NGƯ HUYỀN CƠ

(Gyogenki, 1915)

Nguyên tác: Mori Ôgai

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

        Ngư Huyền Cơ (844? - 869? 871?) (tranh Lục Sưởng đời Thanh)

 

Ngư Huyền Cơ giết người và bị hạ ngục. Tin đồn lập tức lan ra nhanh chóng trong cư dân thành Trường An. Tuy chỉ là chuyện ngoài dự tưởng xảy ra cho một cá nhân nhưng đă khiến mọi người, không ai là không kinh ngạc.

Thời Đường, đạo Lăo rất thịnh. Lư do là bọn đạo sĩ đă lợi dụng việc hoàng tộc vốn họ Lư để phao lên rằng Lăo tử là tổ tiên nhà vua, như thế mà đồng hóa việc thờ phượng Lăo quân với việc thờ phượng tông miếu[1]. Kể từ năm Thiên Bảo trở đi, ở Tây kinh tức thành Trường An đă có Thái Thanh Cung, c̣n ở Đông kinh là Lạc Dương th́ có Thái Vi Cung. Ngoài ra, những đô thị lớn đều dựng các Tử Vi Cung. Vào những ngày đă định, đâu đâu cũng cử hành cảnh lễ bái trang nghiêm. Trong thành Trường An, bên dưới Thái Thanh Cung, có đặt ra một số lâu quán[2]. Quán là chữ đạo Lăo dùng như Tự trong đạo Phật. Đạo sĩ tu ở quán giống như nhà sư tu ở chùa. Trong số các ngôi đạo quán, có một nơi gọi là Hàm Nghi Quán[3]. Đạo cô Ngư Huyền Cơ tu ở đó.

Tiếng đồn Ngư Huyền Cơ xinh đẹp đă nghe từ lâu. Phải nói là nàng không mảnh khảnh như Triệu Phi Yến nhưng màu mỡ như Dương Thái Chân[4]. Đáng lẽ ra kể từ khi trở thành đạo sĩ, nàng phải chán ghét tô son điểm phấn v́ làm thế sẽ nhơ bẩn mặt mày nhưng hóa ra không hề như thế. Thường ngày dung nghi nàng vẫn được trang điểm mặn mà. Ngư Huyền Cơ bị hạ ngục vào năm Hàm Thông thứ 9 đời hoàng đế Ư Tông (833-873) nhà Đường, lúc nàng mới 26 tuổi.

Huyền Cơ không chỉ được dân chúng đất Trường An xem như một người con gái đẹp mà thôi, họ c̣n tấm tắc về tài thơ của nàng. Thi ca rất hưng thịnh dưới đời Đường là chuyện ai cũng biết. Lũng Tây đă sinh ra Lư Bạch (701-762), Tương Dương sinh ra Đỗ Phủ (712-770). Hai thi hào này một đời tận tụy với thi ca. Nối gót hai vị ấy là Bạch Cư Dị (772-846), nhà thơ đến từ đất Thái Nguyên. Ông đă diễn tả hết được t́nh cảm của con người từ cổ chí kim. Những Trường Hận Ca, những Tỳ Bà Hành, đầu làng cuối xóm chỗ nào mà chẳng vẳng tiếng ngâm nga. Năm Đại Trung nguyên niên dưới triều Tuyên Tông (810-859), lúc họ Bạch qua đời th́ Huyền Cơ hăy c̣n là cô bé lên năm. Nàng thông minh lanh lợi nên dĩ nhiên đă thuộc ḷng thơ họ Bạch, cả thơ Nguyên Vi Chi (779-831) , một thi nhân nổi tiếng ngang hàng với ông. Tổng số các bài thơ các thể cổ kim ấy có thể lên đến vài mươi. Khi đến 13 tuổi, cô bé nhà họ Ngư bắt đầu viết nên những vần thất ngôn tuyệt cú. Năm 15 th́ thơ cô đă được đám người hâm mộ thi nhau chuyền tay chép. 

Một nhà thơ xinh đẹp phải mang tội giết người và bị hạ ngục như thế, hỏi sao người đương thời không xúc động cho được.

Ngôi nhà Ngư Huyền Cơ sinh ra nằm trên một con đường nhỏ nằm ở một góc quanh của đại lộ chạy ngang thành phố Trường An. Chỗ đó hẹp và xéo nên gọi là Hiệp Tà, một xóm mà nhà nào cũng theo nghiệp cầm ca. Nhà họ Ngư cũng chọn nghề hát xướng.[5] Khi Huyền Cơ thưa với cha mẹ là cô muốn học làm thơ, song thân đă vui ḷng chấp thuận và mời ngay một hàn sĩ láng giềng đến dạy những luật b́nh trắc và áp vận của nghề thơ. Có lẽ v́ họ cũng có ư mong cô gái nhà ḿnh mai sau sẽ thành một con gà đẻ trứng vàng.

