NHỮNG NGƯỜI TỬ ĐẠO CUỐI CÙNG

(Saigo no junkyôsha, 1959)

 

Nguyên tác: Endo Shusaku

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

Une image contenant plein air, ciel, nuage, arbreLe contenu généré par l’IA peut être incorrect.

Bức tưng có phù điêu 26 thánh tử đo năm 1594 Nagasaki 

 

Urakami, vùng đất nằm gần Nagasaki, có nơi tên gọi Nakano. Tuy giờ đây được sáp nhập vào thị xă Hashiguchi nhưng thời đó, nó hăy c̣n là một thôn làng nhỏ tên Nakano-gô.

Vào đầu thời Meiji (1868-1912, NNT), trong làng này có gă đàn ông tên Kisuke. Tuy thân h́nh bồ tượng nhưng tính t́nh anh ta lại hết sức nhát nhúa, không cân xứng với thể xác chút nào. Chẳng những thế, khi được sai bảo việc ǵ, anh ta đều làm không ra hồn. Dù cố gắng đến đâu nhưng từ vỡ đất cho đến gặt lúa cũng như vào dịp đầu xuân, khi hương chức sức cho tráng đinh tiếp tay lợp lại cái mái trụ sở giáo dân, Kisuke bao giờ đều trông mong vào sự giúp đỡ của người khác bởi v́ các cậu trai làng không thể nào khoanh tay nh́n lối làm việc vụng về của anh.

Đám bạn bè như Kanzaburô hay Zennosuke luôn miệng than thở:

-Làm việc với Kisuke-san thật chán ngấy! Mỗi lần cậu xong được cái ǵ, bọn tớ đều phải làm lại từ đầu.

Anh chỉ biết co rúm tấm thân bồ tượng của  ḿnh, thốt lên lời xin lỗi.

-Tha thứ tớ nhé, Kanzaburô! Các cậu bỏ qua cho.

Kisuke không biết làm ǵ hơn là dập đầu dập trán trước mặt đồng bọn.

Thêm một nỗi, Kisuke không chỉ vụng về. Dù tuổi c̣n trẻ, anh lại vô cùng nhát nhúa. Nói về sức vóc th́ so với các bạn cùng trang lứa, anh thuộc loại mạnh mẽ mà đáng lư ra, không có ǵ có thể khiến anh sợ hăi. Thế mà chỉ cần một con rắn nằm vắt trên đường thôi là khi đang đi anh đă phải đứng phắt lại. Đến lúc bọn con nít tinh nghịch trong làng đưa một thanh que móc cái xác rắn ấy vung vẩy trước mặt anh và đùa "Kisuke-san!, tặng anh cái này!" th́ anh đă xanh lè xanh lét như một cô gái trẻ.

Lại c̣n xảy ra câu chuyện như sau nữa chứ!  Có hôm, Kisuke từ ngoài đồng về, giữa đường gặp phải hai gă con trai làng bên, người nực mùi rượu, rồi vướng vào một cuộc lộn xộn với chúng. Dĩ nhiên hai gă đă biết tơng Kisuke là kẻ nổi tiếng nhát nhúa vào bậc nhất trong làng Nakano nên muốn nhân đấy làm khó dễ anh.

Kisuke hoảng hốt, thối lùi bên vệ đường đưa một bàn tay lên che lấy khuôn mặt, sợ sệt kêu lên:

-Xin lỗi, xin lỗi. Mấy anh tha cho tôi nhờ!

Đến như mấy kẻ kia mà cũng phải ngạc nhiên khi thấy thái độ nhũn như con chi chi nơi một người đàn ông mà thân xác gấp đôi một người thường.

-Ê! Vậy mà cũng mang tiếng con trai à? Nếu có giỏi, thử vung tay đấu với chúng ông một trận xem nào!

Chúng c̣n tiếp tục cḥng ghẹo:

-Bằng không th́ cởi truồng ra cho chúng ông xem cái của quí, bằng chứng mầy là một thằng đàn ông.

Kisuke th́ chỉ mong sao chúng tha cho anh khỏi cái việc tủi hổ đó nhưng vẻ khiếp hăi của anh lại làm cho bọn người tàn nhẫn tăng thêm khoái cảm.

-Đă bảo cởi mà chưa chịu cởi à?

Để mua vui, hai đứa c̣n dúi đầu Kisuke sát mặt đất như xử sự với một con chó con.

Đêm đó, khi nghe chuyện Kisuke bị đám con trai làng bên đoạt cả giải rút thắt lưng và phải bụm tay che hạ bộ để chạy về nhà, người trong thôn không ai mà không tức tối. Cho đến nay, làng Nakano vẫn là nơi âm thầm lén lút duy tŕ tín ngưỡng Kirishitan (Chrristian) nên tinh thần liên đới của họ rất cao. Nay lại thấy một thành viên bị trai tráng làng bên bắt nạt, họ không thể chịu đựng nổi. Đám thanh niên bèn quyết định là từ rày về sau sẽ không thèm nói chuyện với một kẻ hèn nhát như Kisuke nữa. C̣n như bọn trẻ con th́ chúng đă phản ứng theo lối trẻ con của chúng nghĩa là lấy đá và phân ngựa ném vào ngôi nhà tồi tàn của mẹ con anh.

Dù vậy, khi thấy cái dáng Kisuke với khuôn mặt cúi gầm, mỗi ngày vẫn lủi thủi vác cuốc ra đồng, người làng lại thấy cảnh tượng đó có ǵ khiến cho họ động ḷng thương cảm.Các cụ cao niên trong tổ giáo dân mới khuyên mấy anh thanh niên bằng lời lẽ của Chúa Giê-su như: " Nếu người ta tát vào má bên phải của con, hăy ch́a má bên trái cho họ tát tiếp". Nhờ đó mà dân làng Nakano tuy có khổ tâm nhưng rồi cũng tha thứ cho Kisuke, người chỉ v́ quá hèn nhát mà làm tṛ cười cho trai tráng làng bên.

Như đă nói, làng Nakano trong vùng Urakami th́ kể từ thời Mạc phủ Tokugawa cho đến thời chính phủ mới Meiji, vẫn là nơi tiếp tục duy tŕ tín ngưỡng Kirishitan một cách lén lút, bất chấp lệnh cấm của nhà cầm quyền. Do đó, cách tổ chức nội bộ của họ có phần khác với tổ chức của các ngôi làng theo đạo Phật. Các thôn làng Kirishitan vùng Kyushyu đă tổ chức dân chúng thành những nhóm nhỏ tùy theo độ tuổi. Theo cách nói ngày nay th́ đó là những đoàn thanh niên, đoàn tráng niên, đoàn thiếu nhi hay đoàn phụ nữ...Về mặt tín ngưỡng, họ là những "Tổ giáo dân" (tổ giảng, kumikô) với những cái tên riêng biệt như "Tổ Đức Mẹ Maria", "Tổ Chúa Giê-su" ... rồi từ đó, một tổ trưởng (tổ đầu, trùm họ, kumi-gashira) được bầu lên lo việc quản lư. Phụ việc cho tổ trưởng gồm một cho đến nhiều nhân viên thiện nguyện gọi là "jihiyaku" (từ bi dịch). Theo các sử liệu của người Kirishitan truyền lại th́ con số các tổ trưởng và nhân viên thiện nguyện có thể khác nhau tùy hoàn cảnh địa phương hay nhu cầu trong vùng nên không có sự đồng nhất.

V́ lẽ đó mà Kisuke đă trở thành một thành viên (kumi-nakama) trong một tổ cũng như các thanh niên cùng độ tuổi với anh. Tuy vậy, ḷng tin tôn giáo của anh đạt tới tŕnh độ nào th́ qua những câu chuyện sắp kể ra đây, chúng ta sẽ có dịp suy xét.

Một năm, vào mùa xuân, bỗng có một gă ăn mày đến ngụ ở b́a làng. Gọi là ăn mày nhưng không phải là một thứ ăn mày b́nh thường. Bởi v́ ông ta là một con bệnh hủi mà ngón tay ngón chân đều bị co rút, tóc tai rụng chỉ c̣n ba sợi lưa thưa và đôi mắt đă mù đến phân nửa. Có lẽ ông ta trôi giạt đến làng Nakano sau khi bị đuổi từ nơi này sang nơi khác. May cho ông là t́m được một căn cḥi nằm giữa băi sông và giờ đây đang nằm lăn ra đó trong trạng thái giở sống giở chết.

