưng vị năm 690. Con ruột
Jitô, thái tử Kusakabe, 662-689, sinh ra thân thể đă bạc nhược, sau
bị bệnh và mất sớm.
2-106
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
二人行杼 去過難寸 秋山乎
如何君之 獨越武
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
ふたり行けど行き過ぎかたき秋山をいかにか君がひとり越ゆらむ
Phiên âm:
Futari
yukedo / Yukisugikataki / akiyama wo / ikanika kimi ga / hitori
koyuramu (ran) /
Diễn ư:
Để vượt qua
ngọn núi mùa thu buồn bă này dù chị em ḿnh có dắt díu nhau đi cũng
đă khó khăn rồi. Cậu em yêu dấu của chị ơi, giờ đây chị đang h́nh
dung em làm cách nào (ika ni ka) để có thể vượt qua núi ấy một ḿnh
đây! (ở Nhật, quốc gia nhiều núi, trong ngôn ngữ, h́nh ảnh núi c̣n
được dùng để chỉ sự khó khăn).
Tạm dịch
thơ:
Núi mùa thu buồn bă / Dù hai
đứa cùng đi / Hăy c̣n lắm gian khổ / Huống một ḿnh nói chi / Hỡi em
yêu của chị / Vượt núi cách nào đây ?
Lúc chia tay, trời đă vào thu
và gió gào trong cây, con đường đi từ vùng Ise, nơi công chúa đi tu,
cho đến vùng Yamato, rất hiểm trở và việc cử sự của hoàng tử nhất
định sẽ gặp vô vàn khó khăn, một mất một c̣n. H́nh ảnh người em đang
dẫm trên lá vàng dấn bước như hiện ra trước mắt công chúa làm ḷng
bà đau đớn. Không cách ǵ giúp em, bà chỉ bày tỏ tấm chân t́nh muốn
làm bạn đồng hành.
Khi Hoàng tử Ôtsu bị hành h́nh,
người ta đem chôn ông trên núi Futakami (Nhị Thượng Sơn, gồm hai
ngọn thư và hùng, nằm giữa Ôsaka và Nara, nơi đây hăy c̣n đền thờ
ông). Công chúa Ôku không được nh́n mặt em lần cuối (v́ ông là tội
nhân), chỉ biết đứng từ xa nh́n về phía núi khóc người em trai bạc
phước mà t́nh cảm bà đối ông gần như là t́nh yêu trai gái. Xin đọc
liên tiếp 4 bài banka rất cảm động: 1-163, 164, 165 và 166.
1-163
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
神風<乃>
伊勢能國尓<母>
有益乎奈何可来計武
君毛不有尓
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
神風の伊勢の国にもあらましを何しか来けむ君もあらなくに
Phiên âm:
Kamukaze no
/ Ise no kuni ni mo / aramashi wo / nani shika kikemu (kiken) / kimi
mo aranaku ni /
Diễn ư:
Nếu biết sự
thể như thế này, chẳng thà chị ở lại vùng Ise cho xong. Không hiểu
sao chị lại về kinh đô làm ǵ.Em đâu c̣n là người trên dương thế
nữa.
Kamukaze
(bây giờ đọc kamikaze, gió thần) là từ tu sức cho Ise (thần cung
Ise).
Tạm dịch
thơ:
Nếu
biết rơ sự
thể / Thà ở lại Ise / Về
kinh đô chi nữa
/ Để
chuốc lấy ê chề
/ Người
chị bao trông ngóng / C̣n đâu giữa cơi đời!
/
1-164
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
欲見吾為君毛 不有尓 奈何可来計武 馬疲尓
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
見まく欲り我がする君もあらなくに何しか来けむ馬疲るるに
Phiên âm:
Mimakuhori / wa ga suru kimi mo / aranaku ni / nani shika kikemu (kiken)
/ uma tsukaruru ni /
Diễn ư:
Người em yêu
mà chị ngày đêm mong gặp lại nay có c̣n đâu.Tại sao chỉ trở lại đây
làm ǵ, mệt cả người lẫn ngựa.
Tạm dịch
thơ:
Ngày đêm
những mong nhớ / Em chị giờ nơi nao? / Mất bao nhiêu đường đất /
Ngựa mỏn, người lao đao / Em đâu c̣n đó nữa / Muốn gặp, biết
làm sao?
1-165
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
宇都曽見乃人尓有吾哉 従明日者 二上山乎
弟世登吾将見
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
うつそみの人にある我れや明日よりは二上山を弟背と我が見む
Phiên âm:
Utsu somi
no / hito ni aruwareya / asu yori wa / Futakamiyama wo / irose to
wag a mimu /
Diễn ư:
Trên cơi
trần này kể từ ngày mai trở đi, chị chỉ c̣n biết từ xa lặng ngắm ḥn
núi Futakamiyama, nơi em nằm xuống, để mà tưởng nhớ.
Tạm dịch
thơ:
Mai đây đến
cuối đời
/ Chị sẽ ngắm chân trời / Futa ḥn núi ấy / Nơi em chị ngậm cười /
Nhớ thương, ḷng xót măi / Làm sao thấy lại người /
1-166
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
礒之於尓生流馬酔木<乎>
手折目杼 令視倍吉君之
在常不言尓
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
磯の上に生ふる馬酔木を手折らめど見すべき君が在りと言はなくに
Phiên âm:
Iso no ue
ni / ofuru ashibi wo / taoramedo / misubeki kimi ga / ari to iwa
naku ni /
Diễn ư:
Chị định đưa
tay hái cành hoa ashibi (hoa mă túy mộc hay hoa tiên nữ =
andromeda) mọc bên ghềnh đá, thế nhưng nghĩ dầu có hái th́ biết đưa
ai xem đây v́ không ai nói với chị là em c̣n sống trên đời.
Tạm dịch
thơ:
Bên ghềnh,
hoa tiên
nữ / Định hái trao cho em / Nhưng tay chợt dừng lại / Biết
ai người
thân quen / Ngày xưa ḿnh hay tặng / Nay hết ở kề
bên /
Hai bài đầu
làm ra lúc Hoàng tử Ôtsu vừa chết được khoảng hơn một tháng. Lúc bà
tu ở đền thần, dẫu hay tin em chết nhưng c̣n nuôi ảo vọng là nếu trở về
kinh đô biết đâu c̣n gặp. Rốt cuộc, khi đến nơi, bà phải giáp mặt
với hiện thực khắc nghiệt. C̣n chăng là sự đau đớn làm cho bản thân
mệt mỏi, tê liệt.
Hai bài dưới làm ra khoảng vài
tháng sau, lúc công chúa Ôku đă phải chấp nhận thực tế phủ phàng.
Hai ngọn Futakami ở trong rặng Katsuragi gần Nara và mộ của Ôtsu nằm
trên đỉnh hùng sơn, một trong hai ngọn thư và hùng. Từ đây cuộc sống
mỗi ngày của bà Ôku gắn liền với quá khứ bi đát đến nổi mỗi ngày bà
đều nh́n về hướng núi, và khi ngắt cành hoa ashibi trắng toát
bên ghềnh đá th́ như quen tay đưa cho một người nào đó mà tưởng là
cậu em trai.
Nói chung, bốn bài thơ ai điếu
đều thành thực, không trau chuốt nên dễ gây xúc động.
Mối t́nh giữa Hoàng tử Ôtsu大津皇子
và tiểu thư Ishikawa石川郎女
Con người tài tuấn như Ôtsu th́
các cô gái đẹp có yêu cũng là chuyện dễ hiểu. Thế nhưng khốn nỗi,
tiểu thư Ishikawa (Ishikawa no Iratsume) mà ông cũng yêu lại được
người anh khác mẹ và cũng là địch thủ trong việc tranh đoạt ngai
vàng, Thái tử Kusakabe, con bà d́ ruột Jitô, đem ḷng thương nhớ.
Việc này cũng có thể là một phần nguyên nhân số phận bi đát mà ông
gặp phải.
1-107
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
足日木乃 山之四付二 妹待跡吾立所/
<沾>
山之四附二
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
あしひきの山のしづくに妹待つと我れ立ち濡れぬ山のしづくに
Phiên âm:
Ashihiki no
/ yama no shizuku
ni / imo matsu to / ware tachinurenu / yama no shizuku ni /
Diễn ư:
Nơi anh đứng
đợi em, những giọt mưa sương đọng trên cây núi (như linh hồn của ḥn
núi) rơi xuống từng giọt, ôi chao, chúng cứ tiếp tục rả rích nhỏ
xuống người ta, những giọt nước trên núi!
Ashihiku
(níu chân) là từ tu sức cho yama (núi).
Tạm dịch
thơ:
Nơi anh đứng chờ em / Mưa sương rơi giọt giọt / Trên
núi măi chờ em / Lách tách mưa sương ướt / Chỉ dầm mưa núi lạnh /
(Nào thấy bóng em đâu!) /
1-108
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
吾乎待跡君之<沾>計武
足日木能 山之四附二 成益物乎
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
我を待つと君が濡れけむあしひきの山のしづくにならましものを
Phiên âm:
Aomatsu
to / kimi ga nurekemu (ken) / ashihiki no / yama no shizuku ni /
naramashi mono wo /
Diễn ư:
Em đă hẹn đến
gặp anh
trong núi nhưng bị cản trở không làm sao đi
được
thành ra thất hứa. Anh ở trên đó, mưa sương rơi ướt, lạnh lẽo, em
thương anh quá. Phải chi em hoá thành những giọt nước như thế
để ve vuốt thân h́nh của anh.
Tạm dịch
thơ:
Anh đợi
em trên núi / Mưa ướt hết người anh / ( Em hẹn, không đến được /
Ngồi yên dạ chẳng đành) / Những ước thành giọt nước / Rơi nhẹ xuống
thân chàng /
Lúc Hoàng tử Ôtsu lén gặp tiểu
thư trong núi th́ có tay thầy bói hay nhà chiêm tinh, (âm dương sư =
onmyôji) bốc quẻ biết được. Người ta ngờ rẳng, thầy bói tên là
Tsumori no Muraji Tôru trong câu chuyện này chỉ là một “công an mật”
để theo ḍ xét hai kẻ yêu nhau. Đến khi tiểu thư Ishikawa từ chối
lời cầu hôn của thái tử Kusakabe th́ có thể cô đă gắn bản án tử h́nh
lên ngực người yêu cô rồi! Trong Man.yôshuu có chứng cớ về ḷng tơ
tưởng đến cô của thái tử. Thái tử đă tặng cho nàng một bài thơ (bài
2- 220) để nói lên tấm t́nh nồng nàn nhưng vô vọng ấy. Trong đó, ông
đă gọi tiểu thư bằng cái tên cúng cơm của cô là Ônako (大名児)
chứng tỏ họ cũng biết nhau nhiều (xem thêm phân tích trong chương 7
về nguồn gốc hành động của Nữ thiên hoàng Jitô trong vụ án Ôtsu).
Hoàng tử Arima
有間皇子
Riêng về Hoàng tử Arima (Arima
no Miko, Hữu Gian
Hoàng Tử, 640-658), một ông hoàng thứ hai, số mệnh cũng chẳng khác
Ôtsu. Ông sống trước Ôtsu (Hoàng tử Đại Tân, 663-686) một hai thế hệ
nhưng vận mệnh bi đát không kém, đều do thảm kịch tranh chấp ngai
vàng. Con Thiên hoàng Kôtoku (Hiếu Đức, tại vị 645-654, sống
596-654), mẹ ông là bà Otarashi Hime, con gái của quan Tả đại thần
Abe no Kurahashimaro. Sau 3 năm chữa bệnh (bị bắt lánh xa triều đ́nh
th́ đúng hơn) ở suối nước nóng Muro ở địa phương, ông về kinh đô
nhưng lại được bà bác là Nữ thiên hoàng Saimei (594-661) khuyên nên
đi chữa bệnh tiếp. Rồi một hôm, khi nữ thiên hoàng và hoàng thái tử
đi Ki no yu (Muro), vắng mặt ở kinh đô, đại thần Soga no Akae xúi
giục ông mưu phản. Ông lại bị chính Akae bắt giữ (lại một đ̣n phản
gián của cánh theo nữ thiên hoàng Saimei (và Hoàng tử Naka no Ôe,
con bà và chính là Thiên hoàng Tenji trong tương lai, nhằm gài bẩy
một mối đe dọa tiềm ẩn cho quyền lực của họ). Họ cho giải ông xuống
Muro thẩm vấn. Ông trả lời bằng câu nói “Ta không hiểu ǵ cả. Chuyện
này chỉ có ông trời và Akae biết thôi”. Hai hôm sau, ông bị xử giảo
trên con dốc Fujizaka lúc mới có 19 tuổi.
Hai bài 2-141 và 2-142 mà tác
giả chính là Hoàng tử Arima, nói lên t́nh cảm tự thương thân của ông
v́ cảm thấy ḿnh bị hàm oan.
2-141
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
磐白乃 濱松之枝乎 引結
真幸有者 亦還見武
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
磐白の浜松が枝を引き結びま幸くあらばまた帰り見む
Phiên âm:
Iwashiro no
/ Hamamatsu ga e wo / hikimusubi / masakiku araba / matakaeri mimu
Diễn ư:
Ngày nay ta
mang tấm thân tù phạm bị giải đi, trên đường, để cầu cho ḿnh được
xử vô tội, ta (có nhà chú thích cho là một người bạn) đă cột hai
nhánh tùng mọc bên băi biển ở Iwashiro lại với nhau. Nếu may ta vô
sự trở về th́ sẽ được nh́n thấy cành tùng được cột lại này một lần
nữa.
Tạm dịch thơ:
Qua Iwashiro / Cột nhánh
tùng băi biển / Ḷng những khấn sao cho / Thân ḿnh được toàn vẹn /
Nếu trời cao soi thấu / C̣n thấy lại tùng xưa.
Thời xưa, người Nhật có phong
tục cột hai nhánh tùng hay hai nhánh cỏ như nối kết linh hồn với
sinh mệnh, để cầu thần cho ḿnh vô sự. Lúc này hoàng tử Arima đang
bị quan quân giải đi. Iwashiro là địa danh vùng Wakayama, nằm trên
con đường. Bộ hành thường cột như thế để cầu phúc v́ đoạn đường núi
Iwashiro đến Kumano trong vùng Yoshino này rất hiểm trở. T́nh cảnh
Hoàng tử Arima lúc ấy rất đáng thương v́ tuy trong tư thế là người
được kế vị ngai vàng mà đă bị bà bác Saimei (mẹ của Tenji) hai lần
tước đoạt quyền đó mà c̣n hạ lệnh xử thắt cổ ở cái tuổi 19, c̣n trẻ
hơn cả Hoàng tử Ôtsu (chết lúc 24), một người chung cảnh ngộ sau đó.
Nhiều người tỏ ra đồng t́nh với ông. Ta thấy trong Man.yôshuu có rất
nhiều thơ diễn tả ḷng trắc ẩn của họ, ví dụ như thơ của Naga no
Imiki no Okimaro và của Yamabe no Okura.
2-142
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
家有者
笥尓盛飯乎
草枕
旅尓之有者
椎之葉尓盛
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
家にあれば笥に盛る飯を草枕旅にしあれば椎の葉に盛る
Phiên âm:
Ie ni areba
/ ke ni moruii wo / kusamakura /tabi ni shiareba / shii no ha ni
moru
Diễn ư:
Lúc ở nhà th́ cơm được dọn ra
trong vật đựng thức ăn (hộp, chén, bát). Nay trên đường lữ hành, gối
đầu trên cỏ mà ngủ (màn trời chiếu đất), cơm th́ phải bày trên lá
giẻ gai mà ăn.
Có thuyết cho rằng đây là bữa
cơm đơn sơ ông bày ra để cúng thần (theo Sakaguchi).
Tạm dịch thơ:
Trong cung lúc dọn cơm/ Bày
trên bát trên mâm / (Nay là người tù tội) / Gối cỏ thân ta
nằm / (Đến bữa đâu ra bữa) / Lá giẻ bày cơm ăn.
Trong cung điện, hoàng tử được
ăn cơm trắng trong những vật đựng thúc ăn mâm bát bằng vàng bạc hay
sơn son nhưng nay đă là người tù tội, công sai giải đi, th́ chỉ được
nếm cơm hẩm hay hạt kê bày ra trên lá rừng. Hôm qua thế nào mà hôm
nay đă thế ấy. Qua sự đối chiếu hai hoàn cảnh, độc giả cảm thấy được
cái ngậm ngùi của hoàng tử trước cảnh đổi đời. Đặc biệt chú ư những
âm “shi” (shiareba, shii no ha) có hiệu quả âm thanh
chết chóc, áp bức, nhấn mạnh nỗi buồn của tác giả.