Lúc đó nhằm mùa xuân năm Đại Trung thứ 11. Các cô gái làm trong nhà họ Ngư được gọi tới giúp vui cho một tửu lâu. Khách là Lệnh Hồ Giác, lệnh lang của quan Tể tướng Lệnh Hồ Đào (795-872) . Công tử đi đâu cũng có đồng bạn là Bùi Thành. Nhưng hôm ấy lại có thêm một kẻ thứ ba tháp tùng. Người ấy họ Ôn, lúc nào cũng bị Lệnh Hồ và Bùi gọi đùa là “Quỷ sứ[6] (Chung Qú)”. Công tử và Bùi ăn mặc thật sang trọng, mỗi Ôn là quần áo xốc xếch cáu bẩn. Lúc đầu thấy ông ta bị hai cậu công tử xử sự xách mé, các nàng ca kỹ tự hỏi không biết ông có phải là hạng tôi tớ hay không. Thế nhưng đến khi rượu đă làm mặt đỏ bừng bừng, mới thấy “Quỷ sứ” họ Ôn không những nh́n hai cậu công tử kia với cặp mắt khinh khi mà có khi c̣n giận dữ nạt nộ. Sau đó, Ôn mới bảo các nàng đánh đàn cầm, thổi sáo cho ḿnh hát. Ông bắt đầu bằng cái giọng mượt mà một bài ca từ thật thanh tao theo một điệu nhạc xưa nay các nàng chưa được nghe bao giờ nhưng âm thanh rất nhịp nhàng. Người chuyên nghiệp chắc cũng không thể hát hay hơn. Chứng kiến con người rậm râu sâu mắt có cái hỗn danh là “Quỷ sứ” bị hai công tử mặt trắng kia bắt nạt, các nàng ca kỹ - cũng từng là đối tượng của sự cười cợt - hết người này đến người khác đă tiến gần tới bên Ôn, vây quanh ông và lắng tai nghe. Kể từ khoảnh khắc này, các nàng cảm thấy thân thiết với ông hơn. Ôn bèn mượn đàn cầm và ống sáo của họ, lúc đánh đàn, lúc thổi sáo. Về kỹ thuật đàn sáo của Ôn, các nàng thấy ngay họ cũng không tài nào bắt kịp. Bọn ca kỹ sau đó trở về nhà họ Ngư và không hết lời nói tốt cho Ôn. Huyền Cơ nghe thế bèn đem chuyện ra bàn với người hàn sĩ, thày học của ḿnh. Người thày lấy làm kinh ngạc và bảo: “Quỷ sứ” họ Ôn (Ôn Chung Qú) này phải là Ôn Kỳ (812-866?) người Thái Nguyên đấy chăng? Ông ta c̣n có tên là Đ́nh Quân hay Phi Khanh. Ở trường thi, v́ chỉ cần xoa tay tám lần là làm xong một bài thơ bát cú, cho nên mới được đời tặng hỗn danh là Ôn Bát Xoa. Sở dĩ mang cái tên Chung Qú là tại diện mạo xấu như quỷ sứ của ông ta. Trong số thi nhân đời nay, ngoài Lư Thương Ẩn (812-858) chắc chẳng có ai vượt được ông ấy đâu! Nếu cộng “Ôn Lư nhị gia” với một người nữa là Đoàn Thành Thức ( ? – 863) th́ chúng ta sẽ có đủ Tam Gia, tuy rằng họ Đoàn hơi dưới tay một chút.

Nghe thày tán dương như thế, mỗi khi bọn ca kỹ từ chiếu tiệc của họ Lệnh Hồ trở về, Huyền Cơ đều hỏi thăm tin tức Ôn. Các cô con hát ấy mỗi khi gặp Ôn cũng hay kể chuyện về nàng thiếu nữ họ Ngư. Cuối cùng Ôn đă t́m đến nhà Huyền Cơ để thăm viếng bởi v́ câu chuyện người con gái trẻ xinh đẹp lại biết làm thơ đă gợi trí ṭ ṃ của ông.

Như thế, Ôn đă có dịp gặp thẳng Huyền Cơ. H́nh ảnh người con gái in vào mắt ông đúng là một đóa hoa mẫu đơn đang độ hàm tiếu. Tuy  thường đàn đúm chơi bời với các cậu công tử trẻ nhưng riêng ông đă 40 rồi, dung mạo lại xấu xí, đến độ cái tên “Quỷ sứ” cứ dính măi theo ḿnh. Hồi đầu niên hiệu Khai Thành, Ôn lấy vợ và hiện nay trong nhà đă có một cậu con trai tên Hiến xấp xỉ lứa tuổi Huyền Cơ.

Huyền Cơ sửa lại cổ áo, cung kính bước ra chào Ôn. Lúc đầu Ôn cũng định giữ cùng một thái độ với cô như khi ông tiếp xúc những nàng ca kỹ nhưng nay ông chợt đổi sắc mặt. Sau khi trao đổi với Huyền Cỏ một đôi câu, ông biết cô không phải là một người con gái tầm thường. Một thiếu nữ mới 15 tuổi mà không hề tỏ ra e thẹn, khép nép, lời ăn tiếng chẳng khác một đấng nam nhi.

Ôn mới bảo:

-         Ta nghe tiếng thơ cô em làm thơ rất hay. Vậy gần đây có bài nào mới cho ta xem với.

Huyền Cơ bèn trả lời:

-         Cháu không may đến nay chưa gặp danh sư. Làm sao đă có thể viết được những câu thơ hay cho được.Nay chỉ mong có người như Bá Nhạc[7] rủ ḷng chiếu cố để mai sau có cơ may chạy được ngàn dặm.

Ôn không dấu được nụ cười nhẹ bởi v́ cô bé này từng tí tuổi đầu mà đă dám tự ví với ngựa Kỳ ngựa Kư. Thật là lối so sánh không tương xứng chút nào.

Huyền Cơ đem bút mực đến đặt trước mặt khách. Ôn bất chợt viết xuống ba chữ “Giang Biên Liễu” (Liễu ven sông) để ra đề. Suy nghĩ một chút, Huyền Cơ đặt bút làm tại chỗ bài thơ “Phú đắc: Giang biên liễu” sau:

Thúy sắc liên hoang ngạn,

Yên tư nhập viễn lâu.

Ảnh phô thu thủy diện,

Hoa lạc điếu nhân đầu.

Căn lăo tàng ngư quật,

Chi đê hệ khách châu,

Tiêu tiêu phong vũ dạ,

Kinh mộng phục thiêm sầu.

(Viết theo đề được ra: Liễu ven sông: Sắc biếc liền băi vắng, Tơ khói tỏa bên lầu. Dáng xuân soi nước gợn, Hoa rụng tóc ông câu. Rễ già hang cá nấp, Cành thấp buộc thuyền neo. Xào xạc đêm mưa gió, Đuổi mộng với gieo sầu)

Ôn ngâm xong một bận, khen hay. Cho đến nay, ông đă bảy lần lều chơng nhập trường thi, vẫn thường thấy bao trang nam tử mà cắn bút không làm nổi một câu thơ. Bọn đó thật hăy c̣n xa mới sánh nổi cô gái bé nhỏ này. Đó là lần gặp gỡ đầu tiên và sau này Ôn c̣n có dịp đến thăm gia đ́nh họ Ngư nữa. Và giữa hai người , họ đă có dịp trao đổi nhiều vần thơ tặng đáp.

Năm Đại Trung nguyên niên, ở tuổi 30, Ôn từ giă quê nhà Thái Nguyên. Trước tiên ứng thí khoa tiến sĩ. Nhân v́ ông có thể làm xong thơ văn khi ngọn đuốc chưa cháy tàn một tấc nên khi thấy những người bên cạnh cứ phải thở vắn than dài bèn ra tay hào hiệp. Từ đó mỗi lần vào trường thi, ông đă làm hộ một lần cho cả 7, 8 người. Trong bọn họ, nhiều người đỗ đạt. Mỗi Ôn là vẫn lận đận.  