Những người cầm đầu các tổ giáo dân ngoài nhiệm vụ quản lư đời sống trong làng c̣n đóng vai tṛ thầy giảng giáo lư với nhiệm vụ rèn luyện đức tin của dân chúng nên đă chỉ bảo cho họ cách giải quyết vấn đề đối với người ăn mày này. Họ kể cho đám dân làng chuyện ngày xưa Chúa Giê-su đă ch́a tay ra cho những kẻ phung hủi t́m đến với Ngài như thế nào và ra lệnh cho người làng thay phiên nhau giúp đỡ người ăn mày đang mang trọng bệnh. Do đó, dân làng đă lập danh sách những ai mỗi ngày sẽ phải mang cơm nắm và thuốc xức đến mái cḥi con nằm trên băi sông ở b́a làng. 

Khoảng hai tháng sau là đến phiên của Kisuke và đó là một ngày đầu hè. Nhân v́ công việc từ thiện anh phụ trách th́ ngay trẻ con cũng làm được nên hai người bạn của anh là Kanzaburô và Zennosuke chỉ dặn bảo qua loa:

-Này Kisuke! Người ăn mày này thân mang bệnh và rất đáng thương, cho nên cậu phải làm đúng như lời cụ trùm nhà ta đă dạy, nghĩa là cung cấp cơm nắm nóng hai buổi sáng chiều cho ông đó nhé! 

Đúng ngày hôm ấy, gần đến giữa trưa, Kisuke bèn theo lời, đem thuốc men xoa vết thương và cơm nắm, những thức mà trước khi ra đồng làm việc, mẹ anh đă sửa soạn sẵn, rồi đi ra băi sông, lúc ấy đang vắng vẻ không một bóng người. Cái nắng của ngày đầu hè đủ làm vă mồ hôi và bốc lên mũi anh cái mùi hăng nồng của những thân lau sậy thối ruỗng khi anh mới vừa bước xuống băi. Anh đă có thể nh́n thấy một phần cái cḥi mục nát của người ăn mày lộ ra như chấm đen giữa vùng lau sậy. Anh không biết ông ta đang làm ǵ v́ chung quanh tuyệt nhiên không có một tiếng động nào và sự tĩnh mịch đó làm cho anh cảm thấy như có ǵ đe dọa.

Kisuke rón rén vác cái bọc đựng cơm và thuốc men tiến gần đến cửa cḥi th́ cũng vừa lúc cánh cửa găy ấy bỗng kêu lên một tiếng kẽo kẹt đáng ngờ. Kisuke bèn đưa mắt lặng lẽ nh́n vào phía trong th́ cái hiện ra trước mắt anh là gương mặt của người ăn mày với hai hố mắt sâu hoắm không c̣n rơ h́nh thù gắn bên trên cánh mũi.

-Ôi cha ơi!

Vứt đại cái bọc trước cửa cḥi, Kisuke ḷm c̣m suưt ngă rồi cứ thế mà vùng chạy khỏi băi sông. Đó cũng chính là lúc người ăn mày vịn vào cây cột, t́m cách đứng dậy ra ngoài băi sông kiếm một vũng nước đọng để uống.

Khi chạy về đến làng th́ cho dù đồng bọn có khuyên lơn ǵ chăng nữa, Kisuke đă nhất quyết sẽ không ra chỗ đó một lần thứ hai. Vẫn với cái giọng điệu như trẻ con, anh nói như van xin:

-Tha tôi mà mấy cậu. Xí xóa cho tôi nhờ!

Cụ tổ trưởng và các vị lăo làng c̣n dẫn cả sự tích thánh Sebastian từng ôm lấy thân thể của người phung hủi sưởi ấm cho họ để giảng cho Kisuke nghe và răn bảo rằng v́ sự nhút nhát, anh đă tỏ ra thiếu t́nh yêu thương đối với đồng loại.  Nghe lời khuyên của các già làng, chiều hôm đó, thêm một lần nữa,  Kisuke đă thử vác bọc cơm nắm và thuốc men ra băi sông, nhưng vừa đến cổng làng là anh đă vội vă quay về. Thế rồi, anh bèn chắp hai tay van lạy:

-Chuyện nào khác con cũng xin làm nhưng làng hăy tha cho con phần việc này!

Vào lúc đó, nghe nói là một già làng tên gọi Taira no Kunitarô – người sau này sẽ tử đạo khi bị giam trong nhà ngục Sakura-chô – đă sa sầm nét mặt và bảo với mọi người:

-Tôi xem cái thằng Kisuke, v́ cái tính nhát nhúa của nó, mai sau dám trở thành một kẻ phản phúc giống như Giu-đa đối với Chúa Giê-su vậy!

 

***

 

Năm 1858 nhằm năm thứ 5 niên hiệu An Chính (Ansei), Mạc phủ Tokugawa đă phá vỡ truyền thống bế quan tỏa cảng (sakoku) có từ bao đời để kư hiệp ước thông thương với Mỹ. Trong hiệp ước đó, điều thứ 8 đă ghi rằng:"Người Mỹ sống ở Nhật Bản có quyền thờ phượng thần thánh của họ và việc dựng những nơi lễ bái trong nơi lưu trú sẽ không c̣n bị cấm đoán nữa". Cùng lúc nhà nước tuyên bố phế bỏ chế độ bắt dẫm chân lên thánh giá (fumie). Thế rồi, vào năm sau, họ tiếp tục kư kết các hiệp ước có nội dung tương tự với  bốn nước khác là Anh, Pháp, Nga và Hà Lan. 

Năm 1859, linh mục Girard, người của Hội Truyền Giáo Paris, vốn chờ sẵn từ lâu ở Naha (Okinawa) đă lên Edo với tư cách nhân viên trực thuộc Công Sứ Quán của Pháp tại Nhật. Sau ông ta một năm, đến lượt linh mục Bernard Petitjean đổ bộ lên Nagasaki. Vị này bèn mướn các tay thợ xây người Nhật dựng lên một ngôi giáo đường ở Minami Yamate thuộc khu vực Ôura. Đây chính là ngôi nhà thờ nguyên thủy có tên là "Ôura Thiên Chúa Đường" vốn bị bom nguyên tử đánh sập vào năm 1945. Hồi nó đang xây, ngôi thánh đường này được gọi là "Chùa người Pháp" (Furansu-dera). Dân chúng Nhật hiếu kỳ đă đổ xô nhau đến xem và ai cũng cho là kỳ lạ. Sau đó, đám nha dịch đă ra tay can thiệp nên phong trào tham quan nầy mới chấm dứt. Tuy việc đó cho thấy là với hiệp ước đă kư kết, nhà nước không c̣n cản trở việc người ngoại quốc hành đạo nhưng lệnh cấm với người bản xứ vẫn giữ y nguyên. Đối với linh mục Petitjean và linh mục Laucaigne, người đến Nhật trễ hơn ông một năm, th́ từ khi c̣n ở bản quốc, họ đă nghe rằng ở cái đảo quốc vùng Cực Đông này, hăy c̣n một số hậu duệ của các tín đồ thời Thánh Francis Xavier (1506-52) sang đây truyền giáo (1549-51) và những người này vẫn âm thầm giữ giới luật đạo Chúa Giê-su. V́ thế, sau khi ngôi giáo đường Ôura được dựng lên th́ công việc hai ông dành mọi ưu tiên là t́m sao cho ra những con chiên gọi là Kakure Kirishitan (Hidden Christian) vốn đang sống ẩn náu.

Thế nhưng một tháng rồi hai tháng trôi qua, các giáo sĩ vẫn không thấy bóng người nào đến viếng ngôi thánh đường. Hai vị bèn cất công ra khỏi thành phố Nagasaki và nhiều lần đi t́m họ ở các vùng ngoại ô như chung quanh khu vực Urakami. Có lúc họ đem bánh trái phát cho lũ trẻ, có lúc đóng kịch vờ ngă từ lưng ngựa xuống để lôi cuốn sự chú ư nhưng vẫn không thấy một con chiên Nhật Bản nào đến với họ  để thổ lộ cái niềm tin thầm kín.

