NÀNG VŨ CÔNG

(Maihime, 1890)

Nguyên tác: Mori Ôgai

Dịch chú: Nguyễn Nam Trân

Một cảnh trong phim Die Tanzerin (Nàng Vũ Công, 1988)

Than đá được chất lên xong xuôi từ sớm, quanh chiếc bàn trong khoang toa hạng nh́, tất cả đều yên tĩnh. Ánh sáng của chiếc đèn măng-xông (1) khi tỏ khi mờ như muốn trêu ngươi. Đám hành khách mỗi đêm vẫn tụ tập ở đây đánh bài đă lên trọ ở khách sạn trên bờ hết rồi nên trong căn phòng còn trơ mỗi ḿnh tôi.

Chuyện xảy ra cách đây đă năm năm. Hồi đó, đúng như điều mình ao ước, tôi đă được quan trên gửi sang phương Tây. Lúc đến cảng Sài G̣n này th́ những đều tai nghe mắt thấy, không có cái ǵ là không lạ lẫm đối với tôi. Mặc cho ng̣i bút đưa đường, mỗi ngày tôi đă viết hàng ngh́n con chữ cho bài văn du kư và đem đăng trên những nhật báo thời đó. Tuy gieo cho độc giả cái ấn tượng mình là một cây bút cừ khôi nhưng bây giờ ngẫm lại, tôi không hiểu những bậc thức giả sẽ nghĩ gì về những ý tưởng ấu trĩ và luận điệu bừa bãi làm như mình đã đưa ra được những chuyện vô cùng mới mẻ khi tôi trình bày về phong tục tập quán cũng như những khía cạnh khác tầm thường hơn về đời sống địa phương như cây cỏ, chim muông, đất đá. Lần về nước kỳ này, tôi có mua một tập vở để ghi lại cảm tưởng riêng tư mỗi ngày nhưng nay, các trang vẫn cứ trắng nguyên. Không phải vì trong thời gian du học ở Đức, tôi đã làm quen và cuối cùng chấp nhận một thái độ nil adminari (2) đâu! Không, điều đó đến từ một lý do khác.

Thực vậy, lần này đáp tàu trở lại phương Đông, tôi không còn là thằng tôi ngày xưa khi mới bắt đầu làm chuyến Âu du. Nói về học vấn thì tôi hãy còn vô số điều để học hỏi nhưng chuyện đời thì coi như tôi đã thông hiểu khá nhiều và khám phá ra rằng không phải chỉ có lòng người khác là cái khó dò, ngay cả tâm tình của chính mình còn dễ đổi thay nữa là.Tạc thị kim phi, hôm qua mình còn nhìn nhận hôm nay đã phủ nhận, cảm xúc của tôi cũng thay đổi từng phút một. Thế thì đưa cái tình cảm vốn không ổn định của mình lên mặt giấy là để ai xem? Dù sao, cũng không vì điều này mà tôi không đặt bút viết nhật ký. Vâng, chuyện không thể viết nó ra được cũng lại đến từ một nguyên nhân khác.

Ôi, chóng quá, tính từ ngày tàu rời cảng Brindisi (3) tới nay đã hơn hai mươi hôm. Thói thường thì trong một chuyến viễn dương, để làm vợi đi nỗi nhàm chán của đoạn đường dài, người ta thường bắt chuyện với cả những người khách đồng thuyền không quen biết. Tuy tập quán hàng hải là như vậy nhưng riêng tôi thì cứ mượn cớ người khó ở, tự giam mình trong ca-bin và hầu như không trao đổi, chuyện trò gì với ai, ngay cả những bạn đồng hành. Lý do là tôi đang mang một mối sầu ray rứt khôn nguôi. Lúc tàu mới khởi hành, mối sầu này giống như đám mây dày ngáng cả hồn tôi, hết che khuất vùng núi non nước Thụy Sĩ lại làm tôi không thiết tha gì đến những phế tích lịch sử của đất Ý. Đến đoạn giữa cuộc hành trình, nó lại khiến cho tôi đâm ra ghét bỏ cuộc đời và thất vọng với cả chính mình, cảm thấy như có ai đem ruột gan mình mà vò chín khúc. Bây giờ đây, những dằn vặt, hối hận trong tâm đã tụ thành khối, chỉ còn đọng lại như vệt sẫm, thế nhưng mỗi lần đọc trang giấy hay đưa mắt nhìn sự vật nào thì nó lại làm dậy trong tôi một niềm hoài cảm vô bờ bến. Nó giống như cái bóng chiếu từ mặt kính, như tiếng nói từ đâu vọng lại và dằn vặt tôi không biết bao lần. Ôi, làm sao giải được nỗi phiền muộn này? Nếu như nó giống như nỗi niềm nào khác thì tôi có thể viết vài câu thơ, câu ca để lòng mình tìm lại sự thanh thản. Nhưng đây là một sự hối hận đã khắc lên và hằn sâu trên trái tim tôi đến độ tôi không hiểu sao đã có thể xảy ra như thế. Thôi được rồi, đêm nay, chung quanh không có ai và hãy còn một chút thời giờ trước khi người hầu phòng đến để tắt đèn đóm, vậy thì để tôi thử lần lượt ghi lại những nét chính về câu chuyện của mình.