Ngược lại, bên ngoài của trường thi th́ danh tiếng của Ôn vang dậy khắp kinh sư. Người như Lệnh Hồ Đào, lănh chức Tể Tướng từ năm Đại Trung thứ 4, cũng đă nhiều lần vời Ôn đến bên chiếu tiệc.Một hôm, giữa một buổi gặp gỡ, Lệnh Tể Tướng đă đặt câu hỏi về một điển tích cũ. Điển tích đó đến từ sách Trang Tử. Ôn trả lời được ngay nhưng lời lẽ của ông lúc đó hết sức thiếu lễ độ:

-         Đó là chuyện chép trong kinh Nam Hoa, không có ǵ bí hiểm cả. Nếu tướng công có chút thời giờ, đôi khi ngài cũng nên chịu khó đọc sách một chút.

Lại nữa, biết hoàng đế Tuyên Tông yêu thích điệu từ tên là Bồ Tát Man, Lệnh Hồ Đào mới soạn lời ca cho điệu ấy để dâng lên.Thực ra Tể Tưởng đă nhờ Ôn thảo hộ và cấm ông không được tiết lộ. Thế nhưng một hôm say rượu, Ôn lại lỡ miệng nói cho người khác biết. Không những thế, có lần Ôn c̣n gọi Hồ Đào là “Trung Thư Đường Nội Tọa Tướng Quân” ư chê bai Tể Tướng là người vô học, ở nơi soạn sắc chiếu mà chỉ ngồi làm v́.

Danh tiếng của Ôn rồi cũng đến tai Tuyên Tông. Có một lần Tuyên Tông nghĩ ra được một chữ và đưa cho các ông cử nhân xem trong đám họ có ai đối lại được không. Chữ ra của Tuyên Tông là “ Kim bộ dao (Cành trâm vàng) và Ôn đă đáp lại rất chỉnh là “Ngọc điều thoát (Ṿng xuyến ngọc) nên được hoàng đế khen ngợi hết lời. Lại nữa, Tuyên Tông c̣n có tật thích đi vi hành. Chẳng bao lâu kể từ khi biết tiếng Ôn, hoàng đế t́nh cờ gặp nhà thơ ở một tửu lâu.Ôn không biết mặt nhà vua nên mới vừa trao đổi đôi câu đă buông ra những lời ngạo mạn, suồng sả.

Ở chốn trường thi th́ kể từ khi Thẩm Tuân[8] lănh chức quan coi việc khảo thí, đă sắp đặt cho Ôn một chỗ thi riêng, chung quanh không có một sĩ tử nào khác. Tuy tài thơ Ôn vang lừng thiên hạ, được từ hoàng đế đến tể tướng ái mộ, nhưng không một ai chịu nổi tính khí con người ấy. Chị của Ôn, lấy chồng là Triệu Chuyên, mấy lần v́ em mà van nài với nhà cầm quyền nhưng chẳng đưa đến kết quả nào.

Bạn Ôn có người tên Lư Ức, con nhà cực kỳ giàu có. Anh ta thua Ôn khoảng mười tuổi và là người rất mực thông hiểu thi phú.

Lúc đó nhằm mùa xuân năm Hàm Thông nguyên niên. Một thời gian lâu bỏ đi Tương Dương, bây giờ Ôn mới trở lại Trường An. Lư bèn đến thăm Ôn ở nhà trọ. Hồi ở Tương Dương, Ôn chỉ được giữ một chức tiểu lại dưới trướng Thứ sử Từ Thương[9]. Cũng gọi là có cố gắng làm việc đôi chút nhưng chẳng bao lâu, cảm thấy mệt mỏi chán năn, Ôn lại bỏ nhiệm sở.

Trên bàn của Ôn có một tập thơ của Huyền Cơ. Lư đọc được, tán thưởng nồng nhiệt, mới hỏi thăm cô gái ấy là người thế nào. Ôn cho biết đó là một thiếu nữ xinh như hoa mà ba năm trước ḿnh có dạy làm thơ. Nghe thế, Lư bèn nhờ Ôn chỉ tường tận đường đi nước bước đến nhà họ Ngư, rồi làm như có chuyện ǵ phải làm gấp, đứng dậy cáo lui.

Sau khi rời chỗ Ôn, Lư bèn tức tốc đến ngay nhà họ Ngư, xin được cưới Huyền Cơ làm vợ. Bố mẹ Huyên Cơ hám hơi đồng nên đâm ra xiêu ḷng.

Huyền Cơ trong nhà bước ra làm lễ tương kiến với Lư. Năm nay cô đă 18 tuổi. Dung mạo trông c̣n xinh đẹp gấp bội so với thời mới gặp Ôn lần đầu. Lư cũng là một trang nam tử tuấn tú. V́ Lư năn nỉ tha thiết và Huyền Cơ cũng khó ḷng từ chối, cho nên hai bên đă mau mắn kết lời giao ước. Chỉ vài hôm sau, Lư đă đón Huyền Cơ về Lâm Đ́nh, một gia trang ngoại thành.

Lúc này Lư tự nghĩ nguyện ước bất chợt đến với ḿnh và thoáng cái đă thành tựu. Thế nhưng một trở ngại lớn đă sớm sinh ra. Đó là việc mỗi lần Lư muốn t́m đến bên nàng th́ Huyền Cơ luôn t́m cách tránh né. Nếu Lư tiến sát quá, nàng lại bật khóc. Lâm Đ́nh trở thành nơi mà buổi tối Lư t́m đến với bao nhiêu ước vọng để sáng hôm sau ra về với chừng ấy thất vọng.

Lư nghi ngờ không lẽ Huyền Cơ lại mang khuyết tật, nhưng nếu thế từ buổi đầu sao nàng không khước từ sính lễ? Lư không t́m ra bất cứ cớ ǵ để Huyền Cơ có thể ghét bỏ ḿnh. Những khi nàng đang khóc hoặc t́nh cách tránh né, nếu Lư t́m cách kéo nàng về phía ḿnh th́ nàng càng khóc to thêm làm như không thể chịu nổi sự thống khổ. 

V́ mỗi lần muốn mà không thỏa măn được dục vọng, chuyện oái oăm đă xảy ra. Tinh thần Lư càng ngày càng suy sụp, từ đó đi đứng nằm ngồi đều không yên, hớt hăi như người mất hồn.

