|
|
NGƯỜI CHỜ PHÉP LẠ
(Kiseki wo matsu otoko, 1973) Nguyên tác: Endo Shusaku Dịch: Nguyễn Nam Trân
Ảnh minh họa Mùa hè năm ấy, bệnh dịch lan tràn khắp các thôn làng ven hồ Ga-li-lê (Galilaia). Những ai mắc phải chứng này đều bị sốt cao, mồm liên tục phát ra những lời lẽ càn dở, khó hiểu và toàn thân run bây bẩy. Những viên y sĩ hành nghề ở khu vực Ti-bê-ria (Tiberiad), nơi tọa lạc ly cung của vua Hê-rốt (Herod), không c̣n biết cách nào để thoái trị bệnh này, đành đặt các con bệnh lên những chiếc cáng có treo bùa chú trừ tà và đem đến vùng ven bờ Bắc hồ. Họ được đưa vào trong những túp lều nhỏ dựng lên cấp tốc và xếp thành hàng bên nhau trong một vùng hoang vu đầy lau sậy để cách ly với mọi người. Mỗi ngày chỉ có một bận là thân nhân có thể chèo những con thuyền nhỏ đem thức ăn và nước uống cùng với mớ dược thảo đă không c̣n hiệu nghiệm đến cho con bệnh. Quyến thuộc của họ cũng chỉ dám đặt mấy món đồ đó trước cửa lều rồi bỏ về nhanh như chạy trốn. Cũng bởi v́ hầu như tất cả đều tin rằng bệnh dịch này nếu có dấy lên, ắt phải do bàn tay ác quỷ. Bệnh dịch bắt đầu từ vùng Ti-bê-ri-a và tràn qua biên giới như một lũ dị tộc đến xâm lăng. Nó đă lan ra các thôn xóm ven hồ và mấy khu vực như Ma-gu-đa-ra, Ca-pe-na-um, Bét-sa-i-đa. Khi đêm về, trên sườn núi nơi những ngôi làng này tựa lưng vào, người ta thấy lác đác những ánh lửa màu đỏ thẫm đang di động. Đây chính là nơi dân làng đem củi thiêu thây những con bệnh mới qua đời. Giữa ánh lửa và làn khói là tiếng khóc năo nuột của những nàng con gái có thân nhân vừa chết. Nó lan đi trong gió và lọt vào tai của đám thôn dân đang đứng lặng câm như những pho tượng. Thế nhưng, tự ngày xưa, đám dân lành khốn khổ sống ven hồ này đă quen đi với bao nỗi bất hạnh. Họ cũng biết những điều bất hạnh đó tuy h́nh thức có khác nhau, mỗi năm, có khi là mỗi mùa, tuy không biết từ đâu nhưng đều sẽ tới viếng. Họ cũng biết không thể nào chống trả lại chúng nên chỉ biết kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi các tai ách ấy đi qua. Ngoài những con cá bắt được dưới cái hồ nhỏ hay những đàn dê nuôi trên sườn núi sau nhà, họ không có ǵ gọi là lương thực để bảo đảm cho cuộc sống. Thế mà họ vẫn không dám mơ đến một cuộc đời không có nghèo khổ và bi thảm bám theo ḿnh. Vào khoảng giữa tháng mười, khi ngọn núi Hép-rôn (Hebron) ở bên kia hồ bắt đầu phủ lên một lớp tuyết trắng, họ cảm thấy bệnh dịch dường như đă đuối sức. Đúng như điều mọi người phỏng đoán, một điều bất hạnh kế tiếp đă t́m tới. Từ dạo cuối thu, sau những trận mưa dai dẳng đổ xuống, trên mặt hồ cả ngày chỉ thấy sương mù bao phủ. Thế rồi mực nước hồ dâng cao và tràn đến tận bờ, xâm nhập vào các thửa ruộng con. Dù là khi sương đă tan, cái hồ vẫn giữ nguyên vẻ u uất như một lăo già lầm ĺ cáu kỉnh đang đưa mắt ngắm nghía đám dân quê và những thôn xóm ven hồ với một cái nh́n lạnh lẽo. Đối với Ăng-rê (Andrea), chủ nhân một vạn chài nhỏ ở Ma-gu-đa-ra, th́ cuộc sống ở vùng ven hồ này vẫn chưa đến nỗi bi đát. Ông hăy c̣n có được một bà vợ và đứa con nhỏ, dưới tay lại thêm bốn ngư dân giúp việc. Hồi xảy ra bệnh dịch, một người trong đám đă mắc phải. Bệnh nhân vừa đổ mồ hôi vừa run bây bẩy khiến cho Ăng-rê phải đưa anh ra cách ly ở một căn lều nhỏ nằm trong vùng lau sậy bao vây ở phía Bắc bờ hồ và mỗi ngày lại đơm cơm tới nuôi. Thế nhưng vào một buổi chiều cuối mùa hạ năm ấy, khi ông cùng với một ngư dân khác t́m đến túp lều con th́ thấy bệnh nhân đă theo cánh cửa lều trổ về hướng Tây nơi có mặt trời dọi đến mà ḅ ra ngoài rồi nằm chết ở đó. Cũng như bao người khác, Ăng-rê xem đó là một kết luận không ai có thể đi ngược được bởi v́ ông thừa hiểu rằng thay v́ cưỡng lại nỗi bất hạnh, hăy chờ cho nó qua đi, chắc c̣n tốt hơn nhiều. Dù vậy, giữa lúc khó khăn như thế, cũng như các anh trai chài khác, Ăng-rê đă sực nhớ đến cái tin đồn là ngày nào đó, sẽ có một nhân vật từ phương xa đến đây để đem lại niềm hy vọng to lớn cho ḿnh và cho cả đám ngư dân sống ở ven hồ. Thực ra đă lâu rồi, đám dân quê ven hồ Ga-li-lê từng nghe nói rằng sẽ có một người đến từ hướng Nam để cứu họ ra khỏi cảnh lầm than khổ ải. Sau khi từ miền Nam băng qua các vùng Na-za-rét (Nazareth) và Ca-na (Cana), nhất định người đó sẽ hạ sơn từ ngọn Ma-a-gan phía Đông bờ hồ. Người ta bàn tán với nhau là nếu người ấy đến, thế nào những kẻ què quặt cũng sẽ đi đứng trở lại, các bà quả phụ sẽ được an ủi, những người nữ bị bệnh huyết ṛ rỉ lâu năm sẽ được chữa lành và những đứa hài nhi - dù tắt thở – cuối cùng cũng sẽ hồi sinh. Andrea không hiểu v́ sao lại có những lời đồn đại như vậy. Tuy nhiên, ông ta nhớ lại là hồi nhỏ, ban đêm nằm cạnh mẹ, lúc nào ông cũng được bà kể cho nghe những câu chuyện giông giống như thế. Ông cũng bao lần chứng