Tuy nhiên, đă có một sự kiện xảy ra vào xế trưa hôm 17 tháng 3 năm 1865, nhằm khi cha Petitjean đang qú trước bàn rước lễ để cầu nguyện. Buổi trưa hôm ấy, ngôi giáo đường hoàn toàn yên tĩnh. Bỗng nhiên có tiếng cánh cửa kêu kẽo kẹt. Linh mục nghĩ thầm có lẽ đây là người bảo vệ đang nh́n vào trong xem chừng nên vẫn tiếp tục cầu nguyện. Không phải thế! Một người nào đó đă lẳng lặng tiến sát bên ông. Quay mặt lại, ông nhận ra đó một bà nhà quê trong bộ quần áo làm ruộng đang đứng im như một cây cột.

-Bức tượng của...

Bà lẩm bẩm mà như đang th́ thầm:-

-Bức tượng Santa Maria nằm ở đâu vậy?

Câu nói đó đă khiến cho linh mục Petitjean đứng bật dậy khỏi cái bục cầu nguyện.

Ngón tay run run của ông chỉ về bên phải của cái bàn rước lễ. Không nói một câu nào, ông chỉ chỉ cho bà ta chỗ có đặt pho tượng Thánh Mẫu Đồng Trinh nhỏ cỡ 2 shaku (0,33 m x 2) mà ông dă đem đến đây từ nước Pháp quê nhà.

-Ôi chao! Đúng là Santa Maria đây rồi.

Người đàn bà kêu lên:

-Mà này! Đức Chúa Con trong tay Ngài trông mới đáng yêu làm sao!

Có thể nói đây là những câu đối thoại đầu tiên, cuối cùng đă được trao đổi giữa một người Kirishitan ẩn náu với một giáo sĩ nước ngoài sau một khoảng thời gian dài dằng dặc hơn hai thế kỷ bế quan tỏa cảng. Chính ra, các Kirishitan ẩn náu đă dấu ḿnh dưới cái vỏ Phật giáo đồ, không những ở các thôn làng hay bến cảng vùng Nagasaki và Urakami là nơi tổ tiên họ từng sinh sống mà cả ở những ḥn đảo ngoài khơi xa xôi hơn thế như Goto hay Hirado. Nơi đó , họ vẫn âm thầm ǵn giữ những giới luật của giáo hội mà cha mẹ họ đă truyền lại cũng như lén lút đọc kinh bằng tiếng La Tinh và tiếp tục sống c̣n.

Tuy nhận ra là có những cuộc giao lưu giữa con chiên và giáo sĩ nhưng Mạc Phủ vẫn chưa cho phép tôn giáo được hoạt động tự do. Để tránh việc đàn áp, (thay v́ họp ở nhà thờ), hai đức cha Petitjean và Laucaigne đă tự ḿnh đi đến những vùng đất có những người Kirishitan ẩn náu. Họ cạo mái tóc xoăn và hàm râu xồm rồi đội lên đầu những bộ tóc giả làm bằng sợi tết từ lá cọ (helm palm) được tô đen, lại ăn mặc tựa nhà nông, lợi dụng bóng tối để chèo thuyền về các đảo xa xôi và được các con chiên hướng dẫn theo những con đường ṃn trong hang hốc để đi một ṿng các làng xóm.

Dĩ nhiên, hành động của các vị giáo sĩ này vẫn không sao thoát được cặp mắt ḍm ngó của bọn nha lại. Đương thời, một trong những viên quan bố chánh (bugyô) của vùng Nagasaki là Tokunaga Iwami no Kami đă đến tận địa phương Urakami để tiến hành điều tra. Từ mùa hè năm 1867, ông ta đă tung ra 170 tay "bổ thủ" (torikata = kẻ chuyên môn vây bắt) mở một cuộc kiểm soát xem có c̣n tín đồ nào dám vi phạm điều luật cấm đạo của Mạc Phủ hay không. Chuyện sau đây đă xảy ra nhằm ngày 15 tháng 7, khi mới quá nửa đêm. Ngôi làng Nakano-gô nơi Kisuke sinh sống đă bị họ bố ráp vào chính đêm đó. Nó là phát súng lệnh mở màn cho một cuộc bách hại tôn giáo lớn lao có tên là "Cuộc ruồng bắt lần thứ tư ở Urakami" (Urakami yoban-guzure).

Nói về thời tiết th́ tháng bảy là khoảng thời gian có nhiều trận băo đổ bộ lên đảo Kyushyu. Ngày 15 tháng 7, trời mưa to ngay từ buổi sáng. Đến tối th́ cơn mưa c̣n bắt đầu kèm theo cả gió.

Giữa trận bạo phong loạn vũ ấy, làng Nakano nằm im như chết dí nhưng chính vào lúc đó, đám sai nha có nhiệm vụ lùng bắt giáo dân đă giương cao những ngọn đèn lồng, dần dần bao vây rồi siết chặt ngôi làng.

Trong một cái nhà kho (naya) lợp tranh nằm cạnh ngôi đền Thần đạo (Miya) của làng, lúc ấy ba chàng thanh niên vẫn thức canh. Họ vừa uống trà vừa nghe tiếng mưa gào gió rít bên ngoài nhưng không hay biết có ǵ đang xảy ra. Naya (Nạp ốc) hay "nhà kho" là tiếng đặc biệt để chỉ giáo đường đă có từ thời Thánh Francisco Xavier và đó là địa điểm bí mật nơi các tín đồ trong làng vẫn tụ họp để cầu nguyện.

Ba chàng thanh niên nói ở đây chẳng ai khác hơn là Kanzaburô, Zennosuke và Kisuke. Người thứ ba đang ôm một chiếc áo để làm việc ngoài đồng (noragi) trên đùi, ngồi ngủ gà ngủ gật trong một góc.

Kanzaburô và Zennosuke lâu lâu lại ném một cái nh́n về phía Kisuke. Đối với hai anh, khi phải nếm những tân khổ của một cuộc bách hại tôn giáo, họ đă bàn với nhau là sẽ chấp nhận cả cái chết khi cần thiết.

Kanzaburô nói một cách ngang nhiên:

-Việc bách hại có thể rất đáng sợ! Nhưng dù đáng sợ đến mức nào th́ khi lâm vào cảnh đó, thế nào Chúa Giê-su cũng đến trợ giúp chúng ta. Riêng tớ th́ đă quyết tâm chịu đựng tất cả mọi sự khó khăn cho đến phút chót.

-C̣n thằng Kisuke th́ sao nào?

Zennosuke làm ra vẻ mặt băn khoăn và đổi đề tài. Thế rồi cả hai quay lại quay nh́n người bạn đường to xác đang ngủ gà ngủ gật dưới ánh nến chập chờn.

-Bề ǵ, nó là đứa nhát nhúa, không giỏi chịu đau, sẽ la làng lên thôi. Không những thế, nó c̣n có thể đi đến chỗ "sa ngă" (korobu) và phản Chúa nữa đấy!

Dĩ nhiên chữ "sa ngă" dùng ở đây có nghĩa là thay đổi lập trường và bội đạo. V́ đă quen nhau từ thuở nhỏ nên hai người biết Kisuke là kẻ nhút nhát, vụng về nhất trong đám trai làng và họ đoán rằng anh ta là người đầu tiên sẽ khóc thét khi gặp phải khó khăn. Câu nói lầu bầu của già làng Taira Kunitarô cũng như nét mặt sa sầm của cụ ngày nào đang sống lại trong tâm trí hai chàng thanh niên: "Một ngày nào đó, có thể v́ cái tính nhát nhúa của nó, thằng Kisuke sẽ trở thành một kẻ phản phúc đối với Chúa Giê-su giống như Giu-đa vậy!". Đó chẳng phải lời tiên tri của cụ ấy hay sao?

Kanzaburô bỗng đặt câu hỏi:

-Mấy giờ rồi nhỉ?