Lư đă có vợ. Người vợ để ư thấy cử chỉ của chồng không được b́nh thường như mọi ngày bèn t́m cách mua chuộc mấy đứa gia đồng và biết được Huyền Cơ đang ở Lâm Đ́nh. Vợ chồng sinh ra căi lẫy. Một hôm ông nhạc c̣n t́m đến nhà con rễ mắng mỏ tận mặt, rốt cuộc Lư phải thề thốt sẽ đuổi cô gái đi.

Lư đến Lâm Đ́nh, khuyên Huyền Cơ trở về nhà bố mẹ nhưng cô gái không chịu nghe. Nàng bảo cho dù song thân có rộng ḷng tha thứ đi nữa, nàng không chịu nổi cái nhục đă phải đi làm t́ thiếp. Không biết xử trí cách nào, Lư phải nhờ vả một đạo sĩ quen biết là Trịnh luyện sư[10] chăm sóc hộ Huyền Cơ. Đó là nguyên do mà Ngư Huyền Cơ đă trở thành nữ đạo sĩ ở Hàm Nghi Quán.

 Huyền Cơ là một phụ nữ tài trí. Thơ của cô lúc đó đă tỏ ra có công phu gọt giũa hơn người. Kể từ khi theo học thêm với Ôn, nàng chịu khó t́m ṭi sách vở điển tịch, mặt khác lại dồn hết tâm lực rèn tập câu chữ, đến độ quên ăn quên ngủ. Hơn nữa, trong đầu, tham vọng một ngày nào đó thiên hạ sẽ biết đến tài thơ của ḿnh đă dần dần lớn lên.

Chuyện sau đây đă xảy ra cả trước khi Lư chưa đem sính lễ đến. Một ngày nọ, Huyền Cơ đi viếng Sùng Chân Quán. Thấy ở ṭa Nam lâu của đạo quán có bảng đề tên những người đỗ từ trạng nguyên trở xuống hàng tiến sĩ, nàng bèn cảm khái vịnh bài thơ “Du Sùng Chân Quán Nam lâu đổ tân cập đệ đề danh xứ” như sau:

Vân phong măn mục phóng xuân t́nh,

Lịch lịch ngân câu[11]chỉ hạ sinh.

Tự hận la y yểm thi cú,

Cử đầu không tiện bảng trung danh.

(Đi chơi Sùng Chân Quán nh́n thấy bảng tên những người vừa thi đỗ trên lầu phía nam: Núi cao nh́n rơ cảnh xuân thanh, Dưới ngón, bao nhiêu chữ hiện h́nh. Chỉ hận xiêm y ém tài học, Nh́n lên nào thấy bảng đề danh)

Huyền Cơ mang h́nh hài nhi nữ nhưng tâm t́nh nàng là của một trang nam tử. Điều đó hiện rơ trong bài thơ. Tuy thế, một khi đă ở trong một thân thể phụ nữ này rồi, không thể nói ḷng nàng nàng không ôm ấp h́nh bóng của một trang mỹ nam tử. Có điều là tâm t́nh ấy chỉ giống như lớp giây leo quấn quít lấy thân cây. Nó không phải t́nh dục chốn pḥng khuê. Chính v́ mang trong tâm h́nh ảnh một người đàn ông độc thân tuấn tú[12] nên nàng mới nhận sính lễ của Lư. Nếu không có t́nh cảm đó th́ những đêm ở Lâm Đ́nh phải ảm đạm biết chừng nào!

Huyền Cơ vào ở hẳn trong Hàm Nghi Quán. Bởi v́ Lư mới là người bày ra chuyện chia tay nên đă chu cấp cho nàng đầy đủ cái ăn cái mặc. Huyền Cơ có thể yên tâm sống trong đạo quán. Mỗi khi Triệu đưa sách đạo gia, Huyền Cơ đều hoan hỉ nhận lấy đọc. Bởi v́ đối với người con gái này, việc giảng kinh đọc sử là chuyện nàng vẫn làm hàng ngày ở nhà ḿnh. Sách vở Lăo giáo lại mới mẻ, phù hợp với những ǵ người hiếu kỳ như Huyền Cơ đang muốn đi t́m nên đă làm nàng hài ḷng.

Đương thời đạo gia thường thực hành một môn học gọi là “Trung khí chân thuật”. Mỗi tháng hai lần, vào ngày sóc và ngày vọng[13], họ lại giữ trai giới trong ṿng 3 hôm và tu theo phép “Tứ mục tứ tỵ khổng” vv... [14]

Huyền Cơ đă tu theo những phép tu bắt buộc này trên một năm trời và đột nhiên ngộ đạo. Giờ đây, nàng đă trở thành một nữ đạo sĩ thực thụ và hiểu ra được những điều mà hồi ở Lâm Đ́nh, nàng không hề hay biết. Lúc đó nhằm mùa xuân năm thứ hai niên hiệu Hàm Thông.

Trong số những đạo cô tu với Huyền Cơ nơi đó, có một người có một chút ít chữ nghĩa nên nàng khá thân. Lúc ăn lúc ngủ đều có nhau, lại thường cùng nhau giải bày tâm sự. Tên cô ta là Thái Tần. Một hôm Huyền Cơ viết tặng Thái Tần một bài thơ nhan đề “Tặng lân nữ”   như sau:

Tu nhật già la tụ,

Sầu xuân lăn khởi trang.

Dị cầu vô giá bảo,

Nan đắc hữu tâm lang.

Chẩm thượng tiềm thùy lệ,

Hoa gian ám đoạn trường.

Tự năng khuy Tống Ngọc,

Hà tất hận Vương Xương.

(Gửi người con gái nhà bên: Ngại nắng, tay che mặt, Buồn xuân, biếng điểm trang. Dễ t́m ra của báu, Khó kiếm bạn t́nh lang. Trên gối thầm rơi lệ, Trong hoa luống đoạn trường. Tội ḿnh mơ Tống Ngọc. Sao lại hận Vương Xương[15]!).