kiến cảnh vợ ḿnh kể cho đứa con thơ của hai người câu chuyện với nội dung tương tự. Tuy Ăng-rê biết rằng những lúc cùng quẫn, con người có thể tạo ra những ước mơ không thể nào tồn tại trong hiện thực nhưng lúc thấy người bạn chài bị bệnh tật cướp khỏi tay ḿnh, ông đă nh́n lên ngọn núi trọc ở hướng Đông bờ hồ và nghĩ về câu chuyện bao lần đă được nghe. Ánh nắng chiều nhuộm lên ḥn núi trọc một màu vàng cháy giống như mảng lông chồn. Và khi ngắm cái màu hoang vắng đến lạnh lùng của ḥn núi trọc ấy, Ăng-rê nhớ lại h́nh ảnh biết bao là nhà tiên tri (yogensha) đă vượt qua vùng Na-za-rét và Ca-na để đi xuống ven hồ..Tất cả những nhà tiên tri khoác áo da thú trên vai, tay cầm đạo trượng, đều trải qua cuộc hành tŕnh đầy gian khổ xuyên đồng vắng (sa mạc) xứ Giu-đê (Judea) để nguyền rủa quân đội La-mă (Roma) đang chiếm đóng đất nước này và phê phán chính quyền tiếp tay cho giặc của nhà vua Hê-rốt. Nếu thế, họ có đúng là Đấng Mê-si (Messia) mà thần thánh phái đến để quét sạch những kẻ gian manh ấy đi chăng? Ăng-rê không hiểu những nhà tiên tri đó và Đấng Mê-si (Messia, Đấng Cứu Thế) có phải là một hay không? Không những thế, ông c̣n hoài nghi là nhà tiên tri cũng như Đấng Mê-si khó ḷng là cái người sẽ giáng hạ từ ngọn núi trọc kia nữa! Cứ thế mà những thôn làng ven hồ phải chịu số phận bi thảm kinh niên khi cứ vài năm lại có một trận dịch quét ngang và mặt hồ vẫn ngập tràn một màu xám bạc từ lượng nước của những trận mưa dai dẳng đổ xuống. Thế rồi, vào những buổi chiều nắng xế, thôn dân cứ phải tiếp tục nh́n đăm đăm lên ngọn núi trọc phủ một màu vàng cháy như lông chồn và mong ngóng. Một năm sau, lúc bệnh dịch vừa đi qua và trời vừa lập đông, Ăng-rê đă vượt ngọn núi trọc, làm một chuyến lữ hành về hướng thị trấn Bét-shan để mua ít gia súc. Đường đến Bét-shan chỉ có một nhánh suôn đuột nằm dọc theo sông Giô-đanh (Jordan) và chạy về hướng Nam. Ḍng sông lúc đầu c̣n chảy song song với con đường vốn cắt ngang những vùng đất canh tác đang khô cằn giữa mùa đông, thoắt cái đă biến mất, rồi giữa khi tưởng là đă mất hẳn th́ thấy không biết từ đoạn nào, bóng nó đă lộ ra và đang lượn khúc quanh những chân đồi. Ăng-rê đă đi qua nhiều thôn xóm đang bị một màu xám xịt đè lên như sắp nghiền nát. Có nơi ông đă gặp những lăo già ánh mắt thờ thẫn đang ngồi bệt bên gốc cây ô-liu khô héo, có nơi ông lại thấy cảnh lũ chó đang đào bới quanh ngôi mộ của một đứa trẻ vừa mới được đem chôn. Mục kích những cảnh tượng như vậy, Ăng-rê không khỏi nghĩ thầm nào chỉ có vùng Ga-li-lê của ông, mà mọi nơi có loài người sinh sống đều là sân khấu của những cảnh đời bất hạnh như thế cả. Trước khi tới được khu chợ buôn bán gia súc ồn ào náo nhiệt của thị trấn Bét-shan, ông được làm bạn đồng hành với một người đàn ông. Tuy ông ta đặt đứa con gái nhỏ của ḿnh ngồi lên lưng một con la nhưng đứa bé lại giống như một kẻ khờ khạo, miệng không nói một câu c̣n thân h́nh cứ lắc lư theo nhịp đi của con vật. Nh́n kỹ lại mới thấy đôi mắt của đứa bé đă hỏng, trông chúng chẳng khác nào hai vỏ ṣ màu xám. Người đàn ông đó đă giải thích cho Ăng-rê: -Cha con tôi không đi Bét-shan đâu mà định đến một nơi c̣n xa hơn nữa về hướng Tây cơ. Có thể là Ma-ha-rô hay A-fu-ra cũng không chừng! Tôi đến đó với mục đích chữa mắt cho cháu. -Ở đó có thầy thuốc giỏi như thế sao? Ăng-rê đặt ra câu hỏi ấy khi hồi tưởng đến cố hương Ma-gu-đa-ra của ḿnh. Bởi v́ ông biết là ở Ma-gu-đa-ra, cũng có nhiều bà lăo và thiếu nữ cùng chung cảnh ngộ với đứa bé gái ấy. Người đàn ông buồn bă lắc đầu: -Các y sĩ đă hết phép rồi, ông ạ! Cha con chúng tôi phải t́m gặp “người ấy” thôi. Để có thể chữa trị bệnh khiếm thị mà con gái ông mang theo từ lúc mới chào đời, ông đă bán hết đàn cừu đang nuôi cũng như vườn tược ḿnh có. Nhưng rốt cuộc, y sĩ nào rồi cũng bó tay. Giờ đây, ông không c̣n cách nào khác hơn là đi gặp cho được “người đó”. Ăng-rê buột miệng và để lộ cái thiếu kiến thức của ḿnh: -“Người đó” là ai vậy hở ông bạn? Nghe câu hỏi của Ăng-rê, người đàn ông có vẻ sửng sốt nên đă nh́n như dán vào mắt ông: -Ông anh không hay biết ǵ về những lời thiên hạ rao truyền hay sao chứ? Khi thấy Ăng-rê lắc đầu, người đàn ông dắt con la mới lên tiếng giải thích là theo nguồn tin từ giáo đoàn của Giăng (Johanes) hiện đang sinh hoạt trong đồng vắng xứ Giu-đê (Judea) th́ hiện nay đă có sự xuất hiện của một thầy cả (rabbi) tên là Giê-su (Jesus). Ông này đang đi chung quanh các thị trấn vùng Sa-ma-ria, rao giảng những điều xúc động ḷng người, chữa lành kẻ mang bệnh và cứu vớt những ai gặp cảnh đau khổ. Nghe nói là trong đám quần chúng đến gặp, không thiếu chi những người tôn xưng ông là Đấng Mê-si (Đấng Cứu Thế) rồi bỏ cả quê hương làng nước để đi theo. Khi nghe câu chuyện đến từ miệng