Tôi từ thuở nhỏ là con nhà thi lễ cho nên dù bố có mất sớm vẫn không hề xao lãng việc học hành. Lúc còn học trường phiên (4) ở quê nhà hay đến khi lên Tôkyô theo lớp Dự bị Đại học, ngay cả sau khi vào Khoa Luật (5) thì cái tên Ôta Toyotarô lúc nào cũng được xếp hạng đầu bảng, và điều này đã an ủi được tấm lòng người mẹ từng trải biết bao gian khổ để nuôi dạy đứa con một của bà. Năm 19 tuổi, tôi đã có bằng Gakushi (Cử nhân), điều mà người ta kể rằng đó là một danh dự hiếm có kể từ khi trường này thành lập. Nhờ được bổ làm việc ở một Bộ, tôi đã cho đón mẹ từ dưới quê lên Tôkyô và hai mẹ con tôi đã có ba năm đoàn viên thật hạnh phúc. Được cấp trên đánh giá cao, tôi đã nhận lệnh nhà nước gửi sang Âu châu để tìm hiểu về một vấn đề. Lòng hăm hở vì nghĩ rằng đây là dịp may hy hữu để lập thân và mở mày mở mặt cho dòng họ, tôi đáp tàu đi Berlin dẫu biết đó là một kinh thành xa xăm, lòng không cảm thấy chút buồn khổ nào khi phải chia tay người mẹ nay đã ngoại ngũ tuần.

Trong đầu chỉ mơ màng đến chuyện công danh và tin tưởng vào tài thích nghi của mình đối với một hoàn cảnh học tập nhiều ràng buộc, đột nhiên tôi thấy mình đang đứng giữa lòng một đại đô thị tối tân của châu Âu. Ôi, bao nhiêu sự huy hoàng đang bày ra trước mắt! Tâm trí tôi như ngợp òa trước vẻ lộng lẫy của thành phố. Khi đến Unter den Linden (6) - cái tên dịch ra tiếng Nhật sẽ thành “Dưới bóng cây bồ đề” (Bodaijika), cứ tưởng đây là một nơi âm u tịch mịch - nhưng nếu có đặt chân lên cái đại lộ với những tuyến đường chạy dọc thành hàng này - xin hãy nhìn các ông các bà từng nhóm nhỏ đang dạo bước trên những bờ lề rải đá nằm ở hai bên. Lúc đó là thời mà Hoàng đế Wilhelm Đệ Nhất (7) còn xuất hiện bên khung của sổ để ngắm cảnh thành phố, thời của các sĩ quan trong quân phục diễn hành, ngực ưỡn vai cao, người gắn đầy huy chương chói lọi, còn đám phụ nữ xinh đẹp thì ăn mặc, trang điểm theo mốt mới nhất đến từ Paris. Không có gì mà không làm tôi ngạc nhiên: những chiếc xe ngựa kéo đủ loại lướt êm trên mặt đường tráng nhựa, đây đó ở các khoảng trống tạo xa bởi những ngôi nhà cao chạm mây là những bồn phun nước vọt lên và đổ xuống, tiếng nghe như mưa rào giữa ngày nắng ráo. Còn giữa những vòm cây xanh giao đầu vào nhau bên kia Cổng chào Brandenbourg (8), nhô lên trền nên trời xanh là pho tượng Nữ thần đặt trên cột Tháp Khải Hoàn (9) . Tất cả cảnh tượng như vậy chen chúc với nhau trong một khoảng không gian chật hẹp làm cho du khách lần đầu đặt chân đến đây không khỏi bối rối phải tiếp xúc với chúng thế nào cho phải. Thế nhưng trong lòng mình tôi đã thề rằng sẽ không để bất cứ một thứ ngoại cảnh nào, cho dù xinh đẹp đến đâu, lôi cuốn cho nên vẫn giữ khoảng cách với tất cả những gì đang đổ xô lại vây hãm mình.