 

Kư lân nữ (thơ Ngư Huyền Cơ)

 

Thái Tần thân thể nhỏ bé, tính nết lại khinh suất. Hơn nữa, nàng vừa mới 16, so với cái tuổi 19 của Huyền Cơ th́ c̣n non nớt cho nên luôn luôn bị người già dặn như Huyền Cơ đàn áp. Mỗi khi tranh nhau cái ǵ, lúc nào Thái Tần cũng thua mà khóc. Chuyện này xảy ra hầu như mỗi ngày. Thế nhưng sau đó, họ lại làm ḥa với nhau ngay. Trong giới nữ đạo sĩ th́ những cặp đôi kiểu này thường được gọi là “đối thực” nên họ cũng bị những người sống bên cạnh cḥng ghẹo như thế. Thêm vào đó, họ c̣n nhiều lúc hờn ghen với nhau nữa.

Chợt đến mùa thu, bỗng nhiên không thấy bóng dáng Thái Tần đâu cả. Nàng mất tích vào đúng cái ngày mà một người thợ làm thuê, được Triệu luyện sư mướn để đắp tượng, xin nghỉ việc và bỏ đi. Đám đạo cô xưa nay vẫn đàm tiếu về cặp “đối thực” này mới đi gặp Triệu luyện sư để báo tin th́ sau khi nghe, Triệu chỉ cười bảo: “Tần dă phiêu đăng, huệ dă u độc” (Rau tần là giống trôi nỗi, hoa huệ là giống cô đơn)[16]. Huyền Cơ vốn có tên tự là Ấu Vi, c̣n gọi là Huệ Lan.

Tuy qui luật tu hành của Triệu rất chặt chẽ nhưng thường ngày việc ra vào lâu quán không đến đỗi nghiêm khắc.Từ khi danh tiếng tài thơ của Huyền Cơ lan truyền, người muốn t́m cách chép thơ nàng càng ngày càng đông. Những kẻ như vậy thường đem vàng bạc và quà cáp đến tặng nàng. Lắm người chỉ v́ hâm mộ nhan sắc nên mượn tiếng chép thơ để t́m tới. Có kẻ cắp rượu theo kè kè, định mang đến uống với Huyền Cơ. Nàng liền gọi bọn đầy tớ trai đuổi thẳng ra khỏi cửa.

Thế nhưng kể từ khi Thái Tần mất tích, thái độ của Huyền Cơ thay đổi hẳn. Khi có một ai biết chút chữ nghĩa đến để xin hỏi về thơ hoặc chép thơ, nàng có thể giữ họ lại uống trà và tươi cười tṛ chuyện. Những kẻ được khoản đăi lại kéo thêm chúng bạn. Tin đồn Huyền Cơ hiếu khách chẳng bao lâu đă lan khắp Trường An, ai nấy đều biết. Bây giờ có vác rượu đến, họ cũng không c̣n lo bị đuổi như xưa.

Ngược lại những ai đến chỉ v́ lời đồn đại về nhan sắc mà mắt la mày lét th́ nàng không bỏ qua, buông ngay lời thóa mạ và đuổi ra khỏi cửa. Những công tử con nhà gia thế bám chân khách quen t́m tới,  tuy không bị mắng mỏ nhưng khi nghe câu thơ tiếng nhạc mà không hiểu ất giáp ǵ cả cũng sẽ tự động rút lui.

Hào hứng với khách như vậy nhưng khi họ tứ tán ra về, nàng chẳng thấy c̣n có ǵ để vui thú. Đêm khuya thanh vắng, nước mắt ràn rụa. Có lần, cầm bút viết bài thơ như “Kư Phi Khanh” để gửi Ôn, lúc ấy đang trên bước lữ hành:

Giai thế loạn cung minh,

Đ́nh kha yên lộ thanh.

Nguyệt trung lân nhạc hưởng,

Lâu thượng viễn sơn minh.

Trân điệm lương phong đáo,

Dao cầm kư hận sinh.

Kê quân[17] lăn thư trát,

Để vật úy thu t́nh. 

(Gửi Ôn Phi Khanh: Bên thềm vẳng tiếng dế, Cây sân sương khói trong. Lầu xa rơ sắc núi, Nhà cạnh nhạc trăng lồng. Chăn chiếu gió thu thoảng, Đàn cầm giải hận ḷng. Người xa âm tín vắng, Lấy ǵ thỏa nhớ mong).

Huyền Cơ bỏ thư vào ống gửi đi, ngày đêm đợi Ôn trả lời. Cho đến một hôm, nàng đă nhận được hồi âm. Nàng ra chiều thất vọng. Nhưng thực ra, điều đó không phải lỗi do lời lẽ trong thư của Ôm, chỉ v́ Huyền Cơ h́nh như đang trông đợi một điều ǵ đó từ Ôn mà  nàng lại không sao h́nh dung ra được. Một đêm, như mọi hôm, nàng ngồi chau mày suy nghĩ dưới ánh đèn, cầm hết vật này đến vật khác trên bàn rồi lại bỏ xuống. Cuối cùng mới mở ra trang giấy và đặt bút viết một bài thơ để gửi đến một gă nhạc công họ Trần.

Cách đó mươi hôm, chàng họ Trần[18] đă cùng hai ba vị công tử đến chỗ Huyền Cơ ở để thăm viếng. Chàng ta là một thiếu niên tuấn tú, dung mạo hiền ḥa. Tính có vẻ ít nói, hôm đó chỉ ngồi mỉm cười, quan sát cử chỉ của Huyền Cơ. Về tuổi tác th́ Trần hăy c̣n trẻ so với nàng. Bài thơ tên là ”Cảm hoài kư nhân”:

Hận kư chu huyền thượng,

Hàm t́nh ư bất nhâm.

Tảo tri vân vũ hội,

Vị khởi huệ lan tâm.

Chước chước đào kiêm lư,

Vô phương quốc sĩ tầm.

Thương thương tùng dữ quế,

Nhưng tiện thế nhân khâm.

Nguyệt sắc đ́nh[19] giai tĩnh,

Ca thanh trúc viện thâm.

Môn tiền hồng diệp địa,

Bất tảo đăi tri âm.

(Nỗi nhớ gửi người: Hờn gửi giây đàn đỏ, Ḷng chưa nguôi ư thầm. Mây mưa dù sớm biết, Vẫn vẹn huệ lan tâm. Tuy rờ rỡ đào lư. Trượng phu, chẳng được gần. Cao xanh bóng tùng quế, Mong gặp khách t́nh thâm. Thềm rêu, trăng sáng dơi, Viện trúc, tiếng ca ngân. Ngơ nhà, đầy lá rụng, Không quét, đợi tri âm).