người đàn ông kia, dưới riềm mi của Ăng-rê bỗng hiện ra h́nh ảnh của ngọn núi trọc màu vàng cháy như lông chồn đang tắm trong tia nắng của mặt trời chiều ở quê nhà. Th́ ra câu chuyện về “người đó” mà ông đă bao lần được nghe trong xứ Ga-li-lê biết đâu chẳng phải là câu chuyện về ông Giê-su này? Nếu quả như vậy th́ một ngày nào đó, ông Giê-su sẽ hạ sơn từ đỉnh ngọn núi trọc màu vàng cháy như lông chồn rồi biết đâu ông ấy chẳng t́m đến các thôn xóm ven hồ để chữa cho người què có thể đi đứng lại, các bà mắc chứng ṛ rỉ huyết được lành khô và c̣n vực cả những kẻ bệnh hoạn đang nằm bệt trên giường ngồi dậy. Sau khi chia tay người đàn ông dắt la ở cửa ngơ Bét-shan và để mua ít gia súc, Ăng-rê đă ở lại thị trấn này đôi ngày nhưng trong khoảng thời gian đó, đầu óc ông không ngừng nghĩ về câu chuyện của người tên gọi Giê-su. Dưới ánh sáng mặt trời mùa đông, trong khu chợ buôn bán súc vật chỉ có tiếng be be của cừu và dê núi mà người ta đem đến bán, ḥa lẫn vào trong tiếng gọi nhau ơi ới của đám con buôn lẫn khách mua hàng. Ăng-rê c̣n thấy có những kẻ khất thực và khuyết tật trà trộn vào đám đông ấy để ăn xin. Ông đă lên tiếng thử hỏi họ xem có nghe nói đến danh tiếng của Giê-su không, nhưng lúc đó, không hiểu v́ sao, mọi người lại lắc đầu. Ăng-rê không khỏi ngạc nhiên nhưng thầm nghĩ có thể là chuyện người ta kể về “ông ấy” vẫn c̣n chưa lan truyền đến thị trấn này, mà cũng có thể là lời kể của người dắt la - cha cô bé mù kia - chỉ là những điều bịa đặt. Mùa đông năm ấy, vùng Ga-li-lê lạnh một cách dị thường. Những ngọn gió buốt giá thổi từ rặng núi phía Bắc c̣n trộn cả mưa đá khiến cho mực nước hồ dâng cao, làm khốn khổ những con thuyền nhỏ muốn đi kiếm cá. Giữa những trận gió lạnh khắc nghiệt đó, đám phụ nữ và con nít suốt ngày cũng vẫn phải loanh quanh luẩn quẩn trên những ngọn đồi vây bọc lấy khu hồ để chăn cừu và mót củi. Chỉ thấy mây xám phủ suốt ngày trên ngọn núi trọc khô lạnh giữa trời đông chứ chẳng có một Đấng Cứu Thế nào giáng hạ từ nơi ấy. Đầu óc Ăng-rê có lúc hồi tưởng lại câu chuyện của người có tên gọi Giê-su nhưng nó không c̣n lôi cuốn ông như thuở được nghe trong chuyến đi trước kia. Phải chăng đó chỉ là giấc mơ bèo bọt của người bạn đường dắt la mà Ăng-rê nghĩ rằng v́ quá tin tưởng vào giấc mơ ấy, ông ta đă đem nó kể cho ḿnh. *** Thế rồi mùa xuân đă trở về. Những cḥm lá khuynh diệp (yuukari, eucalyptus) bắt đầu thướt tha và những đóa hoa thu-mẫu-đơn (anemone) đỏ thắm cũng đă khoe sắc trong luồng gió ấm. Cảnh vật ở Ti-bê-ri-a - giống như một con thú vừa thức dậy sau thời kỳ đông miên – đă trở lại với dáng dấp cố hữu của nó. Không biết từ đâu đến nhưng người ta lại thấy xuất hiện đám thương nhân đuổi theo sau đàn cừu cùng với những chiếc xe thồ do lừa ngựa kéo chất đầy lều màn và hành lư của họ. Bọn dân chài như Ăng-rê cũng đến mua lưới và hạt giống do mấy tay đó đem tới bán. Bù lại, họ được các nhà buôn này đăi đằng cơm nước và chia sẻ chỗ tá túc. . -Các bác có từng gặp một nhà tiên tri nào tên là Giê-su không ạ? Một hôm, Ăng-rê đă vô t́nh đặt câu hỏi đó cho một đám thương nhân vừa mới chân ướt chân ráo đến cái thị trấn buôn bán xô bồ này. Trong những ḥm xiểng làm từ gỗ thông quí hiếm của xứ Li-băng (Lebanon), họ chất đủ thứ vải vóc, tơ lụa vốn là những mặt hàng để bán.. Bọn con buôn phá lên cười: -Bảo ông ta là nhà tiên tri th́ cũng có thể đúng đấy! Th́ ra giữa đường từ thị trấn Ilbit cho đến vùng Ga-li-lê, khi đi ngang cánh đồng dọc theo bờ sông Giô Đanh (Jordan), họ đă vượt qua mặt một đoàn lữ hành. Thế nhưng đây là đoàn dân chúng đi theo một kẻ tên gọi Giê-su. Các thương nhân thuật lại rằng người trong đoàn của Giê-su đều đi thất thểu v́ dường như họ đă mệt nhoài sau lắm chặng đường dài. Phục sức của họ trông nghèo nàn, xơ xác, không thấy đâu là h́nh ảnh của những nhà tiên tri choàng áo lông thú với thắt lưng làm bằng da thô. Giọng điệu các con buôn kể tuy có pha một chút cười cợt nhưng không đến nỗi làm cho Ăng-rê đánh mất niềm tin và ông cũng không hề nghĩ ḿnh vừa bị họ phản bội. Ngược lại, chính v́ nghe họ nói rằng Giê-su không có ǵ giống h́nh ảnh của một nhà tiên tri, ông càng thấy con người của Giê-su mới có cái ǵ đáng cho ḿnh tin cậy. Ḷng hiếu kỳ đối với “người ấy” mà ông ngỡ đă phôi pha nay như sống lại một lượt cùng với câu chuyện nghe từ ông bạn đường dắt la. Khi Ăng-rê cảm thấy cái mà ḿnh ngỡ chỉ là giấc mơ của ông ta có khi là sự thực th́ niềm hy vọng lại bùng lên mănh liệt trong lồng ngực của ông. Cuối cùng, vào một buổi chiều xuân nọ, khi những cuộn mây như đám lông cừu mềm mại đang trôi bồng bềnh trên ngọn đồi đằng xa, Ăng-rê (Andrea) đă có dịp gặp con người ấy. Có lẽ v́ cuộc hành tŕnh dài làm cho Giê-su mệt mỏi nên má ông trông gầy xọp