Tôi kéo chuông cửa để xin vào yết kiến. Mấy viên sĩ quan nước Phổ (10) - mà tôi vừa trao cho bức công hàm trình bày lý do chuyến đi từ xứ Nhật đến đây – đã tiếp đón tôi nồng hậu và hứa là sau khi các thủ tục lãnh sự xong xuôi, họ sẽ sẵn sàng trao đổi và cung cấp cho những thông tin tôi cần. May quá, hồi ở quê nhà tôi đã có dịp học hai thứ tiếng Đức và Pháp. Vì thế mà trong lần gặp gỡ đầu tiên này, những người đối tác của tôi không khỏi tò mò đặt câu hỏi xem tôi đã học ở đâu và trong trường hợp nào để có được kiến thức như thế.

Sau đó, một phần vì có giấy phép chính thức, tôi đã ghi danh vào Đại học Berlin với mục đích nghe giờ giảng ở khoa Chính trị mỗi khi công vụ cho phép.

Được khoảng một hai tháng, việc trao đổi về công vụ coi như đã xong xuôi và sự nghiên cứu của tôi cũng có tiến độ tốt, tôi đã gửi về trong nước một bản báo cáo về những điều khẩn cấp nhất, ngoài ra c̣n ghi chú thêm một số điều chưa cần ngay, tổng cộng phải đến vài cuốn tập. Riêng ở đại học thì khác với điều tôi đã suy nghĩ một cách khá ngây thơ, nhà trường không có khóa dạy đặc biệt dành cho những sinh viên mai sau muốn thành chính trị gia. Do đó, sau khi lưỡng lự nhiều phen, tôi bèn quyết định đi nghe mấy lớp khoa Luật sau khi đã thanh toán học phí.

Ba năm trời trôi qua như một giấc chiêm bao nhưng chẳng sớm thì muộn, đã đến lúc con người không còn có thể che dấu bản chất của mình. Tôi đã tôn trọng di huấn của cha tôi và nghe theo lời dặn dò của mẹ tôi, rồi từ khi được thiên hạ khen ngợi là thần đồng, tôi đâm ra sung sướng thành ra không dám chểnh mảng học hành. Cho đến lúc, hạnh phúc với những lời khen tặng của một vị thủ trưởng vốn hài lòng vì đã có một đứa bộ hạ giỏi giang, tôi đã cắm đầu cắm cổ làm việc và hoàn toàn thụ động như một cái máy, không còn nhận thức về mình nữa. Năm nay đến cái tuổi 25, và có lẽ vì đã từ một dạo, tôi chịu ảnh hưởng bầu không khí tự do thoải mái của đại học này nên thấy như đang có một tình cảm nôn nả trồi lên từ chỗ sâu kín trong lòng. Nơi đó đã chôn dấu từ lâu một cái tôi thực sự nay đang muốn đánh đuổi cái tôi mà cho đến bây giờ tôi cứ ngỡ là con người mình. Vì lẽ đó tôi mới nhận thức rằng việc trở thành một chính trị gia xông xáo trên chính trường hay một viên thẩm phán làu thông luật pháp, rành rẽ hình án, đều không phải là điều làm tôi thỏa mãn.

Tôi nghĩ thầm bà mẹ của tôi muốn biến tôi thành một cuốn từ điển bách khoa biết đi, vị thủ trưởng lại muốn tôi phải là bộ luật sống. Thành một cuốn từ điển thì tôi còn có thể chứ đại diện cho pháp luật là điều tôi không kham nổi. Cho đến ngày nay, tôi đã thực hiện một cách nghiêm túc mọi yêu cầu của vị thủ trưởng cho dù nó nhỏ nhặt đến đâu. Thế nhưng, kể từ lúc sau này, trong những bản phúc trình về bên nhà, tôi vẫn thường tranh luận với ông là đừng nên câu nệ những tiểu tiết pháp lý, và tôi đã chủ trương một cách oai vệ rằng một khi đã nắm được tinh thần pháp luật rồi thì mọi sự sẽ tự giải quyết dễ dàng như chẻ tre. Mặt khác, ở đại học, tôi lơi là với những giờ giảng về pháp luật mà chú tâm hơn tới lịch sử và văn học. Rốt cuộc đây mới chính là hai môn học đem lại cho tôi một chút hương vị ngọt ngào .