Ngày hôm sau, nhận được thư, Trần đă vôi vă tới Hàm Nghi Quán. Huyền Cơ bèn cho mọi người lui và đưa chàng vào gặp. Lại dặn đầy tớ không được cho khách nào vào. Thế rồi từ lúc đó, trong thư trai của Huyền Cơ chỉ c̣n vọng ra những tiếng ŕ rầm. Đến khi trời về sáng, Trần mới cáo lui. Những lần sau, Trần không cần phải thông danh tánh cũng có thể vào thẳng thư trai. Mỗi lần đón tiếp Trần, Huyền Cơ đều đóng cửa tạ khách.

Nhân v́ Trần thường xuyên đến thăm viếng Huyền Cơ cho nên số khách khứa bị từ khước cũng đông ra. Bọn đem vàng bạc tặng th́ chỉ được quyền chép thơ và phải bằng ḷng với chừng đó.

Khoảng một tháng sau, Huyền Cơ cho tất cả đầy tớ nghỉ việc, chỉ giữ lại một nữ tỳ có tuổi. Những chuyện làm không hay của nàng bên trong đạo quán th́ bà lăo kia – vốn là một người tính t́nh khó khăn – cũng chẳng đem đi nói nên người ngoài không mấy ai được rơ. Như thế, cả Trần lẫn Huyền Cơ không phải lo bị ai quấy rầy.

Đôi khi Trần cũng lên đường đi đây đi đó. Ngay những lúc ấy, Huyền Cơ cũng chẳng tiếp đón ai, sống khép kín và làm được khá nhiều thơ.  Nàng thường gửi cho Ôn để nhờ ông xem lại và sửa cho. Sau khi có cơ hội đọc nhiều bài của Huyền Cơ làm ra vào thời điểm đó, ông dần dần nhận ra là chúng biểu lộ cái t́nh cảm dịu dàng của một nàng khuê phụ và không c̣n đâu vẻ phiêu dật siêu thoát của một đạo gia. Ôn lấy làm lạ và chỉ biết lắc đầu. Đầu đuôi chuyện Huyền Cơ xưa kia trở thành tỳ thiếp của Lư Ức, chẳng bao lâu lại chia tay với Lư rồi trở thành đạo cô ở Hàm Nghi Quán như thế nào th́ Lư đă có lần tâm sự nhỏ to với Ôn.

Bảy năm trời trôi qua trong lặng lẽ. Lúc đó bỗng dưng một thảm họa không lường trước đă giáng xuống đầu Huyền Cơ.

Một buổi chiều năm Hàm Thông thứ tám, Trần lên đường viễn du. Huyền Cơ ở lại nhà, sống trong cảnh sầu thương cô tịch. Trong những bài thơ nàng viết gửi Ôn vào dịp đó[20], đă có mấy câu rất thảm thiết như:

Măn đ́nh mộc diệp sầu phong khởi,

Thấu hoảng sa song tích nguyệt trầm

(Đầy sân lá đổ buồn theo gió,

Màn mỏng song sa, tiếc nguyệt ch́m.)

Đầu mùa xuân năm Hàm Thông thứ chín, trong lúc Trần c̣n đi chưa về, người thị tỳ già qua đời. Không một người thân thích để nhờ cậy, bà từng sắm sẵn quan quách dành riêng. Huyền Cơ như thế phải lo việc tống táng cho bà. Sau đó có một cô thị tỳ trẻ mới 18 tuổi tên là Lục Kiều đến giúp việc. Tuy cô gái không phải là người có nhan sắc nhưng thông minh và đáng yêu.

Khi Trần về đến Hàm Nghi Quán ở Trường An th́ trời đă cuối xuân, cảnh vật chan ḥa ánh nắng. Huyền Cơ đón chàng, t́nh ư nồng nàn như kẻ đang khát gặp được ḍng suối. Trong một thời gian, hầu như Trần không có lấy được một ngày nghỉ. Cũng trong thời gian đó, Huyền Cơ chúng kiến lắm lúc Trần hay bỡn cợt với Lục Kiều. Lúc đầu nàng h́nh như không để ư chuyện đó, bởi v́ có thể nói là trong mắt của Huyền Cơ, Lục Kiều không đáng là một người đàn bà.

Đến năm này th́ Huyền Cơ đă 26 tuổi. Mày ngang mũi dọc thanh tú, kèm thêm một vẻ kiêu sa làm người ta không dám nh́n gần. Mỗi khi đi tắm bước ra th́ da thịt nàng mượt mà, ánh lên màu hổ phách. Làn da nàng tươi nhuận thấy như một viên ngọc không t́ vết. Lục Kiều th́ trán thấp, cằm lẹm, h́nh thù giống con chó con, tay chân lại thô. Cổ và cùi tay đầy cáu ghét. Cho nên nếu Huyền Cơ không đem ḷng ngờ vực Lục Kiều hẵn là nàng đă có lư do.

Trong khoảng thời gian đó, mối liên hệ giữa ba người đă trở thành rắc rối. Cho đến nay, khi không vừa ḷng với cử chỉ và hành động của Huyền Cơ th́ Trần hoặc chỉ tỏ ra ít nói hay không hở môi. Bây giờ th́ vào những lúc đó, chàng ta lại quay sang tṛ chuyện với Lục Kiều nhiều hơn. Ngoài ra, những lúc đó, lời lẽ của Trần bao giờ cũng nhỏ nhẹ. Mỗi lần chứng kiến cảnh ấy, Huyền Cơ cảm thấy xót xa như có ai lấy dao đâm vào tim.

Một hôm, Huyền Cơ được một người bạn cũng là đạo cô mời nên sắp sửa đến chơi ở một đạo quán kia. Khi bước ra khỏi thư trai, nàng đă báo cho Lục Kiều biết tên nơi chốn ḿnh sắp đi. Thế rồi chiều tối khi nàng về, Lục Kiều ra trước cửa đón và thuật lại với nàng:

-         Khi cô đi vắng, thầy Trần có đến. Em mới thưa với thày là cô không có nhà. Em báo cho thày biết cô hiện ở đâu th́ thày chỉ trả lời thế à rồi bỏ ra về.