và mắt lơm sâu vào. Tuy nhiên, khi đôi mắt sâu thẳm ấy nh́n về đám người già nua và trẻ con tụ tập bên cạnh ḿnh th́ từ bên trong đă thấy ánh lên những tia sáng nhân từ. Giê-su không có giọng nói và cử chỉ của một vài nhà tiên tri từng đến vùng Ga-li-lê trước đây. Khi ông tṛ chuyện, lúc nào cũng ngồi bên bờ hồ, nơi mọc kín một loài hoa thu-mẫu-đơn, hay trên một tảng đá trắng nằm giữa đồi cỏ xanh lũ cừu đang gặm nhắm. Lúc đó, bọn con nít đă t́m đến sau lưng và ôm chầm lấy ông, c̣n ông th́ vừa ch́a tay nắm lấy những bàn tay nhỏ bé và lem luốc của chúng, vừa tiếp tục câu chuyện đang dang dở. Cách nói chuyện của Giê-su không giống như lối nói của các thầy cả (rabbi) phái Sa-do-ka-i (Sadduccees) hay phái Pha-li-sa-i (Pharisaios)[1], mà cũng chẳng giống như các nhà tiên tri khoác áo lông thú. Các thầy cả và nhà tiên tri vốn luôn trách móc những chỗ yếu kém của con người và thuyết giáo bằng cách đe dọa họ một cách dữ dằn khi đề cập tới những cơn thịnh nộ của thần thánh và cách xử phạt đáng khiếp sợ của các ngài. Giê-su chưa có lần nào nhắc đến chuyện đó. Ông chỉ cho biết là thần thánh cũng yêu thương loài người không khác chi t́nh yêu giữa người nam và người nữ. Giê-su dạy rằng thần thánh không nấp trên núi non hiểm trở hay ngoài đồng vắng nhưng ẩn ḿnh trong giọt lệ của những ai đang gặp điều cay đắng cũng như trong nỗi tủi nhục đến giữa đêm hôm của những người đàn bà bị ruồng bỏ. Bọn trẻ con luôn luôn kéo đến chung quanh Giê-su và gây ra tiếng động ồn ào c̣n các bệnh nhân và đám phụ nữ th́ tuy có cúi mặt để nghe nhưng lại nín thinh như họ chưa dám tin hẳn vào những điều ông đang rao giảng. Khi buổi nói chuyện chấm dứt, Giê-su đă mượn một chiếc thuyền nhỏ và cũ kỹ của đám dân chài rồi cùng vài môn đồ ra đi về phía bờ đối diện trong ánh nắng chiều sắp tắt. Dưới những tia sáng yếu ớt hắt lại từ mặt nước hồ, h́nh bóng chiếc thuyền con của mấy thầy tṛ chẳng mấy chốc đă không c̣n nh́n thấy dấu vết. -Ông đó ổng đi đâu vậy nhỉ? Ăng-rê đặt câu hỏi cho một cụ già, người tự năy giờ vẫn nh́n theo bóng dáng con thuyền như muốn đưa tiễn. Ông lăo bỗng nghiêm sắc mặt: -Đêm nay ông ấy sẽ ngủ trong hang động. Vừa qua đêm vừa an ủi những người phung cùi đang sống ở đấy! Hai chữ “hang động” là để chỉ Đa-ru-đa-ra, một hẻm núi trong thung lũng nằm ở bờ bên kia. Những người sống bên hồ nhưng bất hạnh vướng vào bệnh phung hủi đă được xử trí cùng một kiểu như những kẻ mắc bệnh dịch gần đây, nghĩa là bị gia đ́nh vứt bỏ và phải vào sống ở trong hẻm núi này. Hang động ở Đa-ru-đa-ra đều nằm dưới bóng một ngọn núi nham thạch đen đúa, h́nh thù lại khiếp đảm không khác ǵ một cái đầu lâu. Trên đó, không một cành cây ngọn cỏ nào có thể mọc lên. Từ lâu, đám người cùi hủi đă sinh sống trong những hang hốc của ngọn núi đó. Mỗi ngày một lần, họ sắp thành hàng, vừa gióng chuông vừa kéo nhau ra gần bờ hồ, nhặt nhạnh đồ ăn thức uống mà người trong thôn đem đặt sẵn ở đó. Vào những buổi chiều mùa thu, bao lần Ăng-rê cũng đă có dịp nghe hồi chuông năo nuột của đám người cùi ấy vọng lại từ phía cánh đồng trống trải ngoài xa. Ăng-rê lại đặt cho ông lăo một câu hỏi khác: -Rồi sau đó...ông ấy có chữa trị cho những người cùi ấy không? Tuy ông lăo chẳng lên tiếng trả lời nhưng giữa lúc đó, Ăng-rê lại hồi tưởng đến câu nói của người bạn đồng hành dắt la mà ông đă gặp trên con đường về hướng Bét-shan. Ăng-rê bèn nghĩ rằng nếu đúng là người tài phép như thế th́ biết đâu Giê-su chẳng có thể đem đến niềm vui lành bệnh cho cả những người đang mắc chứng phung hủi. Ngoại trừ những hôm mưa giăng sương khói che khuất mặt hồ, mỗi ngày Giê-su đều lên chiếc thuyền con để xuất hiện ở phía bên này hồ. Bắt đầu từ những làng chài nằm dưới bóng núi hai xứ Ca-pê-na-um và Bét-sa-i-đa, ông đă vượt các đỉnh cao và đến tận mấy thôn xóm xa xôi như Cô-ra-xin, nơi những người làm nghề chăn cừu sinh sống. Dù vậy, ông không một lần nào ghé Ti-bê-ri-a, thành phố của các phú thương và thầy tế lễ giàu có. H́nh như ông chỉ quan tâm đến những người không đủ miếng ăn hay kém phần may mắn. Mặt khác, bản thân giáo đoàn đi theo Giê-su cũng mang dáng dấp quá đỗi thảm thương khiến cho bọn người giàu có kia không khỏi ném về họ một cái nh́n khinh miệt. Những kẻ đến nghe lời giảng của Giê-su lại là đám b́nh dân nghèo khổ nghĩa là lũ dân chài như Ăng-rê hay những người đàn bà đă kiệt quệ v́ công việc lao động. Trong cánh rừng cây ô-liu nơi ánh mặt trời lọt qua kẽ lá để chiếu xuống đám cỏ, đám dân lành đă ngồi bó gối nghiêng tai nghe những lời thuyết giáo của Giê-su. Ông thường nhắn nhủ họ bằng những lời thơ trích từ sách Thi Thiên (trong Cựu Ước) mà họ đă nằm ḷng như: “Phước cho những kẻ nghèo khó, đơn sơ, bởi v́ nước Thiên Đàng thuộc về những kẻ ấy”, “Phước cho những kẻ tính t́nh nhân hậu. V́ họ là những người sẽ có đất sống”. Ngọn gió đang thổi qua mặt hồ đă làm cho những cánh hoa thu-mẫu-đơn đang nở trong bụi cỏ lay động xạc xào. “Phước cho kẻ nào có ḷng tử tế, v́ họ sẽ được hưởng nhan Thánh Chúa”. Cuối cùng, khi đưa mặt lên hứng ánh sáng mặt trời chiếu qua kẽ lá, Giê-su đă xướng lên thêm một câu nói khác mà ngay trong sách Thi Thiên cũng không ai thấy chép: “Phước cho kẻ nào đang khóc. Bởi v́ họ sẽ được an ủi”.