Bài này đă được xếp vào loại
thơ tang (banka) cũng cùng thể loại với bài thơ 3-416 sau đây do
Hoàng tử Ôtsu làm ra trước khi từ giă cơi đời:
3-416
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
百傳 磐余池尓 鳴鴨乎
今日耳見哉 雲隠去牟
Dạng huấn
độc (đă chua âm):
百伝ふ磐余の池に鳴く鴨を今日のみ見てや雲隠りなむ
Phiên âm:
Momozutafu /
Iware no ike ni / naku kamo wo / kefu nomi mite ya / kumogakuri namu
Diễn ư:
Tiếng vịt trời kêu trên ao
Iware hôm nay có lẽ là tiếng vịt cuối cùng mà ta được nghe ấy nhỉ!
Mai đây ta đâu c̣n nữa bởi v́ mây che khuất thân ta rồi.
Tạm dịch thơ:
Trên ao Iware / Ngày tháng
dài bất tận / Nhưng tiếng vịt ta nghe / Chắc chỉ là lần cuối / Thân
này mai sẽ khuất / Đằng sau lớp mây che.
Từ Momozutafu là một từ tu sức
dùng cho Iware, ư nói thời gian lâu dài gần đầy một trăm năm (momo).
Ngày 3 tháng 10 (28 tháng 10 dương lịch), hoàng tử đă bị xử h́nh và
đây là bài thơ được truyền tụng như lời vĩnh biệt viết bằng waka của
ông (Có một bài thơ chữ Hán nữa, đă được đăng trong thi tập Kaifuusô
tức Hoài Phong Tảo (懐風藻,
751)
nhưng h́nh như là một bài thơ của thi nhân Trung Quốc sao chép lại
một cách vụng về). Trước giờ lâm h́nh, ông rơi nước mắt bên bờ ao
(như thấy viết trong lời chú dẫn có từ xưa) nghĩ đến số mệnh ngắn
ngủi “c̣n một hôm nay thôi” (kefu nomi) nhưng vẫn c̣n có thể diễn tả
sự ra đi vĩnh viễn của ḿnh bằng một h́nh ảnh hoa lệ, có giá trị
cách điệu cao là “mây che ta rồi” (kumogakuru). Điều đó chứng tỏ rơ
ràng văn tài của ông hoàng trẻ.
Tiết IX:
Thơ Kakimoto no Hitomaro柿本人麻呂:
Chúng ta tạm giă từ các ông
hoàng bà chúa với những vần thơ đầy nhiệt t́nh và oan khuất của họ
để t́m đến với một trong những nhà thơ quan trọng nhất của thời
Man.yô: Hitomaro (tên đầy đủ là Kakinomoto no Hitomaro).
Con số tác giả có tên
trong Man.yôshuu lên đến con số 500 người, nhưng Hitomaro là ông vua
không ngai của tất cả. Ví von về ông, giáo sư Uemura Etsuko xem ông
như ngọn Phú Sĩ đơn độc vượt lên cao vút giữa quần sơn. Nếu nói về
số bài để lại th́ bà suy định ông có 87 bài (trong số đó, 36 bài
tanka và 16 bài chôka được biết đích xác do ông viết, kỳ dư là phỏng
đoán). Ông có thơ nhiều hơn các thi nhân lớn khác như các ông
Akahito (50 bài), Okura (76 bài), (76 bài), Kurohito (18 bài),
Kanamura (30 bài), bà Otomo no Sakanoue no Iratsume (84 bài). Tuy
thua xa Yakamochi (479 bài) nhưng điều đó cũng có phần dễ hiểu v́
Yakamochi dưới mắt mọi người là nhà biên soạn chính của tuyển tập.

Kakinomoto no Hitomaro
(662-710) dưới nét bút Utagawa Kuniyoshi)
(Nguồn Wikipedia)
Tiểu sử của Hitomaro có những
điểm mù mờ nhưng nói chung, người ta xem ông là một viên quan từng
phụng sự hai thiên hoàng Jitô (tại vị 690-697) và Mommu (tại vị
697-707), có những hoạt động đáng kể với tư cách thi nhân cung đ́nh.
Đứng về mặt lịch sử thi ca mà nói th́ ông là nhà thơ thuộc vào thời
kỳ Man.yô thứ hai.
Sở dĩ ông được xưng tụng là đại
thi hào (uta no hijiri = ca thánh), nhà thơ tiêu biểu của thời
Man.yô, bởi v́ ông đă có những đóng góp rất to lớn cho làng thơ. Nào
là đă cố định và hoàn thành được thể thơ dài gọi là chôka, phát
triển và tập thành những kỹ xảo tu sức trong biểu hiện và âm nhạc
hóa được thơ nên từ đó mới sinh ra cái gọi là Man.yôchô (Vạn Diệp
điệu) hay âm điệu đặc biệt của Man.yô. V́ ông có ư thức quốc gia nên
đă thành công trong việc nâng được ư thức ấy lên cao bằng thi ca,
với sự tán đồng của đông đảo quần chúng độc giả.
Trong Man.yôshuu, theo bà
Sakaguchi th́ Hitomaro có 20 chôka, 60 tanka, c̣n trong thi tập cá
nhân Hitomaro Kashuu, thấy đăng lại đến 360 bài (nhưng trong đó
không phải tất cả là do ông làm). Ông thạo tất cả mọi h́nh thức thơ
dương thời từ tanka, chôka đến sedôka nhưng trong chôka của ông, chủ
đề thường liên quan đến người và việc (nhân sự) như những bài thơ
nói về cái chết của hoàng tử Hinamishi (Hinamishi no Miko no mikoto,
bài 1-167) hay của hoàng tử Takechi (Takechi no Miko no mikoto, bài
2-199) hoặc thơ ai điếu công chúa Asuka (Asuka no Hime no miko, bài
2-196) cũng như những bài sáng tác khi đi qua phong cảnh hoang tàn
của cố đô Ômi (bài 1-29) và ngôi nhà ở vùng Akino, nơi Hoàng tử Karu
(Karu no Miko, sau này trở thành thiên hoàng Mommu, 683-707) từng
trú ngụ (bài 1-45). Lại nữa, có bài ông làm ra lúc từ giă bà vợ thứ
ở Iwami để hồi kinh (bài 2-131) cũng như bài thơ thương khóc người
thiếp ở Karu no ichi lúc bà ta qua đời (bài 2-207).
Tuy thường đưa t́nh cảm luyến
ái vào những bài chôka như thế nhưng rơ ràng là ông hay sử dụng h́nh
thức thơ cực dài (daichôka – đại trường ca) để bày tỏ trạng thái
tinh thần và nói lên nhân sinh quan của ḿnh. Ư thức về quốc gia rất
mạnh nơi ông, ông sùng bái Thiên hoàng, người cai trị, như một vị
thần. Mỗi khi có một nhân vật trong hoàng tộc chết đi, ông đều thành
thực bày tỏ ḷng ai điếu. Điều ấy phản ánh dân tộc tính của người
Nhật là sự gắn bó của họ với cuộc sống trong cơi đời hiện tại. Họ
yêu cuộc sống, họ mong đợi sự phồn vinh. Do đó, trước cái chết, cảnh
biệt ly hay suy vi hoang tàn, họ dễ dàng cất tiếng khóc than. Họ lại
xem Thiên hoàng, người có hoài băo lănh đạo quốc gia, như là trung
tâm của quốc gia và h́nh ảnh kinh đô, tượng trưng cho sự xán lạn của
quốc gia đó, cho nên khi thấy chỉ mới có một thời gian ngắn mà ngai
vàng đă đổi chủ, cung cấm đă hoang phế điêu tàn, họ đă xúc động và
thương khóc.
Thế nhưng dù ngâm lên những bài
đưa tang thân tộc của thiên hoàng cũng như than khóc cảnh hoang phế
của kinh đô, một con người ư thức được cái đẹp xuất phát từ xúc cảm
như Kakinomoto no Hitomaro th́ không cần phải chỉ cứ diễn tả t́nh
cảm bằng cách miêu tả trực tiếp cảnh vật hiện ra trước mắt như khi
đứng trước cảnh chết chóc hay sự hoang phế của kinh đô. Ông c̣n gián
tiếp miêu tả nó bằng cách khơi gợi những kỹ niệm sống lại từ quá
khứ. Ông ca ngợi nhân cách siêu phàm, công lao hăn mă hoặc sự nghiệp
vĩ đại của tiền nhân lúc sinh thời của họ để qua đó, nói lên niềm tự
hào về đế đô, một thời đă vinh quang như thế nào. Khi đưa ra cái đẹp
huyền ảo đă đánh mất nhưng vẫn như c̣n phảng phất đâu đây, Hitomaro
mới diễn tả được trọn vẹn nỗi buồn và niềm tiếc thương của ông đối
với chốn đế đô huy hoàng mà giờ đây chỉ c̣n là cảnh hoang vu đổ nát,
dâng cao sự cảm động trong ḷng người đọc tới cực điểm.
Có thể nói Hitomaro là một mẫu
người chuộng lư tưởng thẩm mỹ (aesthetic idealist), bài thơ nào của
ông cũng có mục đích đi t́m cái đẹp.Trong những bài thơ sầu thảm ai
oán như bài viết ra khi ông từ giă bà vợ thứ ở Iwami để hồi kinh hay
trong bài thơ than khóc cái chết đột ngột của người thiếp ở Karu no
ichi, bài nào cũng bắt đầu bằng những thanh điệu nhẹ nhàng chậm răi
để rồi dần dần dâng lên dào dạt, sau đó trở nên ồ ạt, bức bách và
cuối cùng kích động mạnh mẽ để đưa đến bùng nổ. Tuy nhiên, bố cục
của thơ ông trong những bài như vậy rất thăng bằng, nếu nội dung của
nó là 3 phần th́ thường là tự sự chiếm 2, phần c̣n lại dành cho việc
mô tả t́nh cảm nội tâm.
Ông cũng chú ư nhiều đến thiên
nhiên, nhất là thông qua h́nh thức ngắn của tanka.Dù sao, Hitomaro
chủ yếu vẫn là một nhà thơ giàu t́nh cảm cho nên ông đặt trọng tâm
vào việc diễn tả nội tâm. Hai nhà thơ đi sau, (Yamabe no) Akahito và
(Takechi no) Kurohito là những người quan sát thiên nhiên với con
mắt lạnh lùng và điềm nhiên, trực cảm cái đẹp và tả cảnh bằng một
lối diễn tả khách quan.
Không như họ, Hitomaro ḥa trộn
thiên nhiên bên ngoài với t́nh cảm và suy tư bên trong của chính
ḿnh để viết lên những vẫn thơ vừa tả t́nh vừa tả cảnh. Ông c̣n là
nhà thơ biết sử dụng nghệ thuật tu từ một cách tài t́nh. Thành công
về mặt ấy của ông vượt qua tất cả thi nhân đương thời. Ông biết khai
thác mọi khía cạnh của kỹ xảo tu từ như các thể so sánh và trang sức
makura kotoba (枕詞chẩm
từ hay chữ gối đầu), jo kotoba (序詞tự
từ hay chữ mào đầu), các h́nh thức tsuiku (対句đối
cú), taiguu (対偶đối
ngẫu), tôchi (倒逆đăo
nghịch), gijinhô (人格化nhân
vách hóa), on.in (音韻âm
vận)…Nói cách khác, ông không tŕnh bày t́nh cảm con người trong
trạng thái thô sơ nguyên thủy của nó mà biết biễu diễn bằng âm luật
để tạo ra nhịp điệu và nhạc điệu riêng, đem đến cho thơ của ḿnh một
nét đẹp cách điệu trang trọng và hùng tráng.
Tóm lại, nếu có đánh giá
Hitomaro như thi nhân số một đời Vạn Diệp và như một trong những
ngôi sao sáng nhất của làng thơ Nhật Bản th́ chắc cũng không ngoa.
Đối với nhà thơ hàng đầu
này,chỉ riêng trong quyển sách mỏng của ḿnh, bà Uemura Etsuko đă
dành một t́nh cảm trân trọng bằng cách t́m hiểu 8 bài thơ vừa chôka
vừa tanka của ông. Bắt đầu là bài thơ ông cảm tác lúc đi qua cung
điện hoang phế của cố đô Ômi nên bờ hồ Biwa.
Thơ hoài
cổ của Hitomaro
1-29
Nguyên văn (dạng Man.yôgana):
玉手次畝火之山乃 橿原乃 日知之御世従
[或云 自宮]
阿礼座師 神之<盡>
樛木乃弥継嗣尓 天下
所知食之乎 或云 食来]
天尓満 倭乎置而 青丹吉
平山乎超 [或云虚見
倭乎置 青丹吉 平山越而]
何方 御念食可
[或云 所念計米可]
天離夷者雖有 石走 淡海國乃
樂浪乃 大津宮尓 天下 所知食兼 天皇之 神之御言能 大宮者 此間等雖聞 大殿者 此間等雖云 春草之 茂生有 霞立 春日之霧流
[或云霞立 春日香霧流
夏草香 繁成奴留]
百礒城之 大宮處 見者悲<毛>
[或云 見者左夫思毛]
Dạng huấn độc (đă chua âm):
玉たすき畝傍の山の 橿原の ひじりの御代ゆ
[或云 宮ゆ]
生れましし 神のことごと
栂の木のいや継ぎ継ぎに 天の下 知らしめししを
[或云 めしける]
そらにみつ 大和を置きて
あをによし奈良山を越え [或云
そらみつ 大和を置き あをによし 奈良山越えて]
いかさまに思ほしめせか
[或云 思ほしけめか]
天離る 鄙にはあれど
石走る近江の国の 楽浪の 大津の宮に 天の下 知らしめしけむ 天皇の 神の命の 大宮は ここと聞けども 大殿は ここと言へども 春草の
茂く生ひたる 霞立つ 春日の霧れる
[或云霞立つ 春日か霧れる
夏草か 茂くなりぬる]
ももしきの 大宮ところ
見れば悲しも [或云見れば寂しも]
Phiên âm:
Tamatasuki / Unebi no yama no / Kashihara no /
hijiri no miyo yu / aremashishi / kami no kotogoto / tsuganoki no /
iyatsugitsugi ni / ame no shita / shirashimeshishi wo / sora ni
mitsu / Yamato wo okite / ao ni yoshi / Narayama wo koe / ikasama ni
/ omohoshishimeka / amazaru ka / hina ni wa aredo / iwabashiru / Ômi
no kuni no / sasanami no / Ôtsu no miya ni / ame no shita /
shirashime shikemu / sumeroki no / kami nomi koto no / ômiya wa /
koko to kikedomo / ôtono wa / koko to iedomo / harukusa no / shigeku
oitaru / kasumi tatsu / haruhi no kireru / momoshiki no /
ômiyadokoro / mireba kanashi mo /
Diễn ư:
Kể từ đời Thiên hoàng Jimmu tức vị ở cung Kashihara
dưới chân núi Inebi đến nay, các vị thiên hoàng sinh ra đều nối tiếp
nhau trị nước ở vùng Yamato. Đến đời vị thiên hoàng thứ 38 là ngài
Tenji mới bỏ vùng Yamato, vượt qua ngọn núi Nara, và không biết nghĩ
thế nào mà ngài đă chọn một vùng quê mùa và xa xôi là bến Ôtsu sóng
gợn trong xứ Ômi để dời cung điện đến. Ta nghe người sở tại bảo
hoàng cung nơi Thiên hoàng Tenji tôn quí ngự để cai trị thiên hạ là
chốn này đây thế nhưng sao chẳng thấy cung điện đâu cả mà chỉ có cỏ
mùa xuân mọc rậm rạp và sương xuân giăng mắc. Khi nh́n ánh nắng mùa
xuân chiếu rọi mơ hồ trên dấu tích cung xưa ḷng ta không khỏi dâng
lên một niềm cảm thương vô hạn.
Tạm dịch thơ:
Bên núi Unebi / Bao đời vua trị v́ / Yamato đất rộng
/ Triều đại ta uy nghi / Thánh thượng nẩy ư lạ / Vượt qua núi Nara /
Chọn thôn làng hẻo lánh / Dời cả triều đ́nh qua / Ômi kinh đô mới /
( Cất lên ở ven hồ) / Bến Ôtsu lầu các / Sóng bủa nhẹ vào bờ / Người
bảo đây cung xưa / Nhưng ta nào thấy bóng / Chỉ c̣n cỏ mọc dày / Với
sương lam che mỏng / Trong nắng nhạt chiều xuân / H́nh bóng xưa
phảng phất / Nh́n di tích c̣n đây / Ḷng ta buồn, quặn thắt.
Nguyên lai, cung điện Ômi là do
vị thiên hoàng đời thứ 38, Tenji, ra lệnh kiến tạo. Năm 667, Tenji
đă cho dời đô về đây. Sau khi ông băng hà, con trai là Thiên hoàng
trẻ Kôbun (Hoằng Văn) lên nối ngôi nhưng chỉ qua năm sau (Nhâm Thân
672) đă xảy ra cuộc biến loạn tranh chấp ngai vàng với người chú,
sau này là Thiên hoàng Temmu. Cung điện Ômi v́ chiến tranh loạn lạc
và v́ Temmu, kẻ thắng cuộc, lại dời đô về Asuka, nên chốn ấy trở
thành hoang phế. Hơn mười năm sau cuộc chiến chấm dứt, Hitomaro nhân
ghé ngang qua vùng đó, đứng trước di tích cung xưa, ông hồi tưởng
lại đời thịnh trị của Tenji, đă cảm khái làm những vần thơ trên.