Huyền Cơ biến sắc mặt. Cho đến hôm đó, đôi khi Trần vẫn đến chơi lúc nàng không có nhà. Lần nào cũng vậy, Trần vào thẳng thư trai và đợi nàng về. Thế sao hôm nay dù biết nàng đang ở một chỗ không xa mấy, chàng chẳng thèm đợi mà lại về ngay! Huyền Cơ cảm thấy giữa Trần và Lục Kiều, ắt phải có điều ǵ giấu diếm.

Huyền Cơ không nói không rằng, bỏ vào thư trai, lẳng lặng suy nghĩ. Ḷng nghi ngờ càng ngày càng mọc rễ sâu và lửa oán hận mỗi lúc lại cháy bùng thêm. Nàng cảm thấy trên cái gương mặt của Lục Kiều ngày thường vẫn ra đón ḿnh, sao hôm nay như hiện ra một vẻ khinh khỉnh. Những lời nói nhẹ nhàng khi Trần trao đổi câu chuyện với Lục Kiều như vang lên, rơ mồn một trong đầu nàng.

Ngay lúc đó, Lúc Kiều thắp đèn đem đến. Trên khuôn mặt không lộ t́nh cảm ǵ của người con gái, Huyền Cơ như đọc được tất cả sự hiểm độc đang in lên. Huyền Cơ bèn đứng phắt dậy và khóa ngay cánh cửa. Rồi bằng cái giọng run rẩy v́ tức giận, nàng bắt đầu cật vấn cô gái. Lục Kiều luôn miệng: “Em không biết. Em không biết ǵ hết!” Cách trả lời của cô gái càng làm cho Huyền Cơ tin chắc Lục Kiều là kẻ giảo hoạt. Huyền Cơ bèn đưa tay xô ngă cô gái lúc đó đang qú mọp trên sàn. Nàng trừng mắt nh́n thẳng vào đôi mắt sợ hăi của cô gái và hét lớn: “Tại sao mi không chịu thú thực?” rồi đưa hai tay siết lấy cổ. Lục Kiều chỉ biết vùng vẫy tay chân trong tuyệt vọng. Khi Huyền Cơ buông được tay ra để xem sao th́ cô gái đă chết.

 

Trong một thời gian khá lâu, chuyện Huyền Cơ sát hại Lục Kiều vẫn không bị vỡ lở. Hôm sau ngày xảy ra án mạng, Trần có đến chơi ở đạo quán. Huyền Cơ nghĩ thầm thế nào Trần cũng sẽ hỏi thăm về Lục Kiều. Thế nhưng nàng chẳng nghe Trần lên tiếng hỏi han ǵ cả. Nàng mới bảo: “Con bé Lục Kiều bỏ đi đâu mất từ tối hôm qua” và đưa mắt nh́n xem sắc mặt của Trần nhưng Trần chỉ đáp vỏn vẹn hai chữ “Thế à!” xem như không để ư cho lắm về điều nàng vừa nói. Đêm hôm trước, Huyền Cơ đă ra đằng sau đạo quán, đào đất làm thành một cái hố lớn rồi bọc thi thể của Lục Kiều lại, quẳng xuống đó và lấp đất lên rồi.

Mấy năm trước, Huyền Cơ đă đóng cửa tạ khách v́ “giữ bí mật để  sống yên thân” th́ nay nàng đang lo lắng, khổ sở trong ḷng v́ “giữ bí mật đă làm chết người”. Nàng nghĩ rằng nếu bây giờ ḿnh đóng cửa tạ khách th́ chẳng khác ǵ bảo những kể muốn hỏi thăm tung tích Lục Kiều hăy đến lục soát bên trong đạo quán. Hơn nữa hăy c̣n có những kẻ tha thiết muốn gặp ḿnh đàm đạo, làm sao khăng khăng từ chối họ được.

Khoảng đầu mùa hạ, có hai ba người khách đến viếng.Trong bọn, có kẻ muốn hóng mát bèn bước ra đằng sau đạo quán. Bỗng anh ta thấy có đấu vết một cái hố mới đào và được đắp trùm lên bằng một lượt đất mới. Bên trên nó lại có bóng mấy con nhặng xanh họp thành bầy. Anh chàng bèn lấy làm quái và không nghĩ ngợi xa xôi, cứ thế mà đem nói lại với một người tùy tùng. Người này lại đi kể với anh ḿnh vốn là sai nha trong phủ. Tên sai nha này mấy năm về trước có lần chứng kiến việc Trần từ trong Hàm Nghi Quán ra về lúc trời hừng sáng nên nghĩ rằng đây là một cơ hội tốt để kiếm ăn, đă đến gặp Huyền Cơ, hăm dọa và định ṿi tiền. Huyền Cơ chỉ cười mà không đáp lại nguyện vọng của hắn. Kể từ lúc ấy, tên sai nha nuôi ḷng oán hận đối với nàng. Giờ đây nghe chuyện em ḿnh kể, hắn đă nối kết việc cô nữ tỳ mất tích và cái hố mới đào bốc lên mùi tanh tưởi, nghĩ rằng giữa chúng nhất định có một mối liên hệ nào đó. Thế rồi hắn bèn cùng với vài người đồng sự, vác xẻng cuốc đột nhập Hàm Nghi Quán và đào cái hố ấy lên. Mới đào chưa được một thước, họ đă thấy thi thể Lục Kiều vùi nông dưới đó.

Quan Doăn của phủ Kinh Triệu[21] là Ôn Chương dựa trên lời bọn sai nha tố cáo đă vây bắt Huyền Cơ. Nàng không có lấy một lời biện hộ, cứ thế mà nh́n nhận tội lỗi. Nhạc công họ Trần cũng bị thẩm vấn nhưng người ta biết là không dính líu đến án mạng nên được phóng thích.

Từ Lư Ức trở đi, tất cả những người quen biết với Huyền Cơ xưa nay ngay cả những nhân sĩ trong triều ngoài nội, đều v́ tiếc tài mà muốn cứu nàng. Chỉ có một ḿnh Ôn Kỳ đang ở Phương Thành (Hà Nam), quá xa chốn kinh sư, không thể tận lực giúp.

Kinh Triệu Doăn thấy chứng cớ đă rành rành, không thể làm sai phép nước. Đến khoảng lập thu, rốt cuộc quan thượng tấu lên Hoàng đế Ư Tông, xin tuyên án chém.

Ngày Huyền Cơ bị hành h́nh, người tỏ ḷng thương xót nàng không phải ít nhưng có lẽ kẻ mang vết thương ḷng sâu sắc nhất là Ôn Kỳ ở Phương Thành.