[2] Cũng có lần Ăng-rê chứng kiến cảnh Giê-su ngồi trên một sườn đồi khi bóng chiều bắt đầu buông. Ông chỉ ngồi một ḿnh và giữ một khoảng cách nhỏ với đám tùy tùng. Không hiểu v́ sao h́nh ảnh ông ngồi một ḿnh dưới cái bóng âm thầm của tảng đá lớn đang đổ xuống ấy đă làm cho Ăng-rê cảm thông được tâm trạng hết sức cô đơn của ông. Thế nhưng ngày hôm ấy, khi Giê-su và môn đồ định rời thuyền để lên bờ ở Ma-gu-đa-ra như thường lệ th́ Ăng-rê và những bạn chài đang ngồi phơi lưới đă chứng kiến một cảnh tượng mà họ không ngờ tới. Một người đàn ông què quặt không c̣n giữ nổi sự điềm tĩnh, đă xáp đến cạnh Giê-su, vừa tựa vào cây gậy để nâng người ḿnh lên, vừa than khóc mà như thể kêu gào: -Thầy xem! Thân h́nh tôi như thế này đây. Bao nhiêu năm rồi, chân tôi đă teo quắt, không tài nào xê dịch được nữa. Rồi ông ta đứng lại và khi thấy Giê-su đưa mắt nh́n ḿnh, đă cầu khẩn: -Xin thầy hăy thương t́nh mà chữa trị cho! Chẳng bao lâu sau, khi lời than khóc của ông ta vọng tới chúng, lũ trẻ con đang nghịch sóng bên bờ hồ đă chạy đến gần. C̣n những người đàn bà đang cày xới trên nương đồi cũng đă quay đầu lại nh́n với vẻ mặt lo lắng. -Chữa cái chân này...đối với thầy, đâu phải là chuyện khó, phải không nào? Giê-su giữ im lặng. Rơ ràng là có màu sắc của sự tuyệt vọng lộ ra trên khuôn mặt hốc hác với hố mắt lơm sâu kia và điều này, ngay một người như Ăng-rê cũng có thể hiểu được.Thế nhưng Ăng-rê vẫn chờ đợi Giê-su ch́a bàn tay ra cho người đàn ông ấy. Biết đâu ...khi bàn tay ông ta chạm vào chân con bệnh th́ cái chân teo quắt kia sẽ duỗi ra được cũng không chừng! -Chữa giúp tôi đi thầy! Người đàn ông lập lại lời khẩn cầu thêm lần nữa. -Thầy vẫn thường nói Đức Chúa Trời là Đấng hay thương xót kia mà! Có những tia sáng chiếu xuống từ vầng mặt trời trên hồ và trong vùng tia sáng ấy, h́nh ảnh của Giê-su đă hiện ra đơn độc, tối đen, đau khổ và bất động. Thế rồi, cuối cùng Giê-su lắc đầu nhè nhẹ. Người đàn ông què quặt ấy tỏ ra tuyệt vọng, ngước mặt lên và chăm chú nh́n vào Giê-su rồi lại ̣a khóc. Cây gậy trượt ra khỏi bàn tay ông và giống như một người hoàn toàn mất hết khí lực, ông ta đổ nhào lên mặt đất. -Ôi, bao nhiêu năm trời, đă bao nhiêu năm rồi... Tiếng khóc của người đàn ông trở nên uất nghẹn -...Tôi đă bao lần được nghe kể là sẽ có một người đi xuống từ ngọn núi kia để chữa lành cái chân này cho tôi ...và tôi đă tin tưởng chính thầy là con người đó... Những tiếng nấc hụt hẫng của người đàn ông giống như những nhát dao đâm vào con tim của Ăng-rê. Những điều người ấy trải ḷng cũng là tâm sự mà bản thân Ăng-rê đang muốn bày tỏ, nếu không nói nó cũng là những ǵ mà đám đàn bà xấu số đang đứng trên nương đồi kia vẫn đau đáu trong ḷng. -Thế là ngài không có đủ quyền năng, tài sức để làm chuyện đó à? Giê-su nhặt cây gậy lên rồi đưa tay nâng lấy thân h́nh người đàn ông teo cơ bắp vốn đă ngă lăn trên mặt đất từ năy đến giờ. Thế rồi cùng với tiếng thở dài, Giê-su đă thốt ra một câu trả lời cho cả Ăng-rê cũng như những người phụ nữ giờ đây đang dán mắt vào ông: -Những điều ta có thể làm là...chịu chung nỗi đau khổ cùng các ngươi.. Đối với những đau khổ các ngươi đang gánh đó, ta muốn... Phần cuối của câu nói ấy đă tan loăng vào trong tiếng thổn thức của người đàn ông què quặt. Sau khi Giê-su và đoàn tùy tùng lên đường, Ăng-rê và các bạn chài của ông, với chiếc lưới đánh cá trên tay, vẫn c̣n đứng đó trong câm lặng. Đám đàn bà trên nương cũng thế. Họ cúi mặt như thể đă mất hết niềm hy vọng và nhanh tay cuốc để trở lại với công việc. Riêng Ăng-rê cảm thấy cái trống vắng của người vừa thức dậy sau một cơn mộng huyễn. Thế nhưng ông vẫn c̣n nuôi một hy vọng mong manh về quyền năng của Giê-su. Biết đâu con người đó chẳng đă nghĩ về một điều ǵ khác khi từ chối chữa cho gă đàn ông què quặt. Hay là ông không muốn làm giống như các nhà tiên tri khác và ghét cái chuyện khoe khoang sức thần thông trước mặt mọi người? Để rồi xem, một ngày nào đây, con người ấy sẽ từ trên ngọn núi cao màu lông chồn vàng cháy hạ sơn xuống vùng hồ Ga-li-lê để ra tay cứu vớt những kẻ bất hạnh?...