Cần chú ư những cách diễn đạt
như tamatasuki (c̣n đọc tamadatsuki), tsuka no ki, sora ni mitsu, ao
ni yoshi, sora zakaru, iwabashiru, momohiki no đều là những gối thơ
(makura-kotoba) dùng để tu sức cho các danh từ đi bên cạnh nó. Ví dụ
cụm từ sora ni mitsu (trời rộng nh́n không hết) là để tô điểm cho từ
Yamato, với dụng ư ca tụng đất nước Đại Ḥa (Yamato) bao la rộng
răi. Cụm từ momoshiki no (trăi hàng trăm lớp) th́ dùng để nói đến sự
vững chắc của các lớp cây, lớp đá chồng chất lên nhau dựng thành
quách cung điện ở Ômi.
Sự nghiệp của người anh hùng
Tenji chỉ v́ cái loạn chú cháu tranh ngôi năm Nhâm Thân (Jinshin no
Ran, 672) mà tiêu tan tất cả. Khung cảnh hoang phế của cố đô Ômi cho
ta thấy cái triết lư “kẻ sống phải có lúc chết” “vinh quang cho lắm
rồi cũng suy tàn”. Ômi càng tráng lệ đẹp đẽ bao nhiêu trong quá khứ
th́ cảnh hoang phế hôm nay lại làm chạnh ḷng khách nhàn du bấy
nhiêu. Nhất là trong đời Hitomaro, ông chắc chắn đă chứng kiến bao
nhiêu tấn bi kịch chính trị xuất phát từ cuộc thay bậc đổi ngôi sau
cuộc loạn Nhâm Thân.
Một thi nhân đa cảm như
Hitomaro khi nh́n lớp cỏ dày phủ trên những phiến đá có thể đă lát
nên nền cũ cung xưa và nh́n ánh sáng nhợt nhạt ngày xuân len qua màn
sương chiếu xuống cánh đồng rộng, làm sao chẳng tưởng tượng khung
cảnh trang nghiêm hoa lệ của triều đ́nh Ômi với những bậc đại thần
và người hầu cận phong nhă phất tay áo rộng tấp nập ra vào. Thế rồi
chỉ trong giây phút sau chúng sẽ tan biến theo tiếng chân người ngựa
rầm rập đưa tất cả vào thế tu la địa ngục của chém giết. Làm sao
Hitomaro không đưa ống tay áo lên gạt giọt lệ khóc thương thời thế.
Khi đọc đến bài thơ này, chúng
ta không thể nào không liên tưởng được bài haikai mà nhà thơ
cận đại Bashô đă viết trong Oku no hosomichi (Đường ṃn miền Oku)
khi đi qua băi chiến trường xưa ở Hiraizumi và thương khóc cho cơ
nghiệp oai hùng của 3 đời ḍng họ Fujiwara, hào tộc miền Đông Bắc,
bị Shôgun khai sáng Mạc phủ Kamakura là Minamoto no Yoritomo tiêu
diệt vào năm 1189:
夏草や兵どもが夢の跡
Natsu kusa
ya / tsuwamono domo ga / yume no ato
( Vùi trong cỏ mùa hạ / Dấu vết
những giấc mộng / Của đoàn xuân thời xưa).
Đại thi hào Trung Quốc, Lư Bạch
(701-762), một người có lẽ sống sau Kakinomoto một hai thế hệ, cũng
có hai bài thơ rất nổi tiếng nhan đề Việt Trung Hoài Cổ và Tô Đài
Lăm Cổ, thương tiếc kinh đô hoang phế của Việt Vương Câu Tiễn và đài
Cô Tô của Ngô Vương Phù Sai. Tuy không thuộc vào phạm vi của bài
viết này, cũng xin đưa ra 2 câu cuối của mỗi bài theo thứ tự nói
trên (bản dịch của Bùi Khánh Đản)
để quư độc giả thưởng thức và đối chiếu với thơ Nhật:
Cung nữ như hoa măn xuân điện,
Chỉ kim duy hữu giá cô phi.
(Cung nữ như hoa đầy điện
ngọc,
Ngày nay chỉ thấy bóng chim
đa).
Chỉ kim duy hữu Tây Giang
Nguyệt,
Tằng kiến Ngô vương cung lư
nhân.
(C̣n lại Tây Giang vừng
nguyệt tỏ,
Từng soi người đẹp ở Tô Đài)
Sau bài trường ca của
Kakinomoto nói trên (1-29) là bài hanka (
反歌phản
ca, số 1-30) nối tiếp –như trong thơ văn ngày xưa được làm ra với
dụng ư chiêu hồn người chết:
1-30
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
樂浪之思賀乃辛碕 雖幸有 大宮人之
船麻知兼津
Dạng huấn độc (đă chua âm):
楽浪の志賀の辛崎幸くあれど大宮人の舟待ちかねつ
Phiên âm:
Sasanami no / Shiga no Karasaki / sakiku aredo /
ômiya hito no / funemachi kanetsu
Diễn ư:
Mũi đất Karasaki ở Shiga (phía
tây hồ Biwa, một gối thơ) của vùng Sasanami (Lạc Lăng楽浪,
địa danh cổ), nơi có những con sóng nhẹ vỗ bờ (cũng là ư của chữ
sasanami khi viết tế ba細波
hay tiểu ba
小波),
tuy vẫn không có ǵ thay đổi so với ngày xưa thế nhưng dù mi (mũi
đất) có ngóng măi th́ cũng bằng thừa bởi v́ sẽ không bao giờ thấy
lại con thuyền của các quan nhân triều Ômi đi du ngoạn về cập bến mi
nữa.
Tạm dịch thơ:
Bến Karasaki / Ở trong vùng
Shiga / Sóng muôn đời tấp băi / Nào khác những ngày qua / Nhưng bến
ơi, dù ngóng / Cũng hoài công đợi chờ / Thuyền vua quan nước cũ / Đă
khuất với xa xưa.
Xin lạc đề một chút nhưng khi
đọc đến đây, không khỏi liên tưởng đến hai câu thơ Việt Nam, không
nhớ của ai, viết gần đây:
Thuyền ơi, có nhớ bến chăng?
Bến th́ một dạ, khăng khăng
đợi thuyền.
Trong bài thơ này, Kakinomoto
no Hitomaro đă dùng thủ pháp nhân cách hóa (gijinhô) khi ông ví doi
đất Karahashi như một kẻ đợi chờ, Sự chờ đợi ấy (matsu) c̣n được gợi
ư qua h́nh ảnh doi đất rợp bóng tùng (matsu) xanh, ngụ ư tấm ḷng
không thay đổi. Những âm s ( sasanami, Shiga, Karasaki,
sakiku aredo) lập đi lập lại, đă được sử dụng một cách khéo
léo, gây được ấn tượng buồn man mác trong tâm thức người Nhật.Vùng
Karasaki là một doi đất nơi có vàm sông lớn nối với hồ Biwa, ngày
xưa vẫn là nơi các nhân vật triều đ́nh Ômi thả thuyền nhàn du. Cảnh
vật vẫn như xưa những người xưa đâu c̣n nữa, và điều đó làm cho thi
nhân chạnh ḷng hoài cựu.
Cần chú ư một điểm nữa là
Sasanami
楽波vốn
là âm thu ngắn của địa danh Kaguranami (Thần Nhạc Lăng神楽波)
mà trong từ thần nhạc (kagura 神楽)
có bao gồm âm sasa có nghĩa là nhịp điệu của loại nhạc cúng
thần (hayashi 囃子).
Trong địa danh Karasaki
唐崎 lại
có âm saki
幸nghĩa là may mắn, vô sự. Cả hai có dính
líu đến kỹ thuật dùng kakekotoba 掛詞,
chữ đồng âm dị nghĩa, làm câu thơ thêm súc tích v́ một âm chuyên chở
nhiều ư nghĩa tùy theo khi đặt trong văn mạch nào. V́ thế, không ai
có thể cho rằng ḿnh hiểu sâu xa thi ca một nước nếu không nắm được
những qui luật ngôn ngữ của nước ấy.
Đứng trên nền cố cung Ôtsu mà
hồi tưởng đến những đổi thay được mất của các triều đại, Hitomaro
cảm thấy được sự mong manh và bọt bèo của kiếp người. Cùng lúc ông
nhận thức được cái lâu dài, trường cửu của đại tự nhiên, vốn không
hề thay đổi qua bao nhiêu biến chuyển.
Như Đỗ Phủ trong bài Xuân Vọng
có lần viết: “Quốc phá sơn hà tại. Thành xuân thảo mộc thâm”, (Nước
tan, sông núi c̣n đây, Thành xuân tươi tốt cỏ cây một màu),
con người thời Man.yô cũng mang một t́nh cảm tương tự. Mũi đất
Karasaki và vàm sông rộng vẫn in bóng rẻo cao Hira và ngọn hùng sơn
Hieizan. Sóng bến Ốtsu vẫn vỗ nhẹ vào bờ và tùng xanh Karasaki hăy
c̣n ŕ rào trong gió nhưng vua quan triều cũ đều đă sang thế giới
bên kia, đâu c̣n cập bến để kể lại những chuyện ngày xưa!
Thơ ai điếu
cung đ́nh của Hitomaro
Là một thi nhân cung đ́nh lỗi
lạc, Kakinomoto no Hitomaro thường hay được chỉ định để viết
banka cho những nhân vật quan trọng của triều đ́nh, ví dụ bài
thơ ai điếu hoàng tử Hinamishi
日並
(Hinamishi no Miko no mikoto, bài 1-167),
người không ai khác hơn là tên kính xưng “ngang với mặt trời” của
Hoàng thái tử Kusakabe (
草壁皇太子662-689),
con trai trưởng Thiên hoàng Temmu (Hoàng tử Ôtsu sinh năm 663, kém
Kusakabe 1 tuổi và mẹ ông không có chức phận cao quí bằng Hoàng hậu
Jitô, mẹ Kusakabe). Bài chôka 1-167 ấy và hai hanka 1-168, 1-169 có
nội dung như sau đây:
1-167
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
天地之
<初時>
久堅之天河原尓 八百萬
千萬神之 神集 々座而 神分 々之時尓 天照 日女之命
[一云 指上 日女之命]
天乎婆所知食登 葦原乃
水穂之國乎 天地之 依相之極 所知行 神之命等 天雲之 八重掻別而
[一云 天雲之 八重雲別而]
神下座奉之 高照 日之皇子波
飛鳥之 浄之宮尓 神随 太布座而 天皇之 敷座國等 天原 石門乎開 神上 々座奴
[一云神登 座尓之可婆]
吾王 皇子之命乃 天下
所知食世者 春花之 貴在等 望月乃 満波之計武跡 天下
[一云食國]
四方之人乃 大船之 思憑而
天水 仰而待尓 何方尓 御念食可 由縁母無 真弓乃岡尓 宮柱太布座 御在香乎 高知座而 明言尓 御言不御問 日月之 數多成塗 其故
皇子之宮人 行方不知毛 [一云
刺竹之 皇子宮人 歸邊不知尓為]
Dạng huấn độc (đă chua âm):
天地の 初めの時 ひさかたの 天の河原に
八百万 千万神の 神集ひ 集ひいまして 神分り 分りし時に 天照らす日女の命
[一云 さしのぼる 日女の命] 天をば 知らしめすと
葦原の 瑞穂の国を 天地の 寄り合ひの極み 知らしめす神の命と 天雲の 八重かき別きて [一云
天雲の八重雲別きて] 神下し いませまつりし高照らす 日の御子は 飛ぶ鳥の 清御原の宮に
神ながら 太敷きまして すめろきの 敷きます国と 天の原 岩戸を開き 神上り 上りいましぬ [一云
神登り いましにしかば] 我が大君 皇子の命の 天の下 知らしめしせば 春花の
貴くあらむと 望月の満しけむと 天の下 食す国 四方の人の 大船の 思ひ頼みて 天つ水 仰ぎて待つに いかさまに 思ほしめせか
つれもなき 真弓の岡に 宮柱 太敷きいまし みあらかを高知りまして 朝言に 御言問はさぬ 日月の 数多くなりぬれ そこ故に 皇子の宮人
ゆくへ知らずも [一云 さす竹の 皇子の宮人ゆくへ知らにす]
Phiên âm:
Tsuchiame no / hajime no toki / hisakata no / Ama no
kawara ni / yaoyorozu / chiyorozu kami no / kamutsudoi / tsudoi
imashite / kamu wakari / hakarishi toki ni / Amaterasu / hirume no
miko to (sashi noboru / hirumenomiko to) / ame wo ba / shirashi mesu
to / ashihara no / Mizuho no kuni wo / ametsuchi no / yoriai no
kiwami / shirashimesu / kami no mikoto to / amakumo no / yaekaki
wakite /(amakumo no / yaekumo wakite) / kamukudashi / imasetsurishi
/ takaterasu / hi no miko wa / Asuka no (tofutori no) / Kiyomi no
miya ni / kamu nagara / futoshikimashite / sumeroki no / shikimasu
kuni to / Ama no hara / iwato wo hiraki / kamu agari / agari ima
shinu (kamunobori / imashini shikaba) / wa ga ôkimi / miko no mikoto
no / ame no shita / shirashimesu yo wa (shirashime shiseba) /
haruhana no / tafutoku aramu to / mochizuki no / tatawashikemu to /
ame no shita (wo suku ni) / yomo no hito no / ôbune no / omoi
tanomite / ama tsu mizu / aogite matsu ni / ikasama ni / omo
oshimeseka / tsure mo naki / mayumi no oka ni / miyabashira /
futoshiki imashi / miaraka wo / takashirimashite / asakoto ni /
mikoto towasanu / hitsuki no / maneku narinure / soko yue ni / miko
no miyahito / yuku e shirazu mo (sasutake no / miko no miyato /
yukue shirani su) /
Diễn ư:
Từ khi trời đất bắt đầu th́ trên cánh đồng trời tức
Ama no Kawara (Cao Thiên Nguyên) đă có tám bách vạn (chỉ có nghĩa là
vô số) chư thần tụ họp lại để bàn luận việc cai trị. Nữ thần
Amaterasu tức Thiên Chiếu trị v́ cơi trời, c̣n việc cai trị cánh
đồng lau (Ashihara) của đất nước Mizuho (Nhật Bản) này th́ ngài vén
mấy tầng mây lên măi đến tận cuối đất chia trời đất làm hai và cho
và con cháu của mặt trời (trước tiên ám chỉ Ninigi no Mikoto tức
Thiên Tôn, cháu Thiên Chiếu đă giáng lâm đầu tiên, sau lại ám chỉ
Thiên hoàng Temmu) đến ngự ở cung Kiyomigahara trong vùng Asuka làm
vị thần trông coi đất nước Nhật Bản. Ngài Ninigi và ngài Temmu đều
hoàn thành làm công việc một cách xuất sắc và sau đó, mở cửa động đá
Iwato đi lên cơi trời cao, lănh thổ của hoàng tổ, và ẩn ḿnh nơi đó.
Nay nếu được Hoàng tử Hinamishi (lạ́ thêm một hoàng
tử mặt trời! LND), bậc đại vương của chúng ta, cai trị th́ cuộc đời
sẽ được phồn vinh như hoa xuân, sẽ sung măn như trăng rằm. Thiên hạ
bốn phương sẽ được sự trông cậy như ở trên một chiếc thuyền lớn vững
chăi và ngẫng đầu lên chờ đón những giọt mưa lành nhân ái. Thế nhưng
không biết ngài nghĩ thế nào mà đem xây một cung điện huy hoàng để
quàn linh cữu trên ngọn đồi Mayumi no Oka vốn là một nơi chốn nào có
duyên do, dính líu ǵ đối với ngài đâu. Rồi những buối sáng ngài
không thức dậy để ban lời chỉ dạy nữa đă chồng chất thêm lên. Không
ai chỉ đạo, từ đây đám đ́nh thần theo hầu hoàng thái tử hết c̣n biết
xử trí ra sao.
Niên hiệu Jitô năm thứ 3 (689), Hoàng thái tử
Kusakabe bị bệnh chết lúc mới có 28 tuổi. Sau khi cha là Temmu băng,
ông với mẹ đă loại ngay địch thủ Ôtsu rồi cùng nhau trông coi quốc
chính. Ông sinh được một trai là Hoàng tử Karu no Miko (683-707, sau
sẽ là Thiên hoàng Mommu, trị v́ 697-707) và hai công chúa.
Ngày xưa, người ta có tục lệ quàn thi thể người chết
ở một nơi gọi là hinkyuu (tẫn cung) hay araki no miya,
c̣n đọc là mogari no miya, với hy vọng chờ người chết...sống
dậy! Nhưng cũng có thuyết giải thích mogari là mo (an
táng) agari (xong rồi). Trên thực tế, nó chỉ để kéo dài thời
gian khóc lóc thương tiếc. Trong chữ Hán, tẫn (thấn) có nghĩa liệm
mà chưa chôn. Hitomaro có lẽ đă thay mặt triều đ́nh làm bài thơ này.