Dĩ nhiên là sau khi phái tôi đi, vị thủ trưởng đã muốn biến tôi thành một cỗ máy để ông sử dụng tùy hỷ. Như thế, làm sao ông ta có thể vui lòng chấp nhận một kẻ bắt đầu nuôi dưỡng những ý tưởng độc lập và có hành động khác người? Lúc đó, địa vị của tôi sắp nguy ngập đến nơi! Thực ra, nếu chỉ là phản ứng của ông thôi thì chỗ đứng của tôi chưa đến nổi bị đe dọa nhưng đây là vì trong đám sinh viên học bổng đang du học ở Berlin thời ấy, có một nhóm lắm thế lực và tôi không tạo được quan hệ hữu hảo với họ. Một số trong đám tỏ ra ngờ vực, thậm chí sàm báng tôi. Dù vậy, những điều họ rêu rao rốt cục không phải là thiếu bằng cớ.

Vì thấy tôi cương quyết ghìm khuynh hướng hưởng lạc xuống bằng cách từ chối đi cụng ly bia hay đi đánh bi-da với họ, mấy người đó đâm ra cười cợt, có khi lại tỏ ý ngờ vực. Tuy nhiên, họ hoàn toàn không hiểu gì về tôi. Ôi, làm sao người khác có thể hiểu lý do hành động của tôi được trong khi bản thân tôi chưa hiểu về mình. Con người tôi chẳng khác nào một cây mắc cỡ (11), lá cứ co rụt lại và xếp cánh mỗi khi có tay ai chạm tới. Tâm hồn tôi giống như tâm hồn một cô gái trinh trắng. Từ hồi còn trẻ, tôi đã nghe theo lời bảo ban của các bậc trưởng thượng nghĩa là phải chăm chỉ đèn sách, phải năng nổ trong chốn quan trường, chứ sự thành công của tôi chưa hề nhờ vào chí khí của mình. Có thể tôi tạo ra được ấn tượng mình là người nhẫn nhục và chịu khó học hành nhưng thực ra tôi đã tự đánh lừa và lừa dối cả người khác bởi vì tôi đã làm gì ngoài việc đi đúng một lèo con đường mà thiên hạ vạch cho đâu. Sở dĩ tôi không để cho lòng mình bị lung lạc trước ngoại vật, không phải vì có đủ can đảm để từ khước nó thẳng thừng, nhưng chỉ vì sự sợ hãi đã trói tay buộc chân mỗi khi tôi tiếp xúc với sự vật bên ngoài. Ngay trước khi rời quê nhà, tôi không nghi ngờ chút nào về tương lai sáng sủa của mình, và hơn nữa, còn tin tưởng sâu sắc rằng mình có một sức chịu đựng dẻo dai. Ấy thế mà điều đó chẳng kéo dài được bao lâu! Cho đến khi con tàu rời khỏi vịnh Yokohama, tôi hãy còn nuôi trong đầu ý tưởng mình là một người hùng đầy triển vọng nhưng sau đó mới ngỡ ngàng nhìn thấy con người thật của mình khi đưa khăn tay lên thấm dòng nước mắt tuôn ra không kìm hãm được. Tính chất ấy phải chăng đã có từ khi tôi mới lọt lòng hay do cái chết của người cha vắn số và chỉ được người mẹ một mình nuôi dạy?

Chuyện bị các cậu sinh viên học bổng khác chế nhạo thì đã đành nhưng tại sao bọn họ lại ngu ngốc đến độ ganh tỵ với cả một con người tinh thần yếu ớt và đáng thương như tôi?

Tôi nhìn những nàng con gái mặt bự phấn môi đỏ chót, diện những bộ quần áo sặc sỡ đang ngồi trong quán cà phê để khêu gợi khách hàng nhưng không đủ can đảm tiến tới gần ngồi bên cạnh. Tôi lại nhìn những chàng trai phóng đãng gọi là Lebemann (12), đầu đội mũ cao, kính kẹp vào sống mũi và nói chuyện bằng giọng mũi, cái giọng đặc biệt của giới quí tộc nước Phổ, nhưng cũng không đủ can đảm đến nhập bọn với họ.

Vì không