Zennosuke trả lời:

-À. Khắc thứ tám rồi đấy![1]

Ngay lúc đó, hai người bỗng nghe lẫn vào trong  tiếng mưa tiếng gió, có những tiếng c̣i sắc cạnh rít lên. Đó là ám hiệu của bọn bổ thủ để hiệp đồng tấn công vào ngôi làng Nakano. Từ phía xa ngoài bờ tường đất của ngôi làng, họ đă chực sẵn với đầy đủ gậy gộc và thừng chăo và áp sát đến nơi. Bọn bổ thủ đạp cửa và la hét không ngừng. Về cảnh tượng xảy ra trong phần sau th́ theo lời Kanzaburô, một người c̣n sống sót hôm đó, nó đă xảy ra như sau:

"Zennosuke lách qua song cửa sổ và chạy thoát được ra ngoài trong khi Kisuke vướng phải giây thừng. Tôi th́ ṿng hai cánh tay ra sau lưng, bảo các ông muốn trói th́ cứ việc trói.Thê nhưng đám nha lại bảo tôi đừng có giở tṛ ma cuội và có vẻ hết sức dè chừng. Họ vẫn giữ một khoảng cách với tôi rồi phóng giây ra trói và sau đó, ba người trong bọn xúm lại cột lấy tôi. Họ cột chặt đến siết cả cổ khiến cho tôi bất tỉnh. Họ bèn tạt nước muối  để tôi tỉnh lại rồi kéo lê và vứt tôi vào trong cái kho chứa gạo.

Có những người vỡ đầu, tóc dính đầy máu me, những kẻ khác th́ bị trói gô. Đến hừng sáng, họ đă bắt được khoảng một trăm người. Thế xong, các bổ thủ kéo chúng tôi ra khỏi kho chứa gạo và dùng roi quất vào mông. Trên đầu bọn nha lại đều có chít khăn (hachimaki) và trong tay họ đều lăm lăm lưỡi kiếm. Họ kéo chúng tôi đi nhanh như chạy xuống tận Nagasaki rồi sau đó tống giam tất cả vào ngục Sakura-chô."

Lời lẽ của Kanzaburô tuy chất phác nhưng đă đủ cho ta tưởng tượng được t́nh cảnh lúc ấy.

Và như thế cuộc bách hại giáo dân có tên là "Cuộc ruồng bắt lần thứ tư ở Urakami" đă bắt đầu. Sau khi thả hết đám đàn bà con nít hay bệnh nhân vốn không phải là đối tượng của nhà ngục Sakura-chô, nha lại bèn dồn một bọn 38 người vừa trai tráng lẫn người già có chức phận vào một chỗ giam giữ vốn chật hẹp đến phát ngộp. Đă đành trong đám đó không thể nào thiếu bóng dáng Kanzaburô lẫn Zennosuke nhưng lại có cả Kisuke với khuôn mặt khiếp sợ và tấm thân hộ pháp của anh ta.

Ngày hôm sau, một số đă bị gọi ra qú trên mặt sân trải sỏi (shirasu) của pháp đ́nh. Những kẻ không chịu "korobu" tức thay đổi lập trường sẽ chịu một h́nh phạt có tên là "dodoi".Với h́nh phạt này, đương sự sẽ bị trói bằng thừng cả hai tay hai chân, cổ và ngực, tay quặt vào sau lưng. Rồi sau đó cả thân h́nh họ sẽ được kéo lên một cái cọc cao và nhận những trận đ̣n bằng gây gộc hay roi vọt của đám nha lại đến từ phía dưới. Xong họ lại được kéo xuống mặt đất và tạt nước vào người. Làm như thế, giây thừng sẽ hút nước và rút ngắn lại, siết vào da thịt nhiều hơn. Tất cả những ǵ đám người c̣n lại trong nhà ngục nghe được chỉ là tiếng kêu nức nở và uất ức như loài thú của các nạn nhân cũng như tiếng mắng chữi dữ dằn của nha lại vọng lại từ sân pháp đ́nh.

-Kisuke ! Ráng giữ b́nh tĩnh!

Chính ḿnh vừa chịu đựng những tiếng khóc than ấy. Kanzaburô vừa nh́n qua bên cạnh, nơi Kisuke mặt mày tái mét, đang cật lực bám lấy chấn song cánh cửa, vừa lên tiếng động viên và khuyên bảo:

-Cầu nguyện Santa Maria đi nào! Hăy cầu nguyện Santa Maria cứu giúp!

Nghe anh nói, bọn người c̣n lại ở bên cạnh như vừa ư thức được điều đó, cũng bắt đầu mở miệng đồng thanh cầu xin Đức Mẹ Maria bảo vệ họ. Giữa khi tiếng cầu nguyện u trầm ấy cất lên, người ta vẫn thấy mỗi Kisuke là đang bấu víu một cách tuyệt vọng vào mấy chấn song.

-Nào, Kisuke! Ráng giữ b́nh tĩnh!

Thế nhưng bất chợt có tiếng Kisuke kêu lên thật to. Với tiếng kêu đó, anh đang gọi một nha lại đứng ở bên ngoài:

-Tha cho tôi nhờ! Xin thả tôi ra, thầy đội ơi!

Mấy người tín đồ vội vàng đưa bàn tay lên bụm miệng Kisuke không cho anh ta la hét.Thế nhưng giống như đang giữa cơn điên, Kisuke mạnh đến độ có thể đẩy dạt ba bốn người đàn ông đang túm lấy anh.

-Tui hết chịu nổi rồi.  Tôi xin hàng (korobu). Thầy đội ơi!

Người sai nha bèn mở cánh cửa có chấn song kiên cố lên và kéo thân xác Kisuke ra ngoài. Ra đến nơi, anh ngă lăn kềnh (korobu) trên mặt đất. Sai nha bèn xốc anh lên và dắt ra sân pháp đ́nh. Cái dáng sau lưng của anh sao mà xấu xa và tồi tệ đến thế. Anh sẽ được đưa đến trước mặt nhà chấp pháp để lăn vân tay, bằng chứng  cụ thể cho thấy anh đă bước qua lời nguyền (koronda).

Kanzaburô lạnh lùng nh́n theo bóng người bạn thuở ấu thời nay đă trở thành kẻ phản bội như Giu-đa đúng như lời già làng Kunitarô đă tiên đoán. Có lẽ v́ cảm thấy hổ thẹn với đồng đạo cho nên sau khi đă lăn vân tay, Kisuke không dám quay đầu nh́n về phía nhà ngục mà vội vă bước ra khỏi cái sân giữa.

Sau khi Kisuke bội đạo, ba tín đồ khác cũng v́ không chịu nổi nhục h́nh "dodoi" trên sân pháp đ́nh, đă hứa là sẽ cải tông. Ba mươi bốn tín đồ c̣n sót lại vốn tin tưởng vào đồng bọn nay phải chứng kiến cảnh phản bội của từng người một như thế, đều không khỏi xót xa cay đắng. Tuy cay đắng đấy nhưng cùng lúc, có lẽ họ đă thầm hứa với ḿnh: "Riêng bọn ta sẽ không bao giờ chịu thần phục để bỏ đạo đâu!". Họ không c̣n khiếp sợ trước bất cứ h́nh thức tra khảo nào. Đến như bọn ngục tốt rồi cũng phải ngưng việc hành hạ thể xác của họ và dời tất cả lên một cái khám nhỏ cất tạm trên vùng đất đồi của Nagasaki có tên là Kojima. Sau đó, họ đă bị giam giữ tại đây suốt ba tháng trời. Trong thời gian sống ở đây, họ nào có biết là vào tháng 10 năm ấy (1867), chính quyền Mạc Phủ Tokugawa đă cáo chung.