Trong đó ông đă kể lễ dài ḍng lịch sử từ thời đại chư thần, ngầm ví
tính chính thống của Kusakabe với Ninigi lẫnTemmu, chứng tỏ triều
đ́nh Jitô lúc đó đang chịu một tổn thất rất lớn lao v́ họ vô cùng
trông đợi vào Kusakabe như nhà lănh đạo quan trọng của họ.
Tạm dịch thơ:
Từ khi trời đất mở / Bên trên Cánh Đồng Trời / Chư
thần họp nhau lại / Đă chia nhiệm vụ rồi / Thiên Chiếu ngự trên đỉnh
/ Ninigi cơi người / Thần vén mây chia nước / Đến Temmu xuống đời /
Đóng đô Asuka / Kiyomihara / Để cai trị đảo quốc / Hoàn thành được
mệnh trời / Sau theo đường động đá / Các ngài về trời xa / Hoàng
thái tử của ta / Tiếp nối nghiệp ông cha / Nếu đại vương trị nước /
Thiên hạ hẳn thái ḥa / Đời sẽ tươi hoa xuân / Tṛn tựa mảnh trăng
rằm / Ḷng người có chỗ tựa / Như thuyền lớn vững vàng / Ngẫng đầu
bao kẻ hứng / Những giọt mưa nhân lành /.
Chẳng ngờ Hoàng thái tử / Ngài Hinamishi / Bỗng
nhiên cho xây cất / Trên đồi Mayumi / Một nơi để an nghỉ / Không ai
hiểu cớ ǵ! Thế rồi bằn bặt măi / Đă bao nhiêu tháng ngày / Nằm
xuống không lời dạy / Để lại lũ tôi ngay / Đ́nh thần đều ngơ ngác /
( Ngài về phương nào đây!).
1-168
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
久堅乃天見如久 仰見之 皇子乃御門之
荒巻惜毛
Dạng huấn độc (đă chua âm):
ひさかたの天見るごとく仰ぎ見し皇子の御門の荒れまく惜しも
Phiên âm:
Hisakata no / ame miru gotoku / aogimishi / miko no
mikado no / aremaku oshimo /
Diễn ư:
Hoàng thái tử Kusakabe, người mà chúng ta ngưỡng mộ
như khi ngữa mặt nh́n lên trời cao đă ra đi một cách đột ngột và thê
thảm, đáng tiếc bao nhiêu, từ đây biết làm sao?
Tạm dịch thơ:
Ôi Hinamishi / Thần dân bao ngưỡng mộ / Nh́n lên
ngài thấy như / Trời cao xanh rộng mở / Này đă cách xa rồi / Làm sao
nguôi tiếc nhớ /
1-169
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
茜刺日者雖照者 烏玉之 夜渡月之
隠良久惜毛
Dạng huấn độc (đă chua âm):
あかねさす日は照らせれどぬばたまの夜渡る月の隠らく惜しも
Phiên âm:
Akane sasu / hi wa teraseredo / nubatama no / yo
wataru tsuki no / kakuraku oshimo /
Diễn ư:
Trên trời cao, mặt trời (Nữ thiên hoàng Jitô) hăy
c̣n đó nhưng ánh trăng kia (Hoàng tử Kusakabe) đang băng qua bầu
trời th́ đă ẩn đâu mất rồi. Hoàng tử mất đi thật đáng tiếc dường
nào.
Tạm dịch thơ:
Dẫu thánh thượng c̣n đó / Như mặt trời trên đầu /
Hoàng tử, vầng trăng sáng / Không biết lạc về đâu / Ḷng người bao
nuối tiếc / Giờ biết nói làm sao! /
Để tiếp nối ḍng liên tưởng,
xin tŕnh bày sau đây bài thơ Kakinomoto no Hitomaro đă làm khi đi
qua nới trú ngụ ngày xưa của Hoàng tử Karu (Karu no Miko), con trai
Hoàng thái tử Kusakabe, sau sẽ là Thiên hoàng Mommu.
1-48
Nguyên văn (dạng
Man,yôgana):
東野炎 立所見而 反見為者 月西渡
Dạng huấn độc (đă chua âm):
東の野にかぎろひの立つ見えてかへり見すれば月かたぶきぬ
Phiên âm:
Himugashi no / no ni kagirohi no / tatsumiete /
kaherimi sureba / tsuki kata bukinu.
Diễn ư:
Ở chân trời phía đông sắc đỏ đă nhuộm, lúc này b́nh
minh như hiện ra. Ngoảnh lại bầu trời ở phía tây th́, ô ḱa, vầng
trăng đang lặn về sau ngọn núi.
Tạm dịch thơ:
Nơi chân trời hướng đông /
Ngày đă nhuộm sắc hồng / Phương tây nh́n ngoái lại / Ô ḱa sao lạ
lùng / Trăng vàng đang xế bóng / Lặn về núi xa xăm /.
Bài thơ này Kakinomoto no
Hitomaro làm ra khi ông đi chơi vùng Akino安騎野,
chốn xưa kia Hoàng tử Karu
珂瑠,
c̣n viết là
軽trú
ngụ. Đây là một trong những bài hanka viết tiếp sau bài chôka mang
số 1-45. Himugashi no no (Cánh đồng hướng đông) dùng để chỉ chính
cánh đồng nơi Kakinomoto từng có dịp tháp tùng Thái tử Kusakabe, cha
của Karu đi săn bắn và qua đêm ở hành cung ngoài đồng. Sau này, ông
lại có dịp đi theo người con tức Hoàng tử Karu nghỉ chân tại cánh
đồng này. Do đó ông chạnh ḷng hoài cựu, xem những cuộc thay đổi
trong cuộc đời giống như sự đổi chỗ của mặt trời và mặt trăng (ám
chỉ những bậc tôn quí như thái tử và hoàng tử) cùng trong một đêm.
Tuy nhiên, qua bài thơ, ông
cũng muốn đánh giá Karu như người đáng có thể tiếp nối sự nghiệp của
người cha yểu mệnh Kusakabe. Việc mặt trời mọc lên (Karu) sau khi
mặt trăng lặn (Kusakabe) là sự tuần hoàn hợp đạo lư tự nhiên. Hoàng
tử Karu – sau này được bà nội (Jitô) đưa lên làm vua - tức Thiên
hoàng Mommu (Văn Vũ, trị v́ 697-707, sống 683-707). Lúc đó Karu mới
lên 10. Do đó bài thơ này vừa mang tính cách ai điếu vừa là một bài
thơ chúc hạ.
Nữ thi sĩ Yosano Akiko
cũng đă chịu ảnh hưởng của câu thơ này khi nà viết “Na no hana ya /
tsuki wa higashi ni / hi wa nishi ni” (Hoa cải dầu và vầng trăng ở
phương đông, trong khi mặt trời ở hướng tây) nhưng phải nói rằng câu
thơ của bà thiếu tính cách trữ t́nh và chiều sâu lịch sử của
Kakinomoto.
Không nên quên rằng Kakinomoto
no Hitomaro là một nhà thơ cung đ́nh. Ông đứng về cánh chính thống
(Jitô) và bênh vực Karu trong cuộc tranh chấp ngai vàng với các
hoàng tử khác.
Thơ t́nh của Hitomaro
4-496
Nguyên văn (dạng
Man,yôgana):
三熊野之 浦乃濱木綿 百重成 心者雖念
直不相鴨
Dạng huấn độc (đă chua âm):
み熊野の浦の浜木綿百重なす心は思へど直に逢はぬかも
Phiên âm:
Mi Kumano no / ura no hamayufu / momoe nasu / kokoro
wa omoedo / tada ni awanu kamo /
Diễn ư:
Cỏ hamayufu mọc xanh tốt bên bờ biển vùng Kumano
linh thiêng, như thể chồng lớp này lên lớp khác. Cho dù ḷng ta nghĩ
về nàng cũng dày như thế nhưng cơ hội gặp gỡ thật là khó khăn.
Mi Kumano chỉ vùng phía nam Ise, và mi là một
mỹ từ dể tu sức. Cỏ hamayufu đến mùa hạ, trổ bông nhỏ nhắn màu trắng
như hoa higanbana, lá xanh như lá cây vạn niên thanh (omoto) phản
chiếu ánh sáng mặt trời,cho nên c̣n có tên là hamaotomo hay vạn niên
thanh biển. Tác giả muốn nói ḷng tưỏng nhớ của ḿnh đối với người
yêu cũng nhiều như lớp cỏ dày.
Đây là bài đầu tiên trong chùm thơ 4 bài mà Hitomaro
đă viết.
Tạm dịch thơ:
Như vạn niên thanh biển / Lá
mọc dày biết bao / Ḷng ta thương nhớ bạn / Dày thua cỏ đâu nào /
Kumano trên băi / Gặp gỡ biết khi nao?
Tiếp đến là 3 bài sômonka, nhớ
về vợ ḿnh:
4-501
Nguyên văn (dạng
Man,yôgana):
未通女等之 袖振山乃 水垣之 久時従
憶寸吾者
Dạng huấn độc (đă chua âm):
娘子らが袖布留山の瑞垣の久しき時ゆ思ひき我れは
Phiên âm:
Otomera ga / sode Furu yama no / mizukaki no /
hisashiki toki yu / omoiki ware wa /
Diễn ư:
Ṿng rào của đền thần Isonogami trên Núi Vẫy Tay
(Furuyama), nơi có những nàng con gái (trinh nữ đền thàn) vẫy tay áo
rộng (furu sode). Nỗi nhớ thương anh trong ḷng em cũng như ṿng rào
ngôi đền kia, trăi bao năm tháng nào có bao giờ thay đổi.
Vẫy tay áo rộng là một cử chỉ có tính cách tôn giáo,
như gọi hồn người. Lời thơ thanh khiết hợp với h́nh ảnh trang trọng
của ngôi đền, bày tỏ một tâm t́nh tĩnh lặng nhưng có chiều sâu.
Chữ Furu tên túi và furu (vẫy tay áo) vốn đồng âm dị
nghĩa. Kỷ thuật tu từ này gọi là kakekotoba. Trong chữ mizukaki
(ṿng rào đền thần linh thiêng) đă hàm ư hisashiki (trường cửu) rồi.
Tạm dịch thơ:
Bên ṿng rào đền xưa / Nằm ở
trên đỉnh núi / Có những nàng vẫy áo / Muôn thuở gọi hồn người / Nhớ
anh tự bao đời / Như rào xưa đền cũ /
4-502
Nguyên văn (dạng Man,yôgana):
夏野去 小<壮>鹿之角乃
束間毛 妹之心乎 忘而念哉
Dạng huấn độc (đă chua âm):
夏野行く牡鹿の角の束の間も妹が心を忘れて思へや
Phiên âm:
Natsu no yuku / koshika no tsuno no / imo ga kokoro
wo / wasurete omoe ya /
Diễn ư:
Có thấy chăng lộc nhung vừa nhú trên đầu con nai
ngoài cánh đồng mùa hạ, trong thời gian thay lộc, nó ngắn là dường
nào. Vợ của ta cũng không bao giờ quên ta dù trong một khoảnh khắc
ngắn bằng cái lộc nhung kia đâu.
Nh́n thấy vẻ thanh thoát của con nai đang nhởn nhơ
ngoài đồng, tác giả nhớ đến cái dễ thương của vợ ḿnh.
Tạm dịch thơ:
Lộc nhung ngắn mới nhú /
Trên đầu nai ngoài đồng / Ḷng của vợ ta cũng / Không ngơi phút nhớ
nhung / Dầu một khoảnh khắc ngắn / Nai thay lộc ngoài đồng /
4-503
Nguyên văn (dạng Man,yôgana):
珠衣乃 狭藍左謂沈 家妹尓 物不語来而
思金津裳
Dạng huấn độc (đă chua âm):
玉衣のさゐさゐしづみ家の妹に物言はず来にて思ひかねつも
Phiên âm:
Tamakinu no / saisai shizumi / ie no imo ni / mono
iwazu kinite / omoi kanetsu mo /
Diễn ư:
Ta sắp sửa cất bước lữ hành, bận bịu nhiều thứ. Vợ
ta không vui, vùng vằng buồn thảm (chữ saisai không ai đoán rơ ư
nghĩa!) Vẻ đáng yêu của nàng làm ta không đành ḷng, chẳng nói được
với nàng một lời ǵ cho ra hồn mà chỉ xăm xăm bước ra.
Tamakinu saisai (tiếng sột soạt của áo xống ?) là
chữ để tu sức cho từ tsuma (vợ).
Tạm dịch thơ:
Anh bận chuyện lên đường, Em
vùng vằng buồn thảm / Quá thương không đành ḷng / Nói câu ǵ cho
trọn ? / Một ḿnh ra đường lớn / Để vợ
lại quê hương /

Chim Kasasagi (Nguồn
Internet)
Thơ biệt ly và thương khóc vợ của Hitomaro
Sau đây là 3 bài thơ biệt ly mà
Kakinomoto viết ra để từ giă vợ thứ ở Iwami để trở lại kinh đô, 2
bài là hanka (2-132 và 2-133) đi sau trường ca nhan đề Iwami no umi
(2-131 Biển Iwami):
Thời Kakinomoto no Hitomaro,
việc đi lại rất là khó khăn. Khi ông được bổ làm quan ở vùng Iwami
(nay thuộc tỉnh Shimane phía biển Nhật Bản), phải để vợ con lại kinh
đô và đi một ḿnh. Để dịu bớt cô đơn, ông đă lấy thêm một người vợ
khác ở nơi phó nhậm. Ở đây có lẽ là bà tên là Yosami no Otome mà
lịch sử biết đến. Do đó, khi được triệu về kinh th́ ông bắt buộc để
bà ở lại địa phương Iwami và thông thường, ấy là một cuộc chia ly
vĩnh viễn. Ta hiểu tại sao con người đa sầu đa cảm ông không khỏi
day dứt, đau đớn, ngoáy đầu nh́n lại với nỗi tiếc thương khi vượt
qua ngọn núi phân chia hai miền. T́nh cảm đó được tŕnh bày trong
bài chôka đi trước (bài 2-131).
2-131
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
石見乃海角乃浦廻乎 浦無等 人社見良目
滷無等 [一云
礒無登]
人社見良目 能咲八師 浦者無友縦畫屋師
滷者 [一云
礒者]
無鞆 鯨魚取 海邊乎指而
和多豆乃荒礒乃上尓 香青生 玉藻息津藻 朝羽振 風社依米 夕羽振流 浪社来縁 浪之共 彼縁此依 玉藻成 依宿之妹乎
[一云波之伎余思 妹之手本乎]
露霜乃 置而之来者 此道乃
八十隈毎 萬段 顧為騰 弥遠尓 里者放奴 益高尓 山毛越来奴夏草之 念思奈要而 志<怒>布良武
妹之門将見 靡此山
Dạng huấn độc (đă chua âm):
石見の海 角の浦廻を 浦なしと
人こそ見らめ 潟なしと [一云
礒なしと] 人こそ見らめ よしゑやし 浦はなくとも よしゑやし 潟は [一云
礒は] なくとも 鯨魚取り 海辺を指して 柔田津の 荒礒の上に か青なる 玉藻沖つ藻
朝羽振る 風こそ寄せめ 夕羽振る 波こそ来寄れ 波のむた か寄りかく寄り玉藻なす 寄り寝し妹を [一云
はしきよし 妹が手本を]
露霜の 置きてし来ればこの道の 八十隈ごとに 万たび
かへり見すれど いや遠に 里は離りぬ いや高に 山も越え来ぬ 夏草の 思ひ萎へて 偲ふらむ 妹が門見む 靡けこの山
Phiên âm:
Iwami no umi / Tsuno no urami wo / ura nashi to /
hito koso mirame / kata nashi to (iso nashi ni) / hito koso mirame /
yoshi eyashi / ura wa naku to mo / yoshi eyashi kata wa (iso wa)
naku to mo / isana tori / umibe wo sashite / Nikitazu no / ariso no
ue ni / ka aoku ofuru / tama mo okitsu mo / asaha furu / kaze koso
yorame / yuuha furu / nami koso kiyore / nami no muta / kayori kaku
yori / tamamo nasu / yorineshi imo wo (hashi kiyoshi / imo ga tamoto
wo ) / tsuyushimo no / okite shikureba / kono michi no / yasokuma
goto ni / yorozu tabi / kaeri misuredo / iya t ô ni / sato wa
sakarinu / iya taka ni / yama mo koekinu / natsukusa no /
omoishinaete / shinofuramu (furan) / imo ga kado mimu (min) / nabike
kono yama /
Diễn ư:
Vịnh biển của vùng Iwami, nhiều người cho rằng ở đó
không có cái bến nào coi được, không có cái băi nào đẹp. Thiên hạ có
nghĩ như thế cũng mặc. Cho dù không có bến có băi đẹp đi nữa, đối
với ta, nó là nơi không thể thiếu. Nh́n về hướng biển ấy, ta thấy
ngay chỗ ghềnh đá lởm chởm của bến Nikita, ban mai th́ gió biển
giống như lũ chim đập cánh thổi lùa những mảng rong trôi dạt xanh
xanh ngoài khơi, c̣n buổi chiều th́ giống như lũ chim đập cánh, gió
lại xua nước ngoài khơi thành sóng tấp vào bờ. Ôi chao, theo làn
sóng dập d́u lúc tiến lúc thoái, những cánh rong cũng lay động theo
làn nước. Chúng xinh đẹp và quấn quít với nhau giống như người vợ
đáng yêu biết bao nhiêu vẫn nằm ngủ sát bên cạnh ta, người mà ta bỏ
mặc ở ngôi làng Tsuno no sato như để lại một lớp sương mai. Trên con
đường lên kinh đô này,mỗi khúc quanh ta đều ngoái lại, bao nhiêu lần
như thế chỉ để nh́n nàng nhưng rồi h́nh bóng ngôi làng của nàng đă
khuất dần . Lần hồi ta đă tiến về rặng núi cao, rồi vượt qua và bỏ
ngọn núi lại đàng sau. Có lẽ bây giờ vợ ta như cỏ mùa hè đang héo úa
dưới ánh nắng mặt trời v́ đắm ch́m trong nỗi nhớ thương ta. Núi ơi,
hăy nằm phục xuống, đừng chắn lối, để cho ta nh́n được từ xa cánh
cửa nhà nàng.