Đó là những ư nghĩ vẫn chưa chịu tan biến khỏi ḷng Ăng-rê. V́ lư do đó mà từ ngày hôm sau, giữa khi dân chúng đưa cặp mắt thất vọng nh́n Giê-su khi ông và đoàn người tùy tùng đi từ làng này qua làng khác th́ Ăng-rê vẫn bám theo dấu chân của đoàn. Dù vậy, ở mọi thôn làng Giê-su đi ngang, Ăng-rê không thấy ông làm phép lạ nào cả. Ông có thức canh trọn một đêm bên đầu giường của một cụ ông đang hấp hối, ông có ngồi lặng người bên cạnh một bà mẹ vừa mất đứa con, và trong ánh hoàng hôn, ông từng nắm lấy bàn tay của một bà lăo mù ḷa...thế nhưng, ông không làm điều ǵ để chữa lành cho họ. Có lần, Ăng-rê muốn ḿnh có được một thái độ minh bạch nên đă âm thầm không báo ai nghe mà chèo một con thuyền qua bên bờ đối diện. Ông muốn t́m hiểu là mỗi đêm, Giê-su và các tùy tùng của ông khi sống chung với đám người cùi, đă làm được ǵ cho họ? Tuy vậy, khi nghe tiếng gió gào qua vùng thung lũng hang động Đa-gu-đa-ra bên dưới ngọn núi trọc h́nh thù giống cái đầu lâu, nơi không một cành cây ngọn cỏ nào sống nổi, cũng như nghe tiếng chuông của lũ người phung hủi lanh lảnh ngân lên theo những luồng gió ấy, Ăng-rê đă lặng lẽ quay mũi thuyền về lại bến Ma-gu-đa-ra. Sau đó, ngay với vợ ḿnh, Ăng-rê cũng không hề hở môi về “người ấy” nữa. Nói chung th́ kể từ khoảng cuối mùa xuân, khắp vùng hồ, trong thiên hạ đă có kẻ c̣n dám phê phán Giê-su là một người “chẳng được việc ǵ sất”. Câu nói “chẳng được việc ǵ sất” đă bao hàm tất cả nỗi thất vọng của những người trông chờ phép lạ nhưng không toại nguyện. *** Mùa hạ đến rồi. Tuy bệnh dịch không thấy lan tới những những ngày nắng nôi và ẩm thấp vẫn kéo dài liên tục. Không biết có phải v́ bị trúng nắng hay không mà đứa bé con của Ăng-rê bắt đầu lên cơn sốt và ói mữa. Hai vợ chồng ông đă thay phiên nhau chăm sóc cho con. Thế mà mấy hôm sau, bệnh t́nh của đứa trẻ vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm. Trên hai bàn tay và đôi chân của bé c̣n xuất hiện nhiều chấm nhỏ màu đỏ nhạt. Một ông thầy thuốc lúc nào cũng giữ một vẻ mặt nghiêm trọng, đă được mời từ Ti-bê-ri-a đến. Sau khi theo dơi căn bệnh của đứa trẻ trong ít lâu, ông ta đă lắc đầu: -Tốt hơn là đưa cháu đến Na-za-rét (Nazareth). Ở đó có một dược sĩ gốc người Hy Lạp. Biết đâu ông ta có loại thuốc trị được bệnh này! Ăng-rê bèn đặt rương ḥm trên lưng lừa và ngay ngày đó, nhắm hướng Na-za-rét trực chỉ. Ông vượt qua đỉnh núi màu vàng lông chồn, và khác với con đường sử dụng trước kia, ông rời lưu vực sông Giô-đanh rồi băng ngang một số thôn làng, đó cũng là con đường ông đă có lần đi qua. Xưa kia ông chưa từng coi con đường này xa là bao nhưng bây giờ, Ăng-rê cảm thấy nó c̣n xa hơn cả đường dẫn đến kinh đô El Salem. Thị trấn Na-za-rét có đủ loại lữ khách tụ tập. Ánh mặt trời chiều đang chiếu lên mái của Đền Thần và trên một con đường hẹp, ông thấy có những anh chàng Ả Rập tay dắt lạc-đà và những ông da đen người bóng nhẫy mồ hôi với cái màu đen của loại thép đă lên nước. Mấy người lính La-mă vũ trang kín người giống như những con giáp trùng đang xếp thành hàng đi xuyên qua họ. Chẳng bao lâu, sau khi dọ hỏi, Ăng-rê đă có trong tay những viên thuốc đắt đỏ của ông dược sĩ nọ và lên đường quay về Ga-li-lê ngay. Thế nhưng lúc đó th́ gia đ́nh thân thuộc đă tụ tập ở nhà ông chung quanh đứa bé trong khi nó nằm kiệt quệ trong ṿng tay của vợ ông, người giờ đây không c̣n giọt nước mắt nào để khóc con. -Tội nghiệp quá đi thôi! Ông thầy thuốc với gương mặt của người đă làm hết sức ḿnh th́ thào như thế khi chứng kiến cảnh đứa bé không thể tiếp nhận nổi những viên thuốc quí mà cha nó vừa cất công mang về. -Số của cháu không tới hai hôm nữa đâu. Sau khi ông thầy thuốc bước ra, bà vợ Ăng-rê và những người nữ bắt đầu gào khóc. Ánh nắng chiều lọt vào bên trong khiến ngôi nhà hầm hập hơi người. Tiếng thở của đứa bé càng lúc càng dồn dập. Đôi khi nó trợn đôi mắt trắng dă lên nh́n. Bên ngoài, nước hồ vẫn vỗ vào ghềnh đá với những âm thanh trầm uất. Ăng-rê bèn lẳng lặng lấy một chiếc thuyền con rời bến ra đi. Đối với ông, lúc này, ngoài phép lạ của Giê-su, không c̣n có thể trông mong vào ai khác. (Biết đâu ông ấy chẳng cứu được bé con nhà ḿnh...), vừa quẫy mái chèo, Ăng-rê vừa nhủ với ḷng. (Nếu được như thế, ḿnh sẽ dám vứt bỏ tất cả để xin theo ông làm đệ tử...). Khi Ăng-rê đến bờ bên kia, ánh hoàng hôn đă nhuộm đỏ như máu lên trên ḥn núi trọc ở Đa-ru-đa-ra và suốt cả một vùng thung lũng. Những tiếng hô to gọi tên Giê-su của ông liên tiếp dội lại từ các bức vách hang động, vang rền trong một bầu không khí tĩnh mịch đến sâu lắng. Được một lúc sau th́ từ cái tĩnh mịch ấy, ông nghe bắt đầu có những tiếng chuông nho nhỏ vọng lại từ nhiều địa điểm nằm dưới bóng núi. Đó là dấu hiệu cảnh cáo của bọn người phung hủi như muốn khuyên là nếu có ai đó, xin chớ đến gần những hang động này. Thế rồi sau cùng cũng đă có ba cái bóng có vẻ hơi do dự xuất hiện từ phía ngọn núi trọc đang phản chiếu ánh nắng