 

***

 

Việc bách hại người Kirishitan ở Kyushyu đương nhiên đă gây ra rất nhiều bức xúc cho các viên lănh sự ngoại quốc. Họ bèn cực lực phản đối việc này với chính phủ mới Meiji. Thế nhưng cuộc Duy Tân vẫn chưa có  quyết định nào về phương châm hành động cho chính sách tôn giáo mới nên chỉ đưa ra những câu trả lời hết sức mơ hồ trước lời chất vấn của các lănh sự nước ngoài về cách đối xử với đạo Ki-Tô. Trên thực tế, chính quyền đă đặt những bảng yết thị ở Nagasaki với nội dung như sau: "Về luật pháp đối với đạo Kirishitan (Thiết Lợi Đan tông môn), nhà nước vẫn duy tŕ việc cấm đoán như cũ.  C̣n như các thứ tà giáo (Tà Tông Môn) th́ tuyệt đối nghiêm cấm". Tuy không nói đích xác Kirishitan là một tà giáo và có ư định phân biệt đạo Chúa với các tà giáo nhưng đó chẳng qua là một "khổ nhục kế" mà chính phủ Meiji vừa nghĩ ra được.

Dù vậy, lănh sự đoàn đă gạt ngay qua một bên lập luận tinh vi ấy. Một nhà lănh đạo của Nhật thời đó là Kido Takayoshi (1833-77)[2] xem đây là một vấn đề hệ trọng nên đă muốn thay đổi việc trừng phạt tất cả các giáo đồ vốn định tự ban đầu sang tội lưu đày đi các phiên dành cho những tín đồ chủ chốt, phần tín đồ c̣n lại sẽ tùy theo thái độ của họ mà xử trị sau. Có nghĩa là ông ta chủ trương một đối sách có hai tầng.

Căn cứ theo lệnh ấy, trong số 38 tín đồ bị bắt ở làng Nakano thuộc vùng Urakami, chỉ có 28 người là bị đày đi Tsuwano thuộc vùng Iwami (tây nam tỉnh Shimane). Chuyện này xảy ra vào tháng 7, đúng một năm sau ngày cả bọn bị bọn bổ thủ đến làng bố ráp.

Buổi sáng ngày 20 tháng 7, trong khi bến cảng Nagasaki c̣n đang ch́m trong màn sương mù trắng đục, một chiếc thuyền chở vật dụng (danpeibune) đă nằm chờ lũ tội nhân trên bến. Ngoài khơi th́ đă chực sẳn một chiếc tàu chạy bằng hơi nước trọng tải cỡ 1500 tấn. Những người lên chiếc thuyền này sẽ được chở về cảng Onomichi (đông nam Hiroshima).

Sau khi đi từ Onomichi đến Hiroshima, họ sẽ vượt núi bằng con đường San'in (Sơn Âm) để tới Tsuwano. Bên ngoài ngôi thành Tsuwano có một ḥn núi nhỏ với ngọn đèo tên là Otome (Ất Nữ). Ngôi chùa Kôrinji (Quang Lâm Tự) xây trên ḥn núi này chính là nơi bọn họ sẽ được giam giữ lâu dài.

Ban đầu, cuộc sống ở Kôrinji rất tốt đẹp bởi v́ đám sai nha ở đây c̣n ngạo nghễ, cho rằng với bọn dân ngu khu đen này, ḿnh chỉ cần ra sức giảng nghĩa th́ chẳng mấy chốc chúng sẽ biết cải tà qui chánh. Mỗi ngày đám tội nhân được cấp 5 "gô" gạo, 73 "mon" rau củ. Đối với những người trước sau là một lũ nông dân nghèo đói th́ chỉ cần được chu cấp như thế, họ đă mừng rơn. Ngày nào cũng vậy, họ đều được các nhà sư Phật giáo và ông từ đền Thần Đạo đến thuyết pháp. Trước những lời dạy dỗ ấy, đám tín đồ chỉ biết im lặng nghe nhưng tuyệt nhiên không có một người nào chịu cúi đầu để chấp nhận cải tông. Rốt cuộc, chứng kiến thái độ bướng bỉnh của họ, đám sai nha bắt buộc phải tiến hành những cuộc tra khảo như trước.

Cho đến lúc này, các tín đồ vẫn có cơm ăn no đủ nhưng từ đó trở đi, họ chỉ có mỗi bát cháo loăng với  nhúm muối. Thay v́ chăn đệm, họ được phát mấy cái chiếu lát. Áo quần của họ là manh áo đơn giống như ngày vừa bị bắt.

Đến tháng 11 th́ cái lạnh khắc nghiệt của vùng núi non San'in đă kéo tới. Nơi cuộc tra khảo diễn ra là một cái ao rộng khoảng 20 tsubo (20 x 3,3 m2) nằm trước khu vườn ngôi chùa Kôrinji. Đám tín đồ đều bị lột truồng và phải ra đứng trước bờ ao. Bên cạnh họ đă thấy bày sẵn một thùng gỗ chứa chừng bốn đấu nước. Bọn sai nha tay cầm gáo tra cán dài cũng đứng chực bên cạnh.

-Làm cách nào bọn bay cũng không chịu bỏ đạo à?

-Tôi không bỏ đạo!

Tín đồ nào khẳng định như thế sẽ bị xô xuống cái ao lúc ấy trên mặt đă bắt đầu đóng một váng băng mỏng. Khi tội nhân vừa trồi đầu lên khỏi mặt nước, họ liền bị sai nha dùng cái gáo dài đập cho ch́m xuống. Về sau, Kanzaburô đă thuật lại cảnh tượng thống khổ đó như thế này:

"Thân thể tôi dần dần lạnh đến đông cứng, cả người run rẩy, hai hàm răng lập cập đánh vào nhau rồi mắt hoa đi và không c̣n nh́n thấy ǵ chung quanh. Khi hơi thở tôi sắp đứt và bắt đầu nghĩ là giờ cuối cùng đă điểm th́ nha lại bèn hô tên và bảo tôi hăy leo lên bờ cho nhanh. Họ dùng một cây sào tre dài khoảng 3 "ken" (1, 818 m x 3) đầu có gắn móc câu, quấn lấy tóc tôi và kéo bằng tất cả sức lực. Khi tôi ra được khỏi ao, họ mới quét tuyết lấy chỗ nhóm một đống lửa với những thanh củi mục. Sau đó, họ cho phép chúng tôi ngồi gần lại để sưởi và cho uống nước muối lấy lại thần hồn. Tôi không thể nào kể hết sự đau đớn mà tôi phải nếm trải trong hôm ấy!"

Bị ra tấn bằng nước xong, đám tội đồ được đưa vào nhốt trong những cái cũi tù rộng không hơn một mét khối có gắn những chấn song dày 6 phân và đặt cách nhau mỗi 3 phân một. Lỗ thông duy nhất đối với bên ngoài là một cánh cửa nhỏ nằm ngang tầm mắt để có thể đưa cơm nước. V́ cái cũi quá chật hẹp, dĩ nhiên tù nhân phải khom ḿnh mới chui vào nổi.

Vừa bị tra khảo lại chịu thêm cái lạnh khắc nghiệt của núi rừng Tsuwano nên trong đám tín đồ, nhiều người đă lần lượt qua đời. Kẻ ra đi đầu tiên là Wasaburô, một thanh niên mới 27 tuổi. Tuy anh đă sống nổi 20 ngày trong cái cũi rộng vỏn vẹn một mét khối đó nhưng v́ sức mỏi hơi tàn nên sau đó đă trút hơi thở cuối cùng.

Sau Wasaburô, người bị tra tấn cho đến chết là Yasutarô, một anh đàn ông 32 tuổi. Nh́n từ bên ngoài, anh ta chỉ là một kẻ ốm yếu bạc nhược nhưng anh đă đem cả phần ăn ít ỏi của ḿnh nhường cho bạn đồng tù và nhận lấy phần việc không ai muốn dính vào là vệ sinh chuồng xí. Anh đă bị bắt ngồi giữa tuyết giá suốt ba ngày ba đêm rồi đến khi được tống vào cũi tù đă chết trong tư thế ngồi lom khom cúi đầu.