Vùng Iwami nằm ở tỉnh Shimane, nơi ngày nay, gió
ngoài biển Nhật Bản vẫn thổi vào những kè đá lởm chởm, hoang vu. Cụm
từ yoshieyasu là “nói sao ta cũng mặc” được lập lại nhiều lần nói
lên sự bất cần của tác giả dù bị người đời chê bai. Tsuyushimo có
nghĩa sương móc, dùng theo tu từ pháp makura kotoba để nhấn mạnh
h́nh ảnh tương phản cho natsukusa (cỏ mùa hạ) và shioreru (héo úa)
nói đến trong những câu sau. Tất cả đoạn dài tả cánh rong đẹp, tha
thướt, uyển chuyển, sinh động như thế chỉ để qui về việc so sánh với
dáng vẻ yêu kiều của người vợ ông!
Tạm dịch thơ:
Vùng biển Iwami / Người bảo làm ǵ đẹp / Chẳng có
bến băi nào / Trông vừa ḷng cho được / Thôi, người có nói chi / Làm
chi ta cũng mặc / Riêng chốn ấy với ta / Là nơi quan trọng nhất /
Này hăy nh́n ra biển / Trên bến Nikita / Những ghềnh đá hoang sơ /
(Phong cảnh thật nên thơ) / Sáng sóng đánh ngoài khơi / Như chim
trời vỗ cánh / Theo làn gió ban mai / Từng mảng rong trôi dạt / Mượn
cơn gió buổi chiều / Sóng lại vào bờ cát / Cùng ngọn triều lên xuống
/ Rong xanh cũng lượn lờ / Trông sao mà xinh xắn / Giống người vợ ta
yêu / Bên nhau sáng lại chiều / Người mà ta bỏ lại / Như một hạt
sương mai / Trong thôn làng nàng ở / Tsuno no sato / Rồi ta lên kinh
đô / Đường đi bao quanh co / Mỗi khúc mỗi ngoái lại / Nh́n dáng
người em thơ / Nhưng thôn làng dần khuất / Núi vươn cao đứng chờ /
Khi ta vượt qua núi / Dấu người yêu phai mờ / Có lẽ bây giờ nhỉ /
Sương mai đă héo khô / Em như cỏ mùa hạ / Tiêu điều dưới nắng trưa /
V́ đắm trong thương nhớ / Người chồng măi cách xa / Núi ơi, hăy đi
khuất / Chắn làm chi tầm mắt / Để ta nh́n lần nữa / Cánh cửa mái nhà
xưa /
Hai bài hanka tiếp theo
–làm ra vào một khoảng thời gian sau - có dụng ư trấn tĩnh trào ḷng
quá dâng cao không ḱm hăm được lúc đó:
2-132
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
石見乃也 高角山之 木際従
我振袖乎 妹見都良武香
Dạng huấn độc (đă chua âm):
石見のや高角山の木の間より我が振る袖を妹見つらむか
Phiên âm:
Iwami no ya
/ Takatsunoyama no / ki no ma yori / wa ga furu sode wo / imomi
tsuramu (tsuran) ka /
Diễn ư:
Chẳng biết người vợ của ta ở Iwami có thấy được h́nh
ảnh ta đang đứng trên núi Takatsuno, vẫy tay áo để gọi nàng hay
không?
Takatsunoyama (Cao Giác Sơn) là ngọn núi có tiếng
trong vùng, vượt qua đó th́ hết c̣n thấy xóm làng Tsuno no sato
(Giác Lư), nơi vợ ông sống. Việc ông vượt núi là một điểm quan trọng
trong bài thơ v́ thời cổ, đứng trên núi, phất tay áo có ư nghĩa như
một hành động có tính cách phù thủy để gọi hồn.
Tạm dịch thơ:
Người ở Iwami / Này em, trên đường đi / Ta leo lên
ḥn núi / (Ḷng chưa vơi sầu bi) / Đưa tay áo vẫy gọi / (Chắc em nào
biết chi!)
2-133
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
小竹之葉者三山毛清尓 乱友 吾者妹思
別来礼婆
Dạng huấn độc (đă chua âm):
笹の葉はみ山もさやにさやげども我れは妹思ふ別れ来ぬれば
Phiên âm:
Sasa no ha wa / miyama mo saya ni / sayagedomo /
ware wa imo omou / wakarekinureba /
Diễn ư:
Trên con đường ṃn trong núi sâu, khi đang vượt núi,
tuy nghe tiếng lá trúc con xào xạc, th́ thào trong gió, ḷng anh vẫn
không dao động v́ chỉ có h́nh ảnh người vợ trẻ đang chiếm trọn tâm
hồn anh thôi. Anh chưa sống với em cho thỏa ḷng mà đă phải chia
tay.
Tạm dịch thơ:
Vượt núi, đường ṃn sâu /
Trong gió, trúc lao xao / Nhưng ḷng anh chỉ nhớ / Bóng dáng em hôm
nào / Bên nhau sống chưa thỏa / Chia tay ḷng nao nao / .
Về cách huấn độc câu thứ 3 th́
có hai thuyết. Thuyết chua thành âm midaredomo và thuyết chua thành
âm sayagedomo. Nếu đọc là midaredomo th́ thiên về thị giác, c̣n đọc
sayagedomo th́ thiên về thính giác. Midaredomo ư nói cảnh lá trúc
lay động trên con đường núi (cảnh đẹp) làm ḷng ḿnh dao động
c̣n sayagemodo ư nói tiếng lá trúc xào xạc (âm thanh quyến
rũ) lôi cuốn ḿnh. Tuy nhiên tâm hồn ḿnh bây giờ chỉ đầy ắp h́nh
ảnh người vợ trẻ v́ hai đứa mới sống bên nhau chưa được bao lâu mà
đă phải chia ĺa. Đối với người Nhật, họ xem những âm thanh bắt đầu
với âm sa hay ya rồi mi như sasa,
saya, sayage, miya, midare lập đi lập lại,
luyến láy với nhau gây nên một hiệu quả âm thanh và nhịp điệu đặc
biệt cho bài thơ.
Tiếp sau đây là 3 bài thơ thuộc
loại banka (văn ca), thương khóc người thiếp yêu ở Karu no ichi mới
qua đời. Chùm thơ gồm một chôka (2-207) và hai tanka (2-208 và
2-209), được tŕnh bày liên tiếp với nhau:
2-207
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
天飛也軽路者 吾妹兒之 里尓思有者 懃
欲見騰 不已行者 入目乎多見 真根久徃者 人應知見 狭根葛 後毛将相等 大船之 思憑而 玉蜻 磐垣淵之 隠耳 戀管在尓 度日乃晩去之如
照月乃 雲隠如 奥津藻之 名延之妹者 黄葉乃 過伊去等 玉梓之 使之言者 梓弓 聲尓聞而
[一云聲耳聞而]
将言為便 世武為便不知尓
聲耳乎 聞而有不得者 吾戀 千重之一隔毛 遣悶流 情毛有八等 吾妹子之不止出見之 軽市尓 吾立聞者 玉手次 畝火乃山尓 喧鳥之
音母不所聞 玉桙 道行人毛 獨谷 似之不去者 為便乎無見 妹之名喚而 袖曽振鶴
[一云名耳聞而有不得者]
Dạng huấn độc (đă chua âm):
天飛ぶや軽の道は 我妹子が 里にしあれば
ねもころに 見まく欲しけど やまず行かば 人目を多み 数多く行かば 人知りぬべみ さね葛 後も逢はむと 大船の 思ひ頼みて
玉かぎる岩垣淵の 隠りのみ 恋ひつつあるに 渡る日の 暮れぬるがごと 照る月の 雲隠るごと 沖つ藻の 靡きし妹は 黄葉の 過ぎて去にきと
玉梓の 使の言へば 梓弓 音に聞きて
[一云音のみ聞きて]
言はむすべ 為むすべ知らに
音のみを 聞きてありえねば 我が恋ふる 千重の一重も 慰もる心もありやと 我妹子が やまず出で見し 軽の市に 我が立ち聞けば 玉たすき
畝傍の山に 鳴く鳥の 声も聞こえず 玉桙の 道行く人も ひとりだに 似てし行かねばすべをなみ 妹が名呼びて 袖ぞ振りつる
[一云
名のみを聞きてありえねば]
Phiên âm:
Ama tobu ya / Karu no michi wa / wagimo ko ga / sato
ni shiareba / ne mo koro ni / mimaku hoshikedo / yamazu yukaba /
hitome wo ohomi / maneku yukaba / hito shirinu bemi / sanekazura /
nochi to awamu to / ohobune no / omohi tanomite / tamakagiru /
Iwagakifuchi no / komori nomi / kohi tsutsu aru ni / wataru hi no /
kurenuru ga goto / teru tsuki no / yuki gakuru goto / okitsu mo no /
nabikishi imo wa / momijiba no / sugite iniki to / tamazusa no /
tsukahi no ieba / azusayumi / otonikikite / iwamu sube / semu sube
shirani / oto nomi wo / kikiteari eneba / wa ga kofuru / chie no
hitohe mo / nagusamuru / kokoro mo ariya to / wagimoko ga / yamazu
idemishi / Karu no ichi ni / wa ga tachi kikeba / tamadasuki / Unebi
no yama ni / naku tori no / kowe mo kikoezu / tamahoko no /
michiyuku hito mo / hitori da ni / niteshi yukaneba / sube wo nami /
imo ga na yobite / sode so furitsuru.
Diễn ư:
V́ trên con đường Karu có thôn xóm mà người vợ hiền
của ta đang sinh sống nên lúc nào ta cũng nôn nóng đi về nơi đó,
mong sao gặp nàng. Thế nhưng, đi lại thường xuyên th́ thiên hạ nḥm
ngó và biết được mối quan hệ của chúng ta, sinh ra chuyện nói ra nói
vào. Do đó, trong khi chờ đợi cơ hội sống lâu dài bên nhau, ta chỉ
ấp ủ t́nh thương yêu trong ḷng không cho ai hay. Nào ngờ em như ánh
mặt trời đă đi từ hướng đông qua hướng tây rồi cuối ngày lại ch́m
khuất sau rặng núi. Hay là em cũng giống như ánh trăng trên bầu trời
đă ẩn ḿnh sau lớp mây che. Người nhà vừa đưa tin cho biết người vợ
đầu gối tay ấp của ta vừa mới vĩnh viễn ra đi. Nghe tin dữ, ngỡ ḿnh
ở trong cơn ác mộng, ta bàng hoàng không biết phải làm ǵ và nói ǵ
đây. Để cho vơi đi một phần trong muôn vàn nỗi nhớ thương, ta mới
đến t́m đến Karu no ichi, khu chợ nơi xưa kia vợ ta vẫn thường hẹn
gặp ta. Lắng tai chỉ nghe tiếng chim kêu trên núi Inebi chứ nào có
được giọng nói của người vợ yêu dấu. Trên đường đi, nào thấy một ai
có dung mạo tương tự như nàng. Không biết làm sao để thỏa ḷng yêu,
ta chỉ biết cất tiếng gào tên và vẫy tay áo đễ gọi người.
Tạm dịch thơ:
Làng vợ yêu anh ở / Trên
đường đi Karu / Ḷng anh vẫn thương nhớ / Muốn gặp em không thôi /
Nếu qua qua lại lại / Anh sợ tiếng người đời / T́nh riêng đành phong
kín / Đợi ngày sống chung đôi / Ngờ đâu tin dữ tới / Nghe xong luống
rụng rời / Em như mặt trời sáng / Lặn ở hướng tây rồi / Em như vầng
nguyệt tỏ / Khuất sau đám mây trời / Từ khi em đă mất / Ta hết đứng
lại ngồi / Để vợi ḷng thương nhớ / (Mới băng núi vượt đồi) / T́m về
Karu cũ / Nơi xưa ḿnh hẹn ḥ / Chỉ nghe chim rừng hót / Đâu tiếng
nói câu cười / Trên đường toàn khách lạ / Nào khuôn mặt em tôi! /
Phất tay ta vẫy măi / Gào tên đến nghẹn lời.
Trong bài thơ, Kakinomoto đă sử dụng thật nhiều “chữ
gối đầu” (makura kotoba) rất khó dịch nên chúng tôi đành bỏ qua và
đó là một thiệt tḥi lớn cho việc thưởng thức. Ví dụ cụm từ ama tobu
ya (bay bổng lên trời) để chỉ địa danh Karu (c̣n có nghĩa là
nhẹ) hay momijiba (lá đổi màu thành đỏ vào mùa thu) để
tô điểm cho từ sugite ita (việc đă trôi qua, sự biến đổi).
Karu no ichi vốn là địa danh, chỉ một thành phố khá lớn của nước
Yamato thời xưa.
Bài thơ dài này có thể chia làm
3 phần:
Phần 1 từ câu Ama tobu ya nói
sự t́nh gặp gỡ khó khăn và ḷng ước mơ xây dựng tổ ấm với nhau lúc
người yêu c̣n sống. Phần 2 từ câu Wataru hi bày tỏ sự kinh ngạc,
bàng hoàng khi nghe tin nàng mất cũng như t́nh cảm bi ai thống thiết
của ḿnh. Phần 3 từ câu Wagimo ko cho đến cuối nói đến cảnh trở về
Karu no ichi, chốn hẹn ḥ xưa để t́m lại khuôn mặt và giọng nói của
nàng nhưng vô vọng, đành gào khóc tên nàng và phất tay vẫy gọi. T́nh
cảm dần dần lên cao điểm và như bùng nổ ra trong câu cuối. Theo nhà
nghiên cứu Uemura Etsuko, hoàn cảnh của Kakinomoto lúc đó cũng giống
như của nhân vật Sumi Ryuunosuke khi khóc người vợ trẻ là cô Rui
trong tiểu thuyết Tajô takon ( Đa t́nh đa hận ) của nhà văn thời
Meiji là Ozaki Kôyô (1867-1903)
2-208
Nguyên văn (dạng Man.yôgana):
秋山之黄葉乎茂 迷流 妹乎将求 山道不知母
[一云 路不知而]
Dạng huấn độc (đă chua âm):
秋山の黄葉を茂み惑ひぬる妹を求めむ山道知らずも
[一云道知らずして]
Phiên âm:
Akiyama no / momiji wo shigemi / madohinuru / imo wo
motomemu / yamaji shirazu mo.
Diễn ư:
Lá đỏ mọc dày khoe sắc trong
núi thu. (Ở đây lá đỏ lại viết với hai chữ Hán hoàng diệp nhưng cùng
đọc với âm kôyô như trường hợp hồng diệp). Ta muốn đi kiếm người vợ
đi hái lá thu có lẽ lạc lối chưa về nhưng tiếc làm sao, ta cũng
không biết đường đi trong núi nên không t́m ra nàng.
Tạm dịch thơ:
Em đi vào trong núi / Rừng
thu lá đỏ chen / Lạc hướng, không về nữa / Ngơ ngác, anh đi t́m /
Mịt mùng nào thấy lối. (Làm sao gặp, hỡi em?)
Người vợ của Kakinomoto sau khi
chết có lẽ đă được chôn trong núi nhằm lúc mùa thu đă tô sắc đỏ lên
khắp núi đồi. Ông ví bà như một kẻ đi hái lá thu trong núi rồi lạc
hướng, t́m không ra lối về, để mỹ hóa cái chết của bà.