của mặt trời chiều đến từ phía Tây. Đó là Giê-su đi cùng hai môn đồ của ông. Sau khi nhận ra Ăng-rê, họ bèn dừng chân tại chỗ và có ư ḍ hỏi. Bất chợt, Ăng-rê nói lên thật to: -Thầy (rabbi) ơi! Xin thầy hăy đến với chúng tôi! Cháu bé nhà tôi đang hấp hối đó thầy! Lúc đầu ba người có vẻ chần chờ nhưng sau khi nghe tiếng kêu quá thảm thiết của Ăng-rê thêm một lần thứ hai, chỉ có mỗi Giê-su là bắt đầu bước những bước liêu xiêu để t́m cách xuống sườn dốc. -Thầy đi thật đấy à? Có tiếng một đệ tử gọi với sau lưng ông. -Đừng đi thầy ơi. Người đàn ông kia là kẻ không hiểu những lời thầy đă dạy cho đâu! Ông ta chẳng khác ǵ những kẻ đến nay chúng ta đă gặp khi đi qua các thôn làng. Họ chỉ mong thấy phép lạ chứ không muốn chi khác. Chẳng bao lâu nữa, ông này cũng đâm ra ghét bỏ thầy cho coi! Như để trả lời, Giê-su đă quay đầu về phía hai môn đồ: -Tuy nhiên, người này... ông ta là một kẻ đang đau khổ! Giê-su theo sau Ăng-rê rồi cùng nhau lên thuyền. Mặt hồ êm ả v́ sóng đang lặng nhưng khác với bờ bên này nơi được mặt trời soi đến, bờ đối diện đang bị sương mù che phủ. Trong làn sương ấy thấy thấp thoáng h́nh bóng những thôn làng. Giê-su có vẻ trầm ngâm khi chăm chú nh́n những h́nh ảnh đó, như thể ông đang lắng nghe tiếng kêu than đủ loại về nỗi khổ của kiếp người vọng ra từ đó đến tai ḿnh. -Ngươi chờ ǵ ở ta? Khi thuyền đi ra tới nửa hồ, Giê-su bỗng ngước khuôn mặt trầm ngâm lên và đặt câu hỏi: -Có phải ngươi chờ ta làm phép lạ chăng? -Tôi xin thầy chữa trị cho cháu. -Ta không biết cách làm phép lạ. Cái điều ta có thể làm là... -Tôi chỉ xin thầy chữa trị cho con tôi thôi. Khi thấy trong hố mắt sâu của Giê-su lộ ra một nỗi buồn rười rượi, như thể muốn đáp trả thái độ đó, Ăng-rê đă quẫy mạnh mái chèo. Thế nhưng dù cây dầm có phát ra những tiếng kêu ken két, bên mạn chiếc thuyền chỉ có những con sóng nhỏ vỗ hoài một nhịp điệu ŕ rầm. Đến bờ th́ hai người thấy vài ba anh bạn chài đă đứng đợi từ lâu. Khi họ vào căn buồng nóng hầm hập trong nhà, mấy người đàn bà đang ngồi quanh đứa bé vừa thấy bóng Giê-su đă rút lui thật nhanh ra tận mé tường. -Xin thầy chữa cho cháu! Khi Ăng-rê nh́n xuống, ông thấy hơi thở của đứa bé vẫn dồn dập như trước và đôi lúc cặp mắt lạc thần của nó hăy c̣n cố nhướng lên. Đây là lần đầu tiên, giọt nước mắt của người cha chợt trào ra và ông đă hối thúc Giê-su: -Con tôi nó chưa hề làm ǵ nên tội....Tại sao nó lại phải chịu cảnh khổ như thế này, hở thầy? ...V́ đâu thần thánh...các ngài lại muốn đoạt nó khỏi tay chúng tôi? -Chúa biết tất cả điều đó! Đôi mắt của Giê-su cũng rưng rưng khi th́ thầm câu nói. -Cháu nó trong trắng, vô tội như thế nào...nhà ngươi đang đau khổ như thế nào... Ngài đều biết cả! Giê-su ngồi bên cạnh đứa bé, một tay ông vuốt ve vầng trán đẫm mồ hôi của nó, c̣n tay kia ông nắm chặt lấy bàn tay của Ăng-rê. Và Ăng-rê lúc đó cũng chỉ biết mỗi một điều là Giê-su đang cùng khóc với ḿnh. Mấy người đàn bà không dám húng hắng ho một tiếng và những cặp mắt của họ đều dán vào quang cảnh đang xảy ra trước mặt. Trong căn buồng đă bắt đầu tối, âm thanh duy nhất c̣n nghe được là tiếng thở của đứa bé. Thế rồi cuối cùng mặt trời đă khuất bóng và tiếng thở kia cũng dần dần nhỏ lại. Đứa bé như vừa được cơn sốt giải phóng. Một sự im lặng vây quanh chỗ nó nằm. Đám người nữ dường như nín thở, chăm chú nh́n động tĩnh của đứa bé v́ họ biết rằng một giây phút nữa thôi, sẽ có điều ǵ đó sắp xảy ra. -Sao thế hở con? Ăng-rê đưa nắm đấm của bàn tay đập mạnh xuống đầu gối ḿnh vừa la lớn: -Chết hả con? Ôi, con tôi chết mất rồi! Có những tiếng khóc thút thít dậy lên ở nhiều nơi trong gian pḥng. Giê-su cũng đưa hai bàn tay lên che lấy mặt.Từ kẽ hở của những ngón tay ông, những giọt lệ nóng đang trào ra. Giê-su cũng khóc như họ. -Đó là ư Chúa.... Đức Chúa Trời ...Ngài đă muốn như vậy. -Nhưng ngươi đă chẳng làm được cái ǵ! Ngươi đúng là kẻ vô dụng! Ăng-rê xỉa ngón tay về phía Giê-su và hét lên, sau đó, ông ta ngồi đánh thịch xuống chiếc ghế làm nó như muốn đổ sập. Đêm đến, những người nữ thức canh lần lượt ra về, c̣n vợ chồng Ăng-rê vẫn lặng lẽ ngồi bên xác chết đứa con như hai kẻ mất hồn. Sau đó, đám đàn bà đă đi thu thập hoa cỏ họ kiếm được ở ven hồ về trang điểm quanh đầu nằm của đứa trẻ, c̣n nó th́ mắt vẫn nhắm, hai bàn tay nhỏ nhắn nắm chặt giống như cảnh mỗi ngày khi nó đến giờ đi ngủ. Tuy chỉ v́ cay cú khi thấy đ̣i hỏi quá trớn của ḿnh không đạt được mà Ăng-rê đi đến chỗ buông lời trách cứ Giê-su là kẻ vô dụng, nhưng đúng như lời người môn đồ của ông đă tiên đoán, Ăng-rê đă trở thành một kẻ ghét bỏ và miệt thị Giê-su. Giữa một đêm hè, Ăng-rê bỏ lại người vợ trong pḥng, một ḿnh bước ra ngoài. Trên hồ có tiếng sóng táp nhẹ vào bờ như tiếng một con chó đang liếm nước. Bỗng ông