Kanzaburô đă có dịp nói chuyện với Wasaburô đúng ba hôm trước khi anh ấy chết.Đây là những lời mà Kanzaburô ghi lại trong sổ tay của anh: "Tôi hỏi Wasaburô chắc anh phải cảm thấy cô đơn trong cái cũi tù ấy nhưng anh đă phủ nhận điều đó. Bởi v́ từ năm lên 9, lúc nào anh cũng thấy một người đàn bà mặc áo màu xanh và choàng tấm voan xanh trên đầu y như h́nh ảnh Thánh Mẫu Maria đến tṛ chuyện với anh nên anh không cảm thấy cô độc bao giờ. Nhưng anh nhắn tôi không nên đem chuyện này kể cho ai trong lúc anh c̣n sống. Ba hôm sau ngày anh thổ lộ như vậy, Wasaburô đă vĩnh viễn ra đi trong một tâm thế hạnh phúc".

Trước những cái chết liên tiếp xảy ra, một số tín đồ đă rủn chí và bắt đầu đánh mất niềm tin. Rốt cuộc, vào một đêm đông trời đặc biệt lạnh, 16 người trong đám đă làm cử chỉ bội đạo. Họ liền được thả ngay tại chỗ, được cấp cho một bữa cơm nóng có cả rượu sake. Vài hôm sau, họ đă xuống núi.

Chỉ c̣n lại 10 người, trong đó có Kanzaburô và Zennosuke. Trong cũi tù tối tăm u ám, họ phải chiến đấu để chống chọi với nỗi nhớ làng, nhớ nhà và nhớ gia đ́nh. Những t́nh cảm nhớ nhung như vậy là động cơ làm cho ḷng họ trở nên yếu mềm..

Nhiều khi Kanzaburô tự đặt cho ḿnh câu hỏi: "Thằng Kisuke giờ ra sao rồi nhỉ?" mỗi khi anh nhớ lại khuôn mặt và cái thân h́nh hộ pháp của người bạn thuở c̣n thơ ấu mà anh đă không gặp lại kể từ khi bị giam chung ở nhà ngục Sakura-chô. Làm như trong đầu anh c̣n ghi khắc h́nh ảnh của Kisuke vào cái ngày bị sai nha kéo ra sân pháp đ́nh để lấy dấu vân tay. "Cái thằng đó sao mà nhát nhúa đến thế!...Nếu không mang tính nhát nhúa ấy, chắc nó không bao giờ phản bội niềm tin đâu nhỉ?"

Đến lúc đó, đám sai nha đă t́m ra một phương pháp mới để gây áp lực lên nhóm 10 người c̣n chưa chịu qui hàng dù đă bị tra khảo và nhét vào cũi tù.

Phương pháp đó là đem thân nhân của đám tù nhân bướng bỉnh đến đây tra tấn trước mặt chúng. Đối với sai nha, họ cho rằng việc ǵ phải bắt các anh em trai vốn là những kẻ chai ĺ nhưng sẽ bắt các bà mẹ già và lũ em trai em gái c̣n dại khờ của tù nhân đến đây. v́ như thế, họ sẽ đạt được kết quả dễ dàng hơn.

Do đó mà vào tháng hai, 26 người đàn bà và trẻ em đă được đưa lên thuyền rồi gửi tới Tsuwano. Một nhà tù mới dành cho đám người này đă được dựng lên trong khuôn viên chùa Kôrinji.  Matsu, cô em gái và Yujirô, cậu em út của Kanzaburô đều có mặt trong đám tù nhân mới. Matsu năm đó 15 tuổi, c̣n Yujurô chỉ mới 12.

Không riêng người lớn, đến cả bọn trẻ con cũng bị tra tấn không thương tiếc. Một cô nhi mới lên 10 là cậu bé Suekichi dù bị tưới dầu châm lửa trên hai bàn tay rốt cuộc vẫn không từ bỏ đức tin. Một đứa con nít khác mới lên 5 sau khi bị bỏ đói suốt hai hôm, rốt cuộc được sai nha đem bánh trái đến, đă cương quyết lắc đầu không nhận. Và rồi đứa bé đó đă giải thích:

-Má em bảo nếu con không chối Chúa th́ sẽ được vào nước Thiên Đàng. Lên trên đó, con hăy c̣n có những thứ bánh trái ngon ngọt gấp mười lần ở đây nữa.

Yuujirô, cậu em của Kanzaburô th́ bị lột truồng và trói vào một cây thập tự giá làm bằng nhánh cây và bỏ mặc ngoài trời giữa những cơn gió lạnh buốt xương da. Đến đêm, cậu ta lại bị bọn sai nha đem nước xối lên người. Chúng c̣n đem roi quất và dùng đầu mũi roi thọc cả vào tai và mũi cậu. V́ chỉ là một đứa bé con 12 tuổi, cậu đă khóc toáng lên và tiếng khóc to của cậu đă vọng đến bên tai của Kanzaburô, người đang bị giam trong cũi tù. Tuy là anh ruột nhưng Kanzaburô cũng không t́m ra cách nào để cứu lấy đứa em.

Sau một tuần  bị tra khảo, thân thể của Yuujirô đă bắt đầu sưng tấy lên và bầm tím.Nhịp tim của cậu  yếu dần. Bọn sai nha lúc ấy mới chịu buông tha và trả cậu lại cho Matsu, chị của cậu. Rồi sau đó, lấy hai bắp đùi của chị ḿnh làm chỗ tựa đầu, cậu đă th́ thào đứt khoảng:

-Chị tha thứ cho em nhé. Em đă làm hết sức để gh́m lấy tiếng khóc. Em nhớ lại những thống khổ mà Chúa Giê-su chúng ta đă chịu đựng và cố gắng để không rên siết. Nhưng v́ đau đến điếng người, em không thể nào không bật khóc. Em yếu đuối quá phải không? Chị Matsu ơi! Tha thứ cho em nhé!

Đến hừng sáng th́ Yuujirô trút linh hồn trong khi tay cậu c̣n nắm lấy bàn tay của chị ḿnh. Cũng vào buổi sáng hôm đó, đám sai nha đă đem đến một chiếc áo quan, vội vội vàng vàng bỏ cái xác cậu bé vào trong rồi bỏ đi mà không có lấy một lời.

Cái chết tức tưởi của đứa em trai làm cho một người cương quyết như Kanzaburô cũng cảm thấy đau đớn như xé gan xé ruột. Dù không có ư định sa ngă và chối bỏ ḷng tin của ḿnh, anh cũng không thể nào tỏ ra vô cảm khi tưởng tượng ra những cực h́nh mà kể từ đây, Matsu, em gái của anh sẽ phải gánh chịu. Anh tự hỏi:"Tại sao Chúa Giê-su không cứu giúp con chiên của ngài? Ngài đang ở đâu khi những đứa trẻ đang phải hứng lấy những sự trừng phạt dă man như thế này?". Sự nghi hoặc bắt đầu nhóm dậy trong đầu anh bởi v́ anh vẫn không nghe tiếng Chúa trả lời. Sự im lặng băng giá của ngài đă gieo vào ḷng anh một nỗi sợ hăi. Và do đó, ḷng tin của Kanzaburô bắt đầu bị lung lay.

-Tại sao chúng ta lại phải chịu đựng mọi sự cam khổ như thế. Có tôn giáo nào lại bắt ta phải hy sinh đến cả anh em ruột thịt như thế không?

Người thanh niên ấy đă đập đầu ḿnh vào chấn song xà-lim để đuổi đi những suy nghĩ cám dỗ đó. Da đầu của anh nứt ra và vết thương làm anh chảy máu. Thế nhưng anh vẫn không ngừng dập đầu dập trán  v́ hành động này là cách duy nhất giúp anh xua đi những ư tưởng tăm tối.

Anh hét lớn:

-Zennosuke đâu? Hăy cầu nguyện cho tôi!

Không nghe ai trả lời. Anh cũng không biết người bạn thân giờ đây đă chết hay c̣n sống.

Bốn ngày sau cái chết của Yuujirô, Kanzaburô cảm thấy ḿnh không thể chịu đựng nỗi khổ tâm này lâu hơn nữa. Trong khi ngơ ngơ ngác ngác nh́n ra ngoài sân chùa Kôrinji qua chấn song cũi tù, anh chợt thấy một sai nha đang nói chuyện với một người dáng dấp như kẻ ăn mày. Người ăn mày đó trùm lên người một chiếc áo tơi lá, tay cầm cây gậy và đang cúi đầu, rối rít xin xỏ cái ǵ đó trước mặt gă sai nha.