2-209
Nguyên tác (dạng
Man.yôgana):
黄葉之 落去奈倍尓 玉梓之 使乎見者
相日所念
Dạng huấn độc (đă chua âm):
黄葉の散りゆくなへに玉梓の使を見れば逢ひし日思ほゆ
Phiên âm:
Momiji ba no / chiriyuku nae ni / tamazu sa no /
tsukai wo mireba / ahishi hi omohoyu
Diễn ư:
Khi lá đỏ rơi và ngập đầy trong núi là lúc vợ ta qua
đời cho nên khi đọc cái tin dữ do người đưa thơ mang lại, ta nhớ đến
kỹ niệm bên nhau với nàng lúc sinh thời mà ḷng buồn thương vô
hạn.
Tạm dịch thơ:
Người bỏ ta ra đi / Vừa khi
thu đổ lá / Buồn trông sắc vàng rụng / Rồi nh́n người đưa tin / Nhớ
lúc ḿnh kề bên / Thương một trời kỷ niệm.
Cụm từ tamazusa có nghĩa là cây
gậy đẹp, được sử dụng như một từ tu sức cho tsukai (người đưa tin)
v́ tama có nghĩa là đẹp và ngày xưa các sứ giả đều cầm gậy bằng gỗ
tử (tsusa).
Nỗi buồn của người ở lại sau
khi mất vợ cũng thấy trong các bài 2-210, 2-211 v à 2-212. Lời chú
thích đời xưa viết là ông “thương xót, khóc đến chảy máu mắt”! Có
người đặt giả thuyết xem “người vợ” ấy là Yosami no Otome ở Iwami
(tỉnh Shimane), chết lúc ông đi vắng nhà và ông không rơ bà chôn cất
hay rắc tro hỏa táng ở đâu, dưới sông hay trên núi ...nhưng cách
giải thích đó vẫn chưa đủ sức thuyết phục.
2-210
Nguyên tác (dạng
Man.yôgana):
打蝉等念之時尓
[一云 宇都曽臣等 念之]
取持而 吾二人見之
T出之堤尓立有 槻木之 己知碁<知>乃枝之
春葉之 茂之如久 念有之 妹者雖有
<憑有>之兒等尓者雖有
世間乎 背之不得者 蜻火之 燎流荒野尓 白妙之 天領巾隠 鳥自物 朝立伊麻之弖 入日成 隠去之鹿齒 吾妹子之 形見尓置有 若兒<乃>
乞泣毎取與 物之無者
<烏徳>自物
腋挟持 吾妹子与 二人吾宿之 枕付 嬬屋之内尓 晝羽裳 浦不樂晩之 夜者裳 氣衝明之嘆友 世武為便不知尓 戀友 相因乎無見 大鳥<乃>
羽易乃山尓 吾戀流
妹者伊座等人云者 石根左久見<手>
名積来之 吉雲曽無寸
打蝉等念之妹之 珠蜻 髣髴谷裳 不見思者
Dạng huấn độc (đă chua âm):
うつせみと 思ひし時に
[一云 うつそみと 思ひし]
取り持ちて我がふたり見し
走出の 堤に立てる 槻の木の こちごちの枝の 春の葉の 茂きがごとく 思へりし 妹にはあれど 頼めりし 子らにはあれど 世間を
背きしえねば かぎるひの燃ゆる荒野に 白栲の 天領巾隠り 鳥じもの 朝立ちいまして 入日なす 隠りにしかば 我妹子が 形見に置ける
みどり子の 乞ひ泣くごとに 取り与ふ 物しなければ男じもの 脇ばさみ持ち 我妹子と ふたり我が寝し 枕付く 妻屋のうちに 昼はも
うらさび暮らし 夜はも 息づき明かし 嘆けども 為むすべ知らに 恋ふれども 逢ふよしをなみ大鳥の 羽がひの山に 我が恋ふる 妹はいますと
人の言へば 岩根さくみて なづみ来し よけくもぞなき うつせみと 思ひし妹が 玉かぎる ほのかにだにも 見えなく思へば
Phiên âm:
Utsusemi to / omoishi toki ni / torimochite / wa ga
futari mishi / hashiride no / tsutsumi ni tateru / tsuki no ki no /
kochigochi no e no / haru no ha no / shigeki ga gotoku / omoerishi /
imo ni wa aredo / tanomerishi / kora ni wa aredo / yo no naka wo /
somuki shieneba / kagiruino / moyuru arano ni / shirotae no /
amairegakuri / toriji mono / asadachi imashite / irihi nasu / kakuri
ni shikaba / wagimo ko ga / katami ni okeru / midori ko no / koi
naku goto ni / tori atau / mono shinakereba / otokojimono /
wakibasami mochi / wagimoko to / futari wa ga neshi / makurazuku /
tsumaya no uchi ni / hiru wa mo / urasabi kurashi / yoru wa mo /
ikizuki akashi / nagekedomo / semu sube shira ni / kouredomo / au
yoshi wo nami / ôtori no / Hagai no yama ni / a ga kouru / imo wa
imasu to / hito no ieba / iwane saku mite / nazumi koshi / yokeku mo
zo naki / utsusemi to / omoishi imo ga / tama kagiru / hono ka ni da
ni mo / mienaku omoeba /
Diễn ư:
Khi vợ ta c̣n ở trên dương thế, chúng ta nhiều lần
nắm tay đứng trên đê nh́n lên cây tsuki (hay keyaki = zelkova = một
loài cây lớn mọc ở xứ lạnh, được trồng trước nhà để chắn gió), xanh
um tỏa cành lá giữa mùa xuân. Tưởng được như cây xanh tốt, người vợ
mà ta tin yêu sẽ sống lâu dài bên ta. Nào ngờ, cuộc đời quá đổi vô
thường, không ai đi ngược ḍng định mệnh. Nàng bây giờ như đă khoác
manh vải trắng ẩn trong cánh đồng khô dưới ánh mặt trời thiêu
đốt. Tuy nàng không phải là chim nhưng sáng ra đi tối lại về và nấp
đâu mất rồi. Vật kỹ niệm nàng để lại chỉ là đứa con thơ. Mỗi lần nó
muốn ǵ khóc đ̣i ta, ta chẳng biết lấy ǵ để dỗ dành nó cả. Thân đàn
ông mà bên nách lại đèo thêm đứa con. Ta sống trong gian pḥng xưa
kia vợ chồng ta vẫn chung chăn gối, ngày th́ cô đơn buồn khổ, đêm
đến không nén được tiếng thở dài chờ sao mau cho trời sáng. Biết
rằng than khóc cho lắm cũng chẳng thay đổi điều chi nhưng ḷng
thương nhớ ấy không thể phôi pha.Ta nghe có người nói vợ ta đang ở
trên ḥn núi Hagai no yama (Vũ Dịch Sơn, ngọn núi h́nh cánh chim lớn
giăng ra) nên ta mới vượt núi trèo non để t́m đến nơi nhưng đâu được
việc ǵ. Tưởng rằng vợ ta hăy c̣n là ở cơi người nhưng tất cả chỉ là
ảo tưởng. Cơi sống và cơi chết thật hoàn toàn ngăn cách.
Trước tiên, tác giả đă hồi tưởng lại cảnh lúc vợ
ḿnh sinh tiền, sau nói về cái chết của bà, nỗi tiếc thương và về
đứa con của hai người mà bà để lại. Sau đó, v́ quá thương nhớ mới
nghe người khuyên lên núi cao t́m dấu nàng nhưng đành trở về trong
vô vọng.
Tạm dịch thơ:
Hồi em c̣n trên đời / Nắm tay cùng dạo chơi / Trên
bờ con đê rợp / Bóng tsuki xinh tươi / Tưởng như cây xanh lá / Ḿnh
sẽ măi chung đôi / Định mệnh sao nghiệt ngă / Hai đứa đà hai nơi /
Nhưng ai cải được số / Khi sống ở trên đời / Em choàng khăn vải
trắng / Ẩn trong cánh đồng khô / Dưới ánh mặt trời trưa / Nóng như
thiêu như đốt / Em ơi, nào như chim / Mà sáng sớm bay đi / Chiều lại
vào núi thẳm / Kỷ niệm có c̣n chăng / Là đứa con thơ dại /
Dù nó khóc nó đ̣i / Biết làm sao an ủi / Đàn ông một nách mang / Có
cách ǵ dạy dỗ / Ta về căn pḥng xưa / Từng bên nhau hai đứa / Đêm
khó nén thở dài / Ngày cô đơn buồn khổ / Chăn gối để lạnh lùng / Chỉ
cầu cho chóng sáng / Biết rằng than khóc măi / Chẳng đổi được mệnh
trời / Nhưng thương nhớ khôn nguôi / Qua bao nhiều ngày tháng /
Người bảo lên non cao / Sẽ t́m ra bóng dáng / Của người vợ ta yêu /
Nhưng chỉ là ảo tưởng / Dù vượt thác băng ghềnh / Vẫn hoài công vô
ích.
2-211
Nguyên tác (dạng
Man.yôgana):
去年見而之秋乃月夜者 雖照 相見之妹者
弥年放
Dạng huấn độc (đă chua âm):
去年見てし秋の月夜は照らせれど相見し妹はいや年離る
Phiên âm:
Kozo
miteshi / aki no tsukiyo wa / terasedomo / aimishi imo wa / iya
toshisakaru /
Diễn ư:
Trăng thu năm nay trên trời đêm vẫn sáng như năm nào
nhưng ngựi em cùng ngắm với ta chung một vầng trăng ấy giờ đă chết
đi mất rồi.
Tạm dịch thơ:
Trăng đêm nay ta ngắm / Giữa khung trời thu cao /
Vẫn là trăng năm cũ / Đẹp có khác chi nào / Mỗi người xưa cùng ngắm
/ Giờ biền biệt nơi đâu ! /
2-212
Nguyên tác (dạng Man.yôgana):
衾道乎引手乃山尓 妹乎置而 山徑徃者
生跡毛無
Dạng huấn độc (đă chua âm):
衾道を引手の山に妹を置きて山道を行けば生けりともなし
Phiên âm:
Fusumaji wo / Hikide no yama ni / imo wo okite /
yamaji wo yukeba / ikeri tomo nashi /
Diễn ư:
Để người vợ một ḿnh lại trên núi Hikide (Dẫn Thủ
Sơn hay Núi Dắt Tay). Đường núi phải đi một ḿnh thật không thiết
tha chút nào cả (Không muốn đi đoạn đường đời một ḿnh mà không có
nàng bên cạnh).
Tạm dịch thơ:
Bỏ em lại không dắt / Trên núi Hikide / Đi một ḿnh
lầm lủi / Anh nào có thiết chi / (Đường đời nay lẻ bạn / Hạnh phúc
hỏi mong ǵ!) /

Chim cút (Nguồn Internet)
Thơ Hitomaro tháp tùng ngự du
Hitomaro tuy là chức quan nhỏ
nhưng được tin cẩn, có hân hạnh đi theo hầu các cuộc ngự du của
Thiên hoàng và để lại nhiều áng thơ hay dù là thơ thù tạc. Sau đây
là 3 bài thơ làm hồi theo ngự giá (Jitô) dạo thuyền ở Ami no Ura:
1-40
Nguyên văn (dạng
Man,yôgana):
鳴呼見乃浦尓船乗為良武 D嬬等之
珠裳乃須十二 四寳三都良武香
Dạng huấn độc (đă chua âm):
嗚呼見の浦に舟乗りすらむをとめらが玉裳の裾に潮満つらむか
Phiên âm:
Ami no
ura ni / funanori suramu (ran) / otomera ga / tamamo no suso ni /
shiomitsuramu (ran) ka /
Diễn ư:
Những nàng con gái trẻ đẹp (cung nữ, nữ quan), có lẽ
đang cùng ngài dạo thuyền trên băi biển Ami no Ura. Không biết nước
triều dâng lên có làm ướt những tấm váy (màu đỏ) đẹp rực rỡ các nàng
mặc hay không?
Đây là bài đầu trong 3 liên tác mà Hitomaro làm ra
khi tháp tùng Nữ thiên hoàng Jitô tuần du ở Ise và ở qua đêm tại
cung Asuka Kiyomihara. Chữ ramu (ran) thấy ở cuối 3 bài có nghĩa
“phải chăng bây giờ đang diễn ra cảnh đó?”. H́nh ảnh sóng đánh ướt
váy áo các nàng cung nữ có tính cách trữ t́nh và táo bạo.
Tạm dịch thơ:
Hỡi những cô kiều diễm /
Theo ngài ngự dạo thuyền / Ami qua bến ấy / Biển dậy nước mênh mông
/ Ướm hỏi, khi sóng cợt / Có tạt ướt váy hồng ?/
1-41
Nguyên văn (dạng
Man,yôgana):
釼著手節乃埼二 今<日>毛可母
大宮人之 玉藻苅良<武>
Dạng huấn độc (đă chua âm):
釧着く答志の崎に今日もかも大宮人の玉藻刈るらむ
Phiên âm:
Kushiro
tsuku / Tafushi no saki ni / kyô mo kamo / ômiyahito no / tamamo
karu ramu (ran) /
Diễn ư:
Hôm nay, ở doi đất mang tên là Tôshinosaki dó, chắc
các vị công khanh trong cung vẫn c̣n đi cắt rong đẹp bên bờ (ám chỉ
việc dạo chơi trên băi biển)?
Từ Kushiro ở đầu bài thơ c̣n được hiểu như đeo ṿng
cổ tay (kushiro) làm ta liên tưởng tới những cổ tay (Tôshi là địa
danh đă đành nhưng c̣n có thể đọc cách khác là tefushi hay ống tay.
Người đọc thơ có thể mường tượng những cổ tay đeo ṿng trang sức
nữa.
Tạm dịch thơ:
Tôshi doi đất ấy / Ngày nay biết c̣n không ? / Nhớ
bao tay áo thụng / Hàng hàng lớp công khanh / Dạo chơi bên băi biển
/ H́nh bóng cũ đầy ḷng /
1-42
Nguyên văn (dạng
Man,yôgana):
潮左為二五十等兒乃嶋邊 榜船荷 妹乗良六鹿
荒嶋廻乎
Dạng huấn độc (đă chua âm):
潮騒に伊良虞の島辺漕ぐ舟に妹乗るらむか荒き島廻を
Phiên âm:
Shiosai
ni / Irago no shima e / kogu fune ni / imo noruramu (ran) ka / araki
shimani wo /,
Diễn ư:
Bây giờ khi ngọn thủy triều lên lao xao, chiếc
thuyền ngự chèo chung quanh vùng đảo Irago có chở người yêu dấu của
ta (trong đám nữ quan, cung nhân) đi trong vùng biển có nhiều sóng
gió ấy. Ta lo không biết thế nào!
Tạm dịch thơ:
Thuyền ngự ṿng quanh đảo / Thủy triều lên lao xao /
Người em yêu thuở ấy / Nay chèo chống thế nào? / Irago biển động /
Bao nhiêu đợt sóng cao /

Dây leo Kanamugura (Nguồn
Internet)
Thơ lữ hành của Hitomaro
Thơ lữ hành của Hitomaro trong
mục “ki lữ” có 8 bài. Tất cả đều vịnh cảnh ở biển nội địa Nhật Bản
(Seto naikai) chỗ giữa đảo Shikoku và đảo Honshuu, con đường ông đi
qua. Những địa danh như Awaji, Akashi, Noshima ga saki ... đều gắn
bó với vùng biển đó.
3-251
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
粟路之野嶋之前乃 濱風尓 妹之結 紐吹返
Dạng huấn độc (đă chua âm):
淡路の野島が崎の浜風に妹が結びし紐吹き返す
Phiên âm:
Awaji no
/ Noshima ga saki no / hamakaze ni / imo ga musubishi / himo
fukikaesu /
Diễn ư:
Gió biển thổi ở doi đất đâm biển ra biển Noshima
trên đảo Awaji đă lật cái thắt lưng áo mà người yêu (vợ) của ta đă
thắt hộ trước ngày lên đường.
Đời xưa, người Nhật tin rằng thắt lưng hay bâu áo
(himo) ai thắt (musubu) cho ḿnh mà bị lơi ra là người đó đang nhớ
về ḿnh. Để chứng minh cho lối suy nghĩ này, ta có thể dẫn thơ Kasa
no Kanamura (bài 9-1789) và thơ một tác giả vô danh (bài 12-3145):
我妹子が結ひてし紐を解かめやも絶えば絶ゆとも直に逢ふまでに
Wagimoko ga
/ yuiteshi himo wo / tokemaya mo / taeba tayutomo / tada ni aumade
ni /
Giải thắt
lưng mà người vợ yêu ta thắt hộ, quyết không giờ tháo ra. Cho dù nó
đứt th́ tự nó đứt chứ ta không cởi đâu, cho đến khi ta gặp lại vợ ta
(ư thơ Kasa no Kanamura).
我妹子し我を偲ふらし草枕旅のまろ寝に下紐解けぬ
Wagimo ko shi /
a wo shino furashi / kusamakura / tabi no marone ni / shitabi mo
tokenu
H́nh như vợ
ta đang nhớ ta. Trong lúc màn trời chiếu đất như thế này (trên đường
du lịch, đang mặc áo cớ sao thắt lưng phía dưới áo lại lỏng lơi ra.