Hai năm trước khi Huyền Cơ lâm h́nh, Ôn đă phải trôi dạt xuống Dương Châu. Nơi đây cũng là chỗ mà Lệnh Hồ Đào, sau khi bị băi chức Tể tướng hồi năm Đại Trung 13, đă xuống nhậm chức Thứ sử. Ôn nghĩ Đào tuy quen biết ḿnh nhưng không chịu dùng nên đem ḷng oán hận, không thèm đến tŕnh danh thiếp. Ở Dương Châu, một hôm Ôn vào trong kỹ viện và uống đến say, bị một tên ngu hầu (công sai) đánh bầm mặt và găy cả răng cửa nên đi kiện ở công đường. Đào cho Ôn và ngu hầu được đối chất. Ngu hầu khéo đổ mọi thứ tội lỗi lên đầu Ôn nên được phán quyết vô tội. Chuyện đó cũng đă được đồn tới kinh sư. Ôn lại tự ḿnh lên Trường An, đệ đơn lên những nhân vật quan trọng đương thời để họ xét lại mà dùng ḿnh. Thời này, Từ Thương và Dương Thu[22] đang cùng giữ chức Tể tướng. Tuy Từ có ư muốn giúp đỡ Ôn nhưng Dương không khứng, đẩy Ôn về Phương Thành, chỉ cho làm một chức thuộc lại. Trong lời chế (khuyến cáo) gửi cho Ôn, thấy có câu: “Chốn cửa Khổng lấy đức hạnh làm gốc, văn chương chỉ là chuyện ngọn ngành. Nay ngươi không giữ lấy đức, đâu xứng đáng để nói đến văn chương! Huống chi tự do bôn phóng như ngươi, có tài cũng không dùng được vào việc ǵ thích hợp”. Sau đó, Ôn dọn nhà về huyện Tùy và chết ở đấy. Con Ôn là Hiến và em Ôn là Đ́nh Hạo th́ vào giữa năm Hàm Thông cũng được đề bạt làm quan nhưng Đ́nh Hạo bị giết ở Từ Châu nhân cuộc nổi loạn của Bàng Huân[23], ba tháng sau khi Huyền Cơ lănh án chém.

 

Dịch xong tại Tokyo ngày 10/2/2017

 

Thư mục tham khảo:

Mori Ôgai, Tuyển tập do Hiện đại Nhật Bản Văn Học Quán thu thập. Gyokenki (Ngư Huyền Cơ) từ trang 354 đến 374. Nxb Bungei Shunjuu, Tokyo.


 

[1] Nhà Đường cũng đă lợi dụng đến nơi đến chốn tư tưởng tôn giáo này. Huyền Tông nh́n nhận Lăo tử là tổ tiên, truy phong miếu hiệu cho ông và ủng hộ việc mở mang các đạo quán.

[2] Tên gọi chúng các đền đạo Lăo cấp thấp. Cung là để chỉ những ngôi đền lớn.

[3] Tương truyền được Công chúa Hàm Nghi, con gái Đường Huyền Tông, cho xây.

[4] Nguyên văn: Triệu sấu Dương ph́. Triệu Phi Yến là cung nhân Hán Thành Đế, Dương Thái Chân là phi tần Đường Huyền Tông.

[5] Gọi là “xướng gia” hay “nữ lang gia”. Khu Hiệp Tà giống như một xóm cô đầu.

[6] Tạm dịch tên một con quỷ thật lớn gọi là Chung Qú, có thể đánh dẹp tà thần. Nó đă hiện ra trong giấc mộng của Đường Huyền Tông. 

[7] Bá Nhạc là một người đời xưa giỏi nghề xem tướng ngựa, phân biệt được ngựa hay và ngựa xoàng.

[8] Thẩm Tuân tự Thành Chi, đỗ Tiến Sĩ trong niên hiệu Hội Xương, sau được phong Chiêu Nghi Tiết Độ Sứ.

[9] Từ Thương tự là Nghĩa Thanh hay Thu Khanh, sau được phong Thái Tử Thái Bảo.

[10] Luyện sư là tiếng tôn xưng để gọi một đạo sĩ.

[11] Ngân câu có nhiều nghĩa nhưng đây ư nói chữ viết với nét bút tung hoành như chữ thảo. Đây nói về tài thơ của ḿnh mà Huyền Cơ tự phụ.

[12] Nguyên văn : cát sĩ.

[13] Mồng một và ngày 15 tháng âm lịch.

[14] Một phép tu để đăc đạo thần tiên, được suy định là những pḥng trung bí thuật liên quan đến t́nh dục giữa nam nữ.

[15] Ư nói ḿnh là kẻ hay chạy theo t́nh mới th́ chớ trách chi người cũ phụ bạc. Có thuyết cho là bài này có nhan đề khác là “Kư viên ngoại Lư Ức” mà Lư là người chồng cũ đă đuổi nàng đi nên phù hợp với nội dung của lời thơ. Tống Ngọc là người đẹp trai và văn hay chữ tốt ở nước Sở thời xưa, c̣n Vương Xương th́ người dịch chưa rơ là ai.

[16] Rau tần là một loài rau mọc cạnh bờ nước, dĩ nhiên ám chỉ nàng Giang Thái Tần.

[17] Kê quân: người ở Kê, có thể là Cối Kê Sơn trong đất Việt. Phải chăng v́ Ôn Đ́nh Quân có thời lưu lạc xuống Dương Châu (Giang Nam)?

[18] Có sách chép là Trần Vĩ, được biết như một trong những t́nh nhân của nàng.

[19] Có bản chép đài giai (thềm rêu) thay v́ đ́nh giai (thềm sân)

[20] Hai câu dưới đây trích từ bài Đông dạ kư Phi Khanh (Đêm đông gửi Ôn Phi Khanh).

[21] Doăn là chức quan hành chính cao cấp (Đô trưởng). Kinh Triệu chỉ vùng kinh đô Trường An.

[22] Dương Thu tự là Tàng Chi, học hành uyên thâm và có trí nhớ tốt, giỏi nhiều ngành nghệ thuật.

[23] Chức quan trông coi việc kiểm tra lương thực là Bàng Huân đă nổi dậy ở Quế châu vào năm Hàm Thông thứ 8 (868) nhưng cuộc loạn bị dập tắt ngay năm sau.

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com