-Ôi chao! Chẳng phải là thằng Kisuke đang đứng đó sao?

Kanzaburô không dấu nổi sự kinh ngạc:

-Chả lẽ gă ăn mày đó lại là Kisuke?

Thế nhưng người được tên sai nha xô đẩy và đang bước về phía này đích thị là Kisuke. Vẫn không khác ǵ tướng mạo cái anh chàng cách đây hai năm với đôi chân xiêu vẹo khi được thả khỏi nhà ngục Sakura-chô ở Nagasaki.

-V́ lư do ǵ mà cái tên Kisuke hèn nhát này lại...

Khi gă ăn mày đi ngang qua nhà ngục nhốt anh, Kanzaburô nhận ra vẻ tiều tụy bẩn thỉu của một người đă phải đi suốt một đoạn đường dài để tới vùng Tsuwano này. Tuy hàm râu lởm chởm và bộ mặt đen ng̣m cáu ghét nhưng nh́n cái thân h́nh hộ pháp ấy, Kanzaburô vẫn nhận ra được h́nh dáng người bạn thời thơ ấu mà anh khó ḷng quên.

Với một tiếng động nặng nề, tên sai nhà bèn mở cánh cửa một cũi tù rồi đẩy người ăn mày vào trong. Sau khi hắn ta đi rồi, sự im lặng bao trùm chung quanh thêm một đỗi  trước khi Kannzaburô bất chợt kêu lên thật to:

-Kisuke đấy ư? Có phải người vừa bị cho vào cũi là cậu Kisuke quê ở Nakano-gô không nhỉ?

-Vâng!

Giọng trả lời nghe th́ thầm như một tiếng một tiếng muỗi vo ve.

-Vâng. Chứ ông là....

-Tớ đây mà...

Từ bên trong cũi tù, Kanzaburô ngoi đầu lên chỗ có đục lỗ hổng và xưng tên ḿnh.

-Cậu đến đây làm ǵ hở ? Mà tại sao lại đến?

Giọng nói của Kanzaburô vẫn chất chứa sự uất hận và giận dữ mà cho đến hôm nay anh vẫn nuôi trong ḷng đối với người bạn hồi thơ bé:

-Hồi ở nhà ngục Sakura-chô, chẳng phải cậu đă chịu lăn vân tay rồi đấy sao? Việc ǵ c̣n cất công t́m đến xứ Tsuwano này nữa.

Trong một đỗi lâu, không có tiếng trả lời. Nhưng cuối cùng rồi những âm thanh chen giữa tiếng nấc nghẹn tức tưởi đă vọng đến bên tai Kanzaburô:

-Tha thứ cho tớ! Tha thứ cho tớ!

Rồi sau đó, bằng cái giọng lọng ngọng cố hữu, Kisuke đă bắt đầu giải thích về hành động của ḿnh cho Kanzaburô. Không chỉ mỗi Kanzaburô mà tất cả người bên trong ngục đều vểnh tai lên chờ đợi điều anh kể. Đôi khi, có tiếng chân của đám sai nha đi tuần pḥng và mỗi lần như vậy th́ Kisuke lại đâm ra khiếp sợ đến độ không ú ớ ǵ được. Chiều đến, cái lạnh đột ngột tăng lên và bên ngoài, tuyết đă rắc như bụi phấn.

Trong nhà ngục Sakura-chô ở Nagasaki, v́ quá khiếp hăi khi nghe những tiếng gào thét của những bạn đồng tù không chịu nổi h́nh phạt "dodoi" mà Kisuke đă chấp nhận lăn dấu vân tay và được thả ra. Tuy nhiên sau đó, anh cũng không c̣n mặt mũi nào để trở về làng Nakano. Dù muốn gặp lại họ hàng thân thích nhưng sự tủi nhục của một người đă bội đạo đă khiến anh không dám về, phải ẩn mặt trong thành phố Nagasaki, sinh sống bằng nghề phu phen chất và rở hàng trên bến tàu Ohato.

-Không những tôi đă xa lánh Chúa và Đức Mẹ Maria mà c̣n sa vào cảnh rượu chè gái gú, để quên cho được những đồng đạo cũ như các anh! Tôi những muốn quên đi tất cả!

Những lời tự thú ḥa trong tiếng khóc của Kisuke đă khiến cho người trong nhà ngục ai nấy đều không khỏi buông tiếng thở dài.

Ngay cả những hành vi sa đọa như uống rượu, chơi gái cũng không làm cho ḷng Kisuke quên những người đồng cảnh và vơi bớt đau khổ. Thế nhưng bây giờ anh cũng khó ḷng đi gặp sai nha để xin rút lại lời nguyền (kaishin-modoshi). Hành động gọi là "kaishin-modoshi" ám chỉ trường hợp một tín đồ Cơ Đốc, sau khi bỏ đạo, có thể đến tái xác nhận với nhà cầm quyền ḿnh vẫn là một Kirishitan như cũ. Và dĩ nhiên là Kisuke với bản tính nhát nhúa, sẽ không thể nào làm được điều đó v́ nếu "cải tâm" (kaishin) như thế, anh sẽ phải nghe lần nữa tiếng gào khóc cũng những đồng đạo bị h́nh phạt "dodoi". Những tiếng gào thét u ám và ghê rợn như tiếng loài thú nay hăy c̣n đọng lại trong đáy lỗ tai anh. Rồi để khỏi bị dày ṿ bởi những tiếng gào thét bi thảm ấy, anh đă bỏ thành phố Nagasaki để về Shirogoe, một làng đánh cá và được người trong làng này mướn làm công việc của một bạn chài. Anh hết chèo thuyền đến giăng lưới, chủ ư cho thân thể mệt mỏi đến kiệt lực để có thể quên đi tất cả những ǵ mà trước đây, cả rượu lẫn gái đều đă không thể làm anh thấy nguôi ngoai.

Thế nhưng một ngày, Kisuke có dịp đi cùng ông chủ của ḿnh vác cá đem lên Nagasaki sau nhiều tháng không đặt chân đến đó, bỗng một cảnh tượng không ngờ tới đă đập vào mắt anh. Trên bến Ohato, nơi tàu cập bến, anh đă thấy sai nha đang dồn tù nhân lên trên hai chiếc thuyền đáy nông. Đám tù nhân không những bị quần chúng bên đường thóa mạ và c̣n bị sai nha thúc ép bằng gậy gộc, trông giống như một bầy gia súc. Kisuke nhón chân và nhô đầu từ đằng sau đoàn người để nh́n cho rơ th́ nhận ra đám tù nhân đó là những người đàn bà và trẻ em đến từ làng Nakano với những khuôn mặt anh không thể nào quên. Lẫn trong đám người đó có cả Matsu, cô em gái, kể cả Yuujirô, cậu em  trai của Kanzaburô, hai người anh vốn quen biết.Những người ấy mắt nh́n xuống, đầu tóc rũ rượi và buồn bă, im lặng không nói ǵ và bước lên ngồi trên hai chiếc thuyền đang trầm ḿnh bên bờ nước.

Ông chủ của Kisuke đặt tay lên vai anh giải thích:

-Đó là lũ tù tội chỉ v́ đi theo Kirishitan! Chúng thật ngu đần quá cỡ. Có đúng không nào?

Kisuke lảng qua cảnh ấy và đưa mắt về phía chủ nhân lúc ấy đang chăm chú nh́n ḿnh rồi gật đầu như tỏ ra đồng ư.

Tối hôm đó, Kisuke ra ngoài biển, một ḿnh lặng ngắm khung trời đêm. "Một người mang cái bệnh nhút nhát như ta, biết phải làm sao? Ta làm được ǵ bây giờ với bản tính nhát nhúa này?"