(ư thơ tác giả vô danh)
Qua bài thơ
này, Hitomaro đang đứng ở phía bắc đảo Awaji, mượn ngọn gió triều để
thác ngụ niềm thương nhớ về người vợ đang ở vùng Yamato.
Tạm dịch thơ:
Awaji vùng đảo / Mỏm đất Noshima / Gió biển giật
tung áo / Xưa em cài cho ta / (Phải chăng ḷng em nhớ) / Người dầu
dăi phương xa /
2-255
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
天離夷之長道従 戀来者 自明門 倭嶋所見
[一本云 家門當見由]
Dạng huấn độc (đă chua âm):
天離る鄙の長道ゆ恋ひ来れば明石の門より大和島見ゆ
[一本云 家のあたり見ゆ]
Phiên âm:
Amazakaru / hina no nagachi yu / koi kureba / Akashi
no to yori / Yamatoshima miru (ie no atari miyu) /
Diễn ư:
Từ chốn quê mùa xa xôi, ta đang đi trên con đường
dằng dặc dài, những mong sao cho chóng đặt chân lên đất Yamato, th́
ô ḱa, đằng xa kia, sau eo biển Akashi đă thấy bóng cố hương Yamato
hiện ra.
Yamato đây là phần đất kinh đô và cũng là nơi ước
vọng của tác giả. Đời xưa, theo qui ước, cái ǵ ở kinh đô (miyako)
cũng tốt đẹp và đáng yêu hơn cả. Khi lữ khách đến eo biển Akashi
trên biển nội địa Nhật Bản th́ xem như đă đến kinh đô, chốn quê nhà
và cũng là nơi ai nấy đều ngóng về. Từ Akashi trở về đông là Kinai
(trong vùng kinh đô), từ Akashi về tây là Kigai (ngoài vùng kinh
đô). Dĩ nhiên đất Akashi cát trắng tùng xanh, phong cảnh hữu t́nh là
một makura kotoba (chữ gối đầu) v́ dính dáng với mối t́nh của chàng
Genji và người đẹp ở đấy. Trong một bài khác cùng một chùm thơ
(2-254), Hitomaro đă chơi chữ, dùng akashi
灯火(ánh
đèn) để dẫn đến akashi
明かし(tươi
sáng) và Akashi
明石(địa
danh) . C̣n như từ đời Heian th́ ta thấytrong Kokinshuu (Cổ Kim Tập)
chẳng hạn, tên eo biển Akashi thường được ghép đôi với các h́nh ảnh
như asagiri (sương mù ban mai), shimagakura (đảo ẩn ḿnh), honobono
to yoru ga akeru (trời lờ mờ rạng sáng).
Sở dĩ trong bài thơ có chữ Yamato shima (đảo Yamato)
v́ lữ khách xem những rặng núi như Ikoma và Kasuragi trên đất ấy dài
ra giống như một chuỗi đảo. Chắc lúc này Hitomaro đang từ Dazaifu
dưới Kyuushuu trở về. Hành tŕnh tính phải đến một tháng trời và rất
gian nguy nên ta hiểu nỗi vui mửng của ông khi thấy Akashi ló dạng.
Tạm dịch thơ:
Đường đi dài dằng dặc / Ngóng cố hương từng giờ /
Vượt hết bao thôn vắng / Mà chửa tới kinh đô? /Akashi chợt hiện! /
Ḱa đất Yamato /
Tuy nhiên, Hitomaro cũng có
những bài nhắc đến Ômi, kinh đô của Thiên hoàng Tenji bên hồ Biwa, ở
một vị trí địa dư đối nghịch.
3-264
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
物乃部能八十氏河乃 阿白木尓 不知代經浪乃
去邊白不母
Dạng huấn độc (đă chua âm):
もののふの八十宇治川の網代木にいさよふ波のゆくへ知らずも
Phiên âm:
Mononofu
no / Yasoujigawa no / ajiroki ni / imayou nami no / yukue shirazu mo
/
Diễn ư:
Những con sóng dập d́u trên hàng cọc dùng làm nơm
đơm cá (ajiroki) trên ḍng sông Uji, tưởng như bị ứ lại nhưng mới đó
đă đi đâu mất dạng và không biết đang đến chốn nào.
Tác giả Hitomaro đă làm bài thơ này khi ông đi từ
Ômi về triều và phải ngang qua con sông Uji. Mononofu (ư nói văn vơ
bá quan phục vụ triều đ́nh) là makura kotoba của Uji, nhân v́ họ
đông đảo, phải dùng số nhiều nên mới kèm thêm từ yaso (80, ư nói rất
đông).
Ngắm được ajiroki (cọc gỗ) là vào thời điểm từ cuối
thu sang đông khi người ta đóng nó trên sông và giăng ra rồi chắn
ḍng nước bằng những tấm phên bằng tre hay củi con với mục đích bắt
cá nhỏ. Đó là một h́nh ảnh rất trữ t́nh của vùng Uji, nơi có nhiều
biệt thự nhà quan.
Tạm dịch thơ:
Bao nhiêu là hàng cọc / Giăng ra đơm cá đông / Uji
tưởng giữ nước / Ai ngờ buông theo ḍng / Nay dạt về đâu nhỉ ? / Có
dừng một thoáng không ? /
Tiếp đến, xin giới thiệu thêm một bài tanka khác của
ông, cũng bày tỏ ḷng hoài cựu đối với kinh đô Ômi (bài 3-266) trong
một lần đi ngang qua đấy:

Sông Uji (Nguồn Internet)
3-266
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
淡海乃海夕浪千鳥 汝鳴者 情毛思<努>尓
古所念
Dạng huấn độc (đă chua âm):
近江の海夕波千鳥汝が鳴けば心もしのにいにしへ思ほゆ
Phiên âm:
Afumi no umi / Yufunami chidori / naganakeba /
kokoro mo shi no ni / inishie omoyu
Diễn ư:
Trên vùng Ômi bên bờ hồ Biwa (ngày xưa người ta gọi
hồ lớn là biển hay umi) không biết màn đêm buông xuống tự lúc nào.
Hỡi những con chim óc cau (chidori), một loài chim di, đang lượn
trên mặt hồ gợn sóng kia ơi! Xin các ngươi đừng cất lên tiếng hót
buồn thảm, không thôi ḷng ta sẽ phải chạnh nhớ thời vàng son ngày
xưa của kinh đô.
Tạm dịch thơ:
Màn chiều chợt buông mau / Trên cánh đồng Ômi / Nhắn
cùng lũ chim di / Hót gieo buồn mà chi / Làm chạnh nhớ triều xưa /
(Phế hưng qua mấy lớp).
Sau bài chôka với lời lẽ hùng
hồn và bi tráng nói về kinh đô Ômi nay đă trở thành hoang địa, bài
tanka này bày tỏ ḷng cảm khái và hoài cựu của tác giả. Ông không
ngỏ cùng ai mà chỉ nói chuyện với lũ chim trời là giống óc cau đang
bay lượn trên sóng hồ Biwa. Lũ chim óc cau (chidori), những con chim
trời vô tâm, có tiếng hót thảm thiết, làm cho tác giả, trong một
buổi chiều đứng bên hồ, cảm thấy hết sức cô đơn. (Đàn chim óc cau
này cũng là bạn đường của chàng Genji trên bước đường lưu đày ra
vùng biển Suma v́ một mối t́nh bất chính với cô vợ hứa hôn của Thiên
hoàng).
Cùng với màn đêm sụp tối, h́nh
ảnh thời vàng son của chốn cố đô lại hiện về. Để ư là hai câu đầu
của bài thơ là hai danh từ phức hợp (Afumi (Ômi) no umi nói
về hồ Ômi bao la như biển và Yufuyami (Yuuyami) chidori chỉ
chim óc cau khi trời sập tối. Viết Afu đọc là Ô, Yufu đọc là Yuu).
Cách sử dụng câu không có động từ như vậy có hiệu quả cô đọng ư
tưởng để sau đó buông ra và dàn trải trong câu cuối, một câu 8 âm
nghĩa là thừa một âm (Inishie no omoyu = nhớ lại thời xưa).
Cái chết của Hitomaro
Về cái chết của Hitomaro, có
nhiều thuyết về thời gian và địa điểm.Có người bảo ông chết đột ngột
v́ bạo bệnh trên đường đi khi qua vùng Iwami (nay là tỉnh
Shimane).Nếu tin theo những ǵ ghi bên tựa đề th́ bà vợ ở Iwami là
Yosami no Otome nghe tin dữ mới đi t́m nhưng không biết xác hay tro
cốt ông ở đâu, tưởng rằng nó đă bị ném xuống đáy sông làm bạn với ṣ
ốc. Do đó, bà mới làm hai bài thơ khóc thương ông. Tuy nhiên, nếu
thế th́ không ăn khớp với giả thuyết bà đă chết trước, rồi ông mới
làm thơ ai điếu như từng thấy trong bài thơ khóc vợ bên trên bài
(2-210). Điểm nghịch lư này hơi khó giải thích v́ đă chết rồi làm
sao có thể đi kiếm xác chồng. Hoặc giả nhân vật phụ nữ nói bên trên
đó là một người khác!.
Tuy vậy, trước tiên, xin đưa ra
bài thơ được xem như thơ Hitomaro tự ai điếu chính ḿnh (tự thương
ca):
2-223
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
鴨山之磐根之巻有 吾乎鴨 不知等妹之
待乍将有
Dạng huấn độc (đă chua âm):
鴨山の岩根しまける我れをかも知らにと妹が待ちつつあるらむ
Phiên âm:
Kamoyama
no / iwane shimakeru / ware wo kamo / shirani to imo ga /
machitsutsu aru ramu (ran) /
Diễn ư:
Ta lấy ghềnh đá trên núi Kamoyama này gối đầu, sắp
sửa chết đến nơi.Nếu sự thể xảy ra như thế th́ vợ ta trong lúc này
vẫn không hay biết ǵ và cứ măi đợi chờ.
Tạm dịch thơ
:
Nếu gối đầu ghềnh đá / Núi Kamoyama / Nằm đây và đợi
chết / Chắc người vợ của ta / Giờ cũng không hay biết /Chờ măi kẻ đi
xa /
Nhân đây phải thông báo là trước khi bài thơ “tự
thương” này ra đời, Hitomaro đă viết thơ ai điếu một cái xác ông
gặp t́nh cờ giữa đường và tội nghiệp cho người ấy chết một ḿnh, lấy
đá làm giường, vợ con không hay biết (bài chôka 2-220 với 2 hanka
2-221 và 2-222). Như được đề cập đến trong một bài hanka khác, trước
khi chết, anh cháng này chỉ muốn cùng đi với vợ hái rau rừng yomena 嫁菜
(starwort, từ điển dịch là cây phiền lũ,
không hiểu h́nh dáng ra sao) đem về ăn (yome c̣n có nghĩa là “người
vợ”) .
Bài chôka nói trên nhan đề “Thấy người chết trong
núi đá khi qua đảo Samine no shima ở Sanuki (đảo Shikoku)”. ( Nó có
cái ǵ làm ta liên tưởng đến Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của cụ
Nguyễn Du vốn cũng khóc thương những kẻ chết bên đường!). Vậy th́
Hitomaro đă khóc cho ḿnh hay cho một người vô danh chết bờ chết
bụi? Thật t́nh chưa có câu trả lời thật thỏa đáng!
Tiếp đến là 2 bài thơ, được xem như thơ bà Yosami no
Otome:
2-224
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
<且>今日々々々
吾待君者 石水之 貝尓 [一云谷尓]
交而 有登不言八方
Dạng huấn độc (đă chua âm):
今日今日と我が待つ君は石川の峽に
[一云 谷に]
交りてありといはずやも
Phiên âm:
Kefu kefu (Kyô kyô) to / wa ga matsu kimi wa /
ishikawa no / kai ni majiri ni / ari to iwazu ya mo /
Diễn ư:
Người ấy cứ nói hôm nay về, hôm nay về, thế mà có
thấy bóng ai đâu. Làm ta măi đợi chờ khô héo. Hay giờ đây người đă
nằm với lũ ṣ ốc ở đáy sông Ishikawa kia rồi!
Tạm dịch thơ::
Hẹn em nội ngày nay / Sao người chẳng về ngay / Để
em chờ khô héo / Bấm đốt tay từng ngày / Hay anh vùi sóng nước / Nằm
cạnh lũ ṣ, trai.
2-225
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
直相者相不勝 石川尓 雲立渡礼 見乍将偲
Dạng huấn độc (đă chua âm):
直の逢ひは逢ひかつましじ石川に雲立ち渡れ見つつ偲はむ
Phiên âm:
Tada no
ai wa (Tada ni awaba) / ai katsu mashiji / ishikawa ni / kumotachi
watare / mitsutsu shinohamu (han) /
Diễn ư:
Em đâu c̣n mong chi được gặp người ấy trực tiếp nữa!
Bên bờ sông Ishikawa, em sẽ bảo với mây hăy giăng mắc thật dày cho,
để em nh́n làn mây mà nhớ tới người ấy.
Tạm dịch thơ:
C̣n mong chi gặp lại / Người xưa nay c̣n đâu / Đứng
bên con sông sâu / Mong mây mờ che phủ / Để ngước mắt nh́n trời /
Thương về h́nh bóng cũ.
Tiết X:
Thơ Takechi no Kurohito高市黒人:
Nhà thơ Takechi no Kurohito (từ
đây sẽ gọi tắt là Kurohito) là người đồng thời đại với Kakinomoto no
Hitomaro và cũng như ông, một viên quan phẩm trật thấp kém nhưng tài
thơ cao. Ông du hành nhiều nên trong thơ ông đầy h́nh ảnh về thiên
nhiên và cách miêu tả thiên nhiên của ông khá độc đáo. Đề tài và lối
diễn đạt của ông phần nhiều tiêu sơ, đạm bạc, buồn thương, phản ánh
nhân cách tác giả. Ông chỉ viết tanka và c̣n để lại 18 bài.
Trước tiên, xin tuyển dịch 4
bài thơ của ông (bài 3-270, 3-271, 3-372 và 3-274) thuộc loại tạp ca
có tính ki lữ (du hành) và vọng hương (nhớ quê):
3-270:
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
客為而物戀敷尓 山下 赤乃曽<保><船>
奥榜所見
Dạng huấn độc (đă chua âm):
旅にしてもの恋しきに山下の赤のそほ船沖を漕ぐ見ゆ
Phiên âm:
Tabi ni shite / monokohoshiki ni / yamashita no /
ake no sohobune / oki ni kogu miyu
Trên đường lữ hành, làm sao không nhớ quê hương
(kinh đô) nhưng không ǵ cảm động bằng khi nh́n thấy dưới chân núi
con thuyền (nhà quan – okami no fune) sơn đỏ đang lướt sóng ra khơi
để trở về kinh đô.
Tạm dịch thơ:
Trên bước đường lữ thứ / Nào nguôi dạ nhớ quê /
Nhưng làm ta cảm động / Là phía núi xa kia / Thuyền quan sơn đỏ thắm
/ Đang vượt sóng quay về.
Yamashita (dưới chân núi) có thể là một chữ gối đầu,
tu sức cho aka (đỏ) nhưng vừa có nghĩa là chân núi. C̣n sohobune là
thuyền sơn đỏ của nhà quan, thuyền công vụ. H́nh ảnh tương phản của
con thuyền sơn đỏ và mặt nước xanh và cây cối xanh um là cái đẹp mà
Kurohito ca ngợi, nhưng trước đó, ông muốn bày tỏ nỗi cô đơn và ḷng
buồn man mác của người lữ khách v́ phải xa quê (kinh đô).
3-271:
Nguyên văn (dạng Man.yôgana):
櫻田部鶴鳴渡 年魚市方 塩干二家良之
鶴鳴渡
Dạng huấn độc (đă chua âm):
桜田へ鶴鳴き渡る年魚市潟潮干にけらし鶴鳴き渡る
Phiên âm:
Sakurada e / tazu naki wataru / Ayuchigata / Shiho
hi ni kerashi / tazu naki wataru/
Diễn ư:
Những con chim hạc vừa kêu vừa bay về hướng cánh
đồng thôn Sakura. Phía ấy là băi cạn của vùng Aichi (Ayuchi), chắc
nước triều đă rút cho phép lũ chim hạc cùng nhau đi kiếm mồi nên
chúng mới cất tiếng kêu to như vậy.
Tạm dịch thơ:
Hạc vừa kêu vừa bay / Sakura xa hút / Phải chăng bờ
Aichi / Nước triều vừa mới rút / (Băi giờ đây đă lộ) / Hạc vừa kêu
vừa bay.
Thôn Sakura thuộc vùng Oware (Aichi, Nagoya bây
giờ). Ở đó có băi biển tên là Aichi (viết theo lối cổ là Ayuchi).