thấy có một bóng đen mệt mỏi tựa như người kiệt sức đang đứng tựa vách nhà ḿnh. Đó chính là Giê-su, cái người mà ông bảo là chẳng làm được việc ǵ. Về Giê-su - con người chẳng làm được việc ǵ đó - th́ kể từ đầu mùa thu, đă bị hết người này đến người khác xua đuổi khỏi vùng hồ Ga-li-lê. Vào những ngày có những cơn mưa bụi như màn sương vây phủ, ông và đám đệ tử ḿnh mẩy ướt sũng, đă phải hứng chịu bao nhiêu khổ sở đến từ cái đám đông mà chỉ mới có năm tháng trước đây c̣n nghênh đón một cách trọng thể. Quanh hồ, bất cứ nơi đâu, đều có thể thấy cảnh tượng người ta buông lời sỉ vả và ném đá họ. Ăng-rê cũng nhập bọn với đám người đó để lượm mấy ḥn đá, ném về phía Giê-su và đoàn tùy tùng. Có lần ḥn đá ông ta ném trúng ngay chỗ lơm trên g̣ má Giê-su khiến cho một ḍng máu đă rịn từ nơi đó xuống. -Đồ vô tích sự! Ăng-rê bắt chước mọi người, cùng với họ, ông buông ra một lời thóa mạ: -Đúng là một kẻ vô dụng. Tuy vậy, Giê-su chỉ đưa đôi mắt lơm sâu để gửi đến tất cả bọn họ một cái nh́n chăm chú và hiền hậu. Chỉ có một môn đồ của ông, có lẽ v́ không thể nào nhẫn nhịn nữa, đă giang tay ra đáp trả: -Thử hỏi người này đă làm ǵ các ông đâu nào? -Chẳng làm ǵ chúng ta cả! Có ai trong bọn lại lên tiếng: -Nhưng cũng chẳng được tích sự ǵ! -Thế nhưng người này muốn yêu thương các ông, muốn cùng các ông chịu đựng những nỗi khổ đau thôi. Đứng ướt sũng giữa cơn mưa, người môn đồ kia vẫn t́m cách biện hộ cho thầy. Thế rồi cả bọn đă t́m cách tránh né gạch đá đang ném về phía họ và bỏ đi về hướng Bắc. Vào tháng 5 năm sau, Ăng-rê c̣n nghe lời đồn đại là cái “con người vô tích sự” ấy bị cả những môn đồ cuối cùng chối bỏ, một ḿnh phải tự vác thập tự giá trên vai và chết ở El Salem. Nh́n lên ngọn núi màu vàng cháy như lông chồn dưới ánh chiều tà, Ăng-rê hồi tưởng lại đôi mắt lơm sâu như chứa đầy cay đắng, gương mặt mệt mỏi đến kiệt quệ nơi một ḥn đá ḿnh ném trúng phải, và từ chỗ đó, máu đă chảy thành ḍng. Giữa khi ấy, không hiểu v́ sao Ăng-rê lại cảm thấy có một nỗi đau đớn ê chề không sao diễn tả đang chạy xuyên qua đáy của ḷng ḿnh. Dịch ngày 29/12/2023
Văn bản và thư mục tham khảo 1- Endo Shusaku, Kiseki wo matsu otoko (Người chờ phép lạ), trong tuyển tập Shikai no hotori (Bên bờ Biển Chết, 1973), tủ sách bỏ túi Shinchô Bunko, Nxb Shinchô, tái bản lần thứ 30, Tokyo, 2021, từ trang 38 đến 59. Nguyên tác Nhật ngữ. 2- Tổng Hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) thực hiện, Kinh Thánh Tân Ước, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội, 2003. 3- Bên lề tác phẩm: Truyện “Người chờ phép lạ” (Kiseki wo matsu otoko) trên đây là một bộ phận của trường thiên “Bên bờ Biển Chết” (Shikai no hotori) ra đời năm Shôwa 48 (1973) mà “Bên bờ Biển Chết” lại là tác phẩm mà nhà b́nh luận Inoue Yôji đánh giá như tác phẩm thứ hai có tầm quan trọng của Trầm Mặc” (Chimmoku) vốn đă ra đời 7 năm trước đó. Theo ông th́ “Bên bờ Biển Chết” đă phát hiện ra một khía cạnh độc đáo của Ki-Tô Giáo, đó là h́nh ảnh “tôn giáo của ḷng mẹ”. Nếu có loại h́nh “tôn giáo với nguyên lư phụ tính” vốn nghiêm khắc mà giáo lư tập trung vào việc trừng phạt những kẻ đi sai đường lạc lối, c̣n có loại h́nh “tôn giáo với nguyên lư mẫu tính” vốn dựa trên sự tha thứ và khoan dung. Nguyên lư phụ tính phân biệt người thiện kẻ ác, người ưu tú kẻ vô dụng nhưng nguyên lư mẫu tính th́ không thế, những người vâng phục hay kẻ bất tuân đều được mẹ ôm trong ṿng tay và đặt trên đầu gối một cách b́nh đẳng như nhau. Bởi v́ đối với một người mẹ, không có sự phân biệt giữa những đứa con ngoan ngoăn hay lầm lạc. Đỉnh cao trong “Trầm Mặc” là đoạn văn tả Đức cha Rodriguez chực dẫm chân lên h́nh tượng thánh giá. B́nh thường th́ đó là một hành động bội đạo không thể nào tha thứ. Thế nhưng lúc sắp làm cử chỉ ấy, cha Rodriguez đă nghe một tiếng nói từ đâu vọng đến: “Không sao đâu. Con cứ việc dẫm lên đi. Ta đă hiểu nổi đau của các con khi các con đưa bàn chân dẫm lên mặt ta. V́ để hiểu nỗi đau khổ và sự yếu đuối ấy mà ta đă sinh ra trong cơi đời này và chịu vác lên vai cây thập tự giá”. Câu nói đó đă thể hiện sự dịu dàng và bao dung chỉ có thể đến từ tấm ḷng một người mẹ hiền. Điều này đă được Endo Shusaku xác nhận một lần nữa trong bài văn nghị luận nhan đề “Tôn giáo của cha, tôn giáo của mẹ” (Chichi no shukyo, haha no shukyo) công bố vào năm 1967, một năm sau khi cuốn “Trầm Mặc” ra đời (1966). Do đó, trong “Người chờ phép lạ”, h́nh ảnh của Giê-su không phải là kẻ cứu hộ, chữa lành... nhưng là người bạn đồng hành thân thiết (dôhansha), biết chia sẻ nỗi khổ đau và bất hạnh của thế nhân.
* Nguyễn Nam Trân : Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com ......................... ®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com) |