Những đợt sóng đen ng̣m thi nhau đổ vào bờ rồi vỡ tan. Kisuke vừa nghe tiếng sóng vỗ, vừa cảm thấy ḷng ḿnh dâng lên một nỗi oán hận đối với Chúa. Tại sao Chúa lại sinh ra làm chi hai giống người: một giống th́ từ lúc mới ra đời đă mạnh mẽ kiên cường, c̣n một giống kia lại vụng về và hèn nhát. Những người như hai bạn Kanzaburô và Zenniosuke đă tỏ ra can đảm từ thuở ấu thơ, cho nên dù có bị bách hại, hai bạn ấy vẫn giữ vững niềm tin. C̣n như ḿnh đây th́ vừa bị ai đó vung tay lên, hai chân đă quíu, mặt mày xanh lét và hớt hơ hớt hăi. Mang một bản chất như vậy từ lúc mới ra đời th́ dù ḷng có tin theo Chúa Giê-su nhưng chỉ cần bị tra tấn thôi là ḿnh đă không thể nào chịu đựng nổi. Phải chi ḿnh không sinh ra vào thời buổi này th́ tốt bao nhiêu...".

Nếu được sinh ra vào một thời đại có tự do tôn giáo th́ Kisuke -cho dù không thể xem như kẻ lỗi lạc hơn người – cũng không sa sút đến nỗi trở thành một kẻ phản bội, chối cả Chúa Giê-su lẫn Đức Mẹ Maria. "Cớ sao ta lại phải sinh ra đời để mang lấy cái số phận này?".

Nghĩ ngợi như thế, Kisuke không thể nào không oán trách Thiên Chúa là một đấng vô t́nh!

Chuyện đă xảy ra trong giây phút Kisuke dợm đứng lên rời khỏi băi biển để về nhà. Lúc đó, anh bỗng nghe có tiếng ai gọi ḿnh từ sau lưng nhưng khi quay đầu lại nh́n th́ chẳng có một người nào cả. Tiếng gọi đó không phải tiếng đàn ông mà cũng chẳng phải tiếng đàn bà. Tiếng gọi đó như ḥa tan và trong tiếng sóng trên mặt biển đen ng̣m nhưng đă vang lên một cách rơ rệt.

-Tất cả những ǵ ngươi có thể làm là đến gặp mặt các đồng đạo. Nếu như thêm một lần nữa mà phải đối diện với nhục h́nh, người cứ việc t́m cách thoát thân và sau đó quay trở lại cho ta. Dù ngươi có phản bội ta th́ ta vẫn không trách móc ngươi đâu nhưng ta khuyên ngươi hăy đi gặp lại các đồng đạo và như thế đă đủ.

Kisuke chợt đứng khựng lại, bàng hoàng nh́n ra mặt biển. Thế rồi anh đưa bàn tay lên mặt để lau nước mắt v́ anh vừa ̣a lên khóc thành tiếng.

Sau khi Kisuke chấm dứt câu chuyện kể, các tín đồ trong nhà ngục vẫn tuyệt đối im lặng, không người nào cất lên một tiếng ho. Lúc đó, hơi lạnh bắt đầu thấm vào da thịt những người tù khiến họ hiểu là bên ngoài nhà ngục, giờ đây tuyết đă đọng lại thành một lớp dày. Kanzaburô th́ nghĩ thầm rằng mọi tân khổ mà anh đă nếm trải suốt hai năm nay, việc anh không chối bỏ niềm tin dù phải đứng trước cái chết của đứa em, đă không phải là điều vô ích.

Sáng hôm sau, để thẩm tra trường hợp Kisuke, đám sai nha lại đă vào đề lao và mở khóa cũi tù. Nếu như Kisuke không chối bỏ đức tin th́ lần này, họ sẽ đưa ra anh ngoài cái hồ đóng băng trong vườn của nhà chùa để bị dầm ḿnh trong đó. Khi tiếng động nặng nề của cánh cửa vừa được mở khóa vọng lại rồi tiếng chân loạng chạng của Kisuke nghe xa dần, Kanzaburô mới nói như th́ thầm:

-Kisuke ơi! Nếu chịu khổ không nổi, cậu cứ bội đạo (korobu) đi, chẳng sao đâu nhé. Nội việc cậu quay về với chúng tôi đây cũng đủ đẹp ḷng Chúa chúng ta rồi. Nhất định là điều cậu vừa làm đă làm đẹp ḷng ngài!

 

Tháng 2 năm Shôwa 34 (1959)  

Dịch ngày 1/3/2025  

 

Thư mục tham khảo

-Endo Shusaku, Saigo no Junkyôsha (Những người tử đạo cuối cùng), trong Tuyển tập văn học Nhật Bản, tập dành cho Agawa Hiroyuki và Endo  Shusaku do Chikuma Shobô xuất bản, trang 317-329. Nguyên tác Nhật ngữ. 

-Endo Shusaku, Saigo no junkyôsha, do bà Minh Nguyen-Mordvinoff dịch sang Pháp văn thành "Les derniers martyrs", in trong Tuyển tập Une femme nommée Shizu (Một người đàn bà tên Shizu), Collection Folio do Nxb Denoel xuất bản năm 2000. Bản ngoại văn tham chiếu. 

Bên lề tác phẩm:


Trong khi"Những người tử đạo cuối cùng" c̣n đang dịch dở dang, tôi đă làm một cuộc hành tŕnh 8 ngày về vùng Nagasaki, một nơi tôi từ
ng ghé lại vào năm 1967 nhưng lần đó chẳng giữ lại một kỷ niệm nào đáng kể. Với ư định "dịch giả đi t́m tác giả" , tôi đă đặt chân thêm một lần nữa lên phần đất có liên quan mật thiết với văn nghiệp của nhà văn Endo Shusaku.

Sau khi đi một ṿng các nơi đáng xem trong thành phố như Công viên Ḥa b́nh và Tâm điểm của cuộc dội bom nguyên tử, Quần thể ngôi nhà cũ của doanh nhân và kỹ nghệ gia người Tô Cách Lan Glover – ngưi đă lp đi công cho cuc Minh Tr Duy Tân - cùng các cộng sự viên của ông, khu phố cũ của người Tàu cũng như thương quán Hà Lan trên ḥn đảo nhân tạo Dejima, tôi đă dành một khoảng thời gian lớn để đi thăm Nhà lưu niệm  nhà văn Endo Shusaku, Ngôi giáo đường Ôura vốn có nhiều tư liệu ghi dấu cuộc bách hại người Kirishitan, Bức tường có phù điêu các thánh tử đạo năm 1594 và Bảo tàng viện liên hệ nằm trên một ngọn đồi cạnh nhà ga Nagasaki cũng như các thành phố như Obama và Unzen trên bán đảo Shimabara, nơi có những cuộc tra tấn và hành h́nh dă man. Chuyến đi đó đă giúp tôi càng thêm thấm thía về những ǵ nhà văn đă viết về lịch sử và tâm tŕnh của người theo đạo Công giáo ở Nhật Bản.

Cuộc bách hại người Công giáo đă bắt đầu phát triển từ thời Tể tướng Hideyoshi và bùng lên với Shôgun Tokugawa Iemitsu nhưng đă trở thành triệt để và kéo dài suốt thời đại Edo kể từ sau cuộc nổi loạn của giáo dân ở Shimabara. "Những người tử đạo cuối cùng" là những kẻ vẫn bị hành hạ v́ tín ngưỡng của họ cho đến năm 1871 tức là ba năm sau cuộc Minh Trị Duy Tân v́ sự ngờ vực đối với những thế lực thù địch vẫn c̣n in sâu trong tâm trí các nhà lănh đạo mới.

Giống như những binh sĩ và thường dân phải bỏ mạng một cách vô lư trong ngày tàn của một cuộc chiến, cảnh ngộ thương tâm của họ thật đáng cho chúng ta hồi tâm suy nghĩ.


 

[1]Đơn vị đo thời giờ ngày xưa dùng cho đồng hồ nước. Có tất cả 48 khắc (nấc). Khắc là 1/4 giờ nên bốn khắc là một giờ. Tám khắc là bắt đầu ba giờ sáng.

[2]Kido Takayoshi trước kia tên là Katsura Kogorô, phiên sĩ Chôshuu, một yếu nhân của cuộc Duy Tân, đại tướng lục quân, bộ trưởng lục quân, cộng sự viên của Yamagata Aritomo, người có thực lực bậc nhất thời bấy giờ.

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com