Bài thơ này về mặt không gian lẫn thời gian đều gieo cho ta một ấn
tượng rộng răi, to lớn. Tác giả đă đi ngang qua băi biển này khi
nước triều chưa rút để về hướng đông. Sau đó, ông thấy ngược chiều
với ḿnh là một bầy chim hạc hướng về phía tây, cánh đồng thôn
Sakura, vừa bay vừa kêu. Ông tưởng tượng rằng lúc này nước triều đă
rút xuống, nhiều mồi (tôm, cá, vi sinh vật…) lộ ra nên chim mới kéo
đến đông như vậy. Lúc ấy, chắc ông đang ngước mắt lên trời nh́n
những cánh chim đang sải rộng. Câu thứ 2 và câu thứ 5 cho ta cảm
tưởng không chỉ một đàn chim thôi đâu mà có rất nhiều đàn
chim như vậy. Cùng lúc, khoảng thời gian triều lên, triều xuống cũng
kéo rất bài, chứng tỏ tác giả đă đứng khá lâu giữa thiên nhiên.
Thiên nhiên rộng răi, chim hạc cao quí, bài thơ có
phẩm cách cao sang. Những âm ta (9 chỗ) và ka (5 chỗ) gợi cho độc
giả Nhật Bản một t́nh cảm sảng khoái.
Về cảnh hạc bay trên băi biển, ta cũng nhớ đến một
giai tác khác của nhà thơ Akahito (Yamabe no Akahito). Hăy đợi đến
phần nói về Akihito trong những trang sau.
3-272:
Nguyên văn (dạng Man.yôgana):
四極山 打越見者 笠縫之 嶋榜隠 棚無小舟
Dạng huấn độc (đă chua âm):
四極山うち越え見れば笠縫の島漕ぎ隠る棚なし小舟
Phiên âm:
Shihatsuyama / uchikoe mireba / Kasanuhi no / shima
kogikakuru / tana nashi obune
Diễn âm:
Rốt cuộc vượt qua được núi
Shihatsu, từ trên cao ta thử nh́n chung quanh th́ vừa lúc ấy ở nơi
xa kia, thấp thoáng một chiếc thuyền trơ trọi không be (thuyền độc
mộc) đang chèo tiến về bóng núi trên ḥn đảo Kasanui.
Tạm dịch thơ:
Vượt núi Shihatsu / Đưa mắt
nh́n ngoài khơi / Kasanui đảo ấy / Bóng một chiếc thuyền côi / Cố
chống chèo về bến / Thấp thoáng phía xa xôi.
Địa danh núi Shihatsu vẫn chưa
biết nằm ở đâu. Nội dung của bài thơ này chỉ có một nhận xét hoàn
toàn khách quan trước khung cảnh thiên nhiên rộng lớn và yên lặng
chứ không gửi gắm tâm tư ǵ vào đó cả. Tác giả đă cho ta thấy sự
chính xác như đang chụp một bức ảnh trong việc mô tả ngoại giới của
ông.
3-274
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
吾船者枚乃湖尓 榜将泊 奥部莫避
左夜深去来
Dạng huấn độc (đă chua âm):
我が舟は比良の港に漕ぎ泊てむ沖へな離りさ夜更けにけり
Diễn âm:
Wa ga fune wa / Hira no minato
ni / kogihatemu (ten) / oki e nasakari / sa yo fuke ni keri /
Diễn âm:
Thuyền của ḿnh đêm nay hăy đỗ
lại bến Hira này thôi. Đừng ra khơi để làm ǵ, đêm đă khuya khoắt
thật rồi.
Bến Hira nằm ở phía tây hồ
Biwa. Tác giả nhủ ḷng là hăy đỗ lại bến v́ trời đă quá khuya rồi,
nếu không sẽ phải ṃ mẫm trong đêm. Nó thể hiện tâm trạng bất an của
ông trong chuyến lữ hành, cũng như trong bài 3-275, trên đường lộ,
ông lo không kiếm ra được ngôi nhà trọ để qua đêm.
Tạm dịch thơ:
Chèo ơi, ngừng khuấy nước / Hira dường đến nơi / Tối
nay xin gác mái / Ngủ lại bến này thôi / Khơi xa đường chẳng thấy /
Đêm đă quá khuya rồi /
Dưới đây là một bài thơ Takachi no Kurohito làm ra
khi tháp tùng Nữ thiên hoàng Jitô hành hạnh (ngự du) ở vủng Mikawa
(nay thuộc miền đông tỉnh Aichi tức vùng Nagoya) vào tháng 10 năm
702.
1-58
Nguyên văn (dạng Man.yôgan
何所尓可船泊為良武 安礼乃埼 榜多味行之
棚無小舟
Dạng huấn độc (đă chua âm):
いづくにか船泊てすらむ安礼の崎漕ぎ廻み行きし棚無し小舟
Phiên âm:
Izuku
nika / funahateramu / Areno saki / kogitami yukishi / tananashi
wbune /
Diễn ư:
Không biết bây giờ đây chiếc
thuyền con trơ trụi không có cả be làm bằng ván từng chèo quanh doi
biển Are no saki đang ngủ đỗ bến nào nhỉ?
Tananashi kobune (thuyền con
không be, có người dịch là marukibune
丸木船hay
kuribune
刳舟
tức là thuyền tạc vào một bộng cây, thuyền độc mộc). Chiếc thuyền
cực kỳ đơn sơ, không ra được xa, cứ chèo loanh quanh mấy ḥn đảo.
Takechi no Kurohito viết bài
này khi ông tháp tùng chuyến ngự du của Nữ thiên hoàng Jitô trong
vùng (nay là phía đông tỉnh Aichi). Bài này nói về tâm sự ông khi
thao thức trong đêm để tự hỏi ḷng con thuyền đơn sơ mà ḿnh thấy
lúc ban ngày giờ đây đă về đỗ bến nào.
Bài thơ gợi lên trong ta cái
bấp bênh của cuộc đời lữ khách, h́nh ảnh của chính cuộc đời thu gọn.
B́nh sinh, Kurohito hay vịnh những sự vật đă ra ngoài tầm mắt, tầm
tay, biểu lộ được một bầu không khí bất an, bàng bạc..., khiến cho
thơ ông có phong vị khác với người đương thời.
Tạm dịch
thơ:
Trên mũi đất Are / Bỗng nhớ
chiếc thuyền quê / Trơ trụi không thành ván / Chèo quanh chùm đảo
kia / Đỗ bến nao thuyền nhỉ ? Thắc mắc suốt đêm khuya!
Hai bài 1-58 vừa rồi và 3-272
bên trên làm liên tưởng đến mấy câu thơ Việt đọc lâu rồi, của Nguyễn
Bính th́ phải, nhưng có thể cả hai đă có chung một mối hoài cảm bàng
bạc mơ hồ:
Sáng mai xuôi ngược về đâu
nhỉ,
Nào biết về đâu kẻ ngược
xuôi
Takechi no Kurohito cũng có tâm
hồn hoài cựu. Ông có 4 bài thơ nhớ về kinh đô Ômi ( 1-31, 1-32,
1-33, 3- 305) cũng như Hitomaro. Xin đơn cử bài 1-32 :
1-32
Nguyên văn (dạng Man.yôgana):
古 人尓和礼有哉 樂浪乃 故京乎
見者悲寸
Dạng huấn độc (đă chua âm):
古の人に我れあれや楽浪の古き都を見れば悲しき
Phiên âm:
Inishie no / hito ni ware ya sasanami no /
furuki miyako wo / mireba kanashiki /
Diễn ư:
Không biết ta có phải là người
đă sống vào thời đại kinh đô Ômi không nhỉ ! Không thể nào! Thế
nhưng cớ sao khi đến đây nh́n thấy dấu tích kinh đô cũ ở Sasanami,
ta lại thấy buồn đến vậy.
Tạm dịch thơ:
Ḿnh xưa nào có phải / Làm
quan triều Ômi / Mà lạ chưa, khi đến / Vùng Sasanami / Nh́n kinh đô
hoang phế / Ḷng bỗng nặng sầu bi?
Tiết XI:
Thơ Naga no Imiki Okimaro長忌寸奥麿:
Về tác giả Naga no Imiki
Okimaro, không ai biết ǵ về thân thế nhưng có lẽ ông cũng thuộc
hàng quan lại, ra đời sau Kakinomoto no Hitomaro một ít lâu. Xin
tŕnh bày 4 bài tanka của ông (1-57, 3-265, 16-382, 16-383):
1-57:
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
引馬野尓仁保布榛原 入乱 衣尓保波勢
多鼻能知師尓
Dạng huấn độc (đă chua âm):
引間野ににほふ榛原入り乱れ衣にほはせ旅のしるしに
Phiên âm:
Hikumano ni / nihofu harihara / irimidare / koromo
nihowase / tabi no shirushi ni
Diễn ư:
Hỡi các vị trong đoàn tùy tùng
ngự giá. Chúng ta đang ở trên cánh đồng Hikuma, nơi có nhiều cây
hari (có bản viết là hagi) nở hoa đẹp đẽ (cây hari là cây trăn, một
loại cây thuộc họ dâu (kuwa), c̣n hagi là cây thưu, một trong bảy
loại cỏ mùa thu có hương thơm). Mọi người đều hăy vào đấy cho áo
xống nhuộm màu (và ướm hương thơm) để kỹ niệm chuyến tuần du
này.(Bài thơ dịch theo ư hagi)
Tạm dịch thơ:
(Hỡi các vị tùy giả) / Qua
đồng Hikuma / Nơi cây nở hoa đẹp / (Hương thơm tỏa gần xa) / Vào đây
cho áo xống / Nhuộm màu, tẩm hương hoa / Kỹ niệm theo xa giá /
Chuyến tuần du (miền xa).
Lời chú thích cho biết năm 702,
Hoàng hậu Jitô sau khi lên ngôi và nhường ngôi và trở thành thái
thượng thiên hoàng, đă tổ chức một cuộc ngự du với triều thần ở vùng
Mikawa. Thuyết của tăng Keichuu cho rằng cánh đồng Hikuma nằm ở
Mikawa (thuộc Nagoya bây giờ) trong khi nhà nghiên cứu Mabuchi cho
là nó ở Tôtômi. Cuộc tranh căi này đối với độc giả ngoại quốc chúng
ta th́ không có ư nghĩa ǵ đặc biệt. Đáng lưu ư chăng là việc có
thuyết cho rằng chuyến ngự du và phong cảnh dược đưa ra chỉ là sản
phẩm tưởng tượng chứ không hề được thực hiện.
Thời Man.yô người đi đường
thường nhuộm áo (suriirokoromo) để kỹ niệm chuyến đi như ngày nay
người ta đóng dấu vào bưu thiếp hay hộ chiếu và đây có lẽ là lời của
một ông quan tháp tùng muốn bày tỏ ḷng yêu và cảm xúc đối với thiên
nhiên của ḿnh.
3-265:
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
苦毛零来雨可 神之埼 狭野乃渡尓
家裳不有國
Dạng huấn độc (đă chua âm):
苦しくも降り来る雨か三輪の崎狭野の渡りに家もあらなくに
Phiên âm:
Kurushiku mo / Furikuru ame ka / Miwanosaki / sano
no watari ni / ihe mo aranaku ni/
Diễn ư:
Sao mưa tầm tă như vậy, khổ ơi là khổ. Chỗ bến đậu
thuyền ở Sano vùng mũi đất Miwagasaki này không có lấy một nóc nhà
để chỗ trú mưa.
Tạm dịch thơ:
Khổ ôi chao là khổ! / Trời
cứ mưa tầm tă / Ở doi đất Miwa / Trên bến Sano đó / Không cả một nóc
nhà / Để tạm nấp qua mưa.
Nhà thơ vịnh cảnh khốn khổ của
người bộ hành gặp cơn mưa lớn không t́m ra một mái nhà để trú mưa.
Lời thơ đơn sơ mộc mạc, nh́n ngoại cảnh thấy sao nói vậy, không có
một chút tu sức. Thế nhưng khung cảnh quạnh vắng ấy lại gieo được
mối cảm động cho con người. Hiện tượng này giải thích được bằng phạm
trù mỹ học mà người Nhật thường gọi là mono no aware (Mà thật thế!
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu).
Sano và Miwagasaki là những địa
danh một vùng ven biển trong xứ Kii, một bán đảo (nay là tỉnh
Wakayama). Trong Shin-Kokin ( gọi tắt Tân Cổ Kim Ḥa Ca Tập), nhà
thơ Fujiwara no Teika cũng có bài thơ mượn thơ Naga no Imiki
như một bài thơ gốc (thủ pháp honkadori本歌取りhay
thơ mô phỏng cổ nhân), ghi lại cái hoang vắng, tịch mịch của bến
Sano, nơi mà không có cả một bóng người dừng cương ngựa để rũ tuyết
đang bám trên áo xống:
駒とめて袖うち払うかげもなし佐野の渡りの雪の夕暮れ
Koma tomete / Sode uchiharau /
Kage mo nashi / Sano no watari no / Yuki no yuugure /
Qua đây ngựa chồn bước / Rũ
áo đâu là người / Sano trên bến nuớc / Chiều tuyết xuống lâu rồi.
Ngày nay, làm như thế có thể bị
kết tội đạo văn đạo thơ, vi phạm tác quyền. Thế nhưng đời xưa cho
rằng bắt chước như thế là tốt v́ khi bắt chước ai là ḿnh đă tỏ ra
kính trọng tiền bối rồi và hậu thế khi đọc bài sau, có thể thưởng
thức cả dư vị bài thơ gốc.
16-3824:
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
刺名倍尓湯和可世子等 櫟津乃 桧橋従来許武
狐尓安牟佐武
Dạng huấn độc (đă chua âm):
さし鍋に湯沸かせ子ども櫟津の桧橋より来む狐に浴むさむ
Phiên âm:
Sashi nabe ni / yu wakase kodomo / ichihitsu no /
ebashi yori komu / kitsune ni amusamu /
Diễn ư:
Hỡi các cô cậu bé con. Hăy đun nước lên bằng cái nồi
có cán. C̣n chồn kêu “kon kon” trên cây cầu gỗ bách (hinoki) ở
Ichihitsu đang đến nơi. Dội nước sôi lên nó đi.
Tạm dịch thơ:
Hỡi cô cậu bé con / Đem nồi
nước mà đun / Ḱa trên cầu gỗ bách / Chồn đang kêu lon con / Sắp ḅ
đến đây đó / Dội cho nó hết hồn!
Đây là một bài thơ làm ra để
mua vui trong lúc yến tiệc. Trong những dịp đó, người ta hay ra đề
tài về tiếng gơ vào chén, bát, bầu rượu gây âm thanh (như “kon, kon”
ở đây) và kết hợp nó với sông, với cầu vv…là những ǵ chẳng liên
quan đến nó và nhà thơ phải biết ứng biến để làm ra thơ ngay lập
tức. Tṛ chơi này cũng tương tự như thơ tếu hoặc chuyện tếu (rakugo)
bây giờ. Người Nhật có h́nh thức “rakugo sandai-banashi” có nghĩa là
đưa ra 3 đề tài (sandai) để kể thành chuyện (hanashi) đi đến một kết
luận đột ngột (rakugo) để mua vui. Ví dụ họ thách người làm thơ làm
sao kết hợp được 3 thứ không ăn nhập vào nhau như kôri (băng, nước
đá), futon (nệm giường, nệm ngồi) và kumo (mây) chẳng hạn.

Kitsune (Chồn) (Nguồn Wikipedia)
16-3831:
Nguyên văn (dạng
Man.yôgana):
池神 力土舞可母 白鷺乃 桙啄持而
飛渡良武
Dạng huấn độc (đă chua âm):
池神の力士舞かも白鷺の桙啄ひ持ちて飛び渡るらむ
Phiên âm:
Ikegami no / rikishimahi kamo / shirasagi no / hoko
kuhimochi de / tobiwataru ramu
Diễn ư:
Coi ḱa, có phải những con c̣ trắng kia đang bắt
chước điệu múa của thần lực sĩ trên mặt ao (hồ) hay không đấy. Sao
chúng lại biết ngậm nhánh cây và bay lượn tài t́nh như thế nhỉ?
Tạm dịch thơ:
Giống kim cương lực sĩ /
Thần trấn giữ mặt hồ / Áo trắng, tay múa kích / (Oai dũng thật vô
bờ) / Cũng ngậm nhành bay lượn / Khen cho mấy chú c̣.
Thần lực sĩ đây là Niô (Nhân
vương) hay kim cương lực sĩ trong thần thoại Phật giáo.
Họ biết cầm vũ khí như cây mâu
(hoko) để múa. Những con c̣ trắng (shirasaki) này cũng biết giang
cánh bay như áo trắng bay, chẳng khác nào điệu múa của các vị thần.
Không khỏi thấy lối so sánh này có đôi chút hài hước. Về sự tích
thần ao hồ (ikegami) th́ không rơ cho lắm, chỉ biết trong xứ Yamato
có một địa danh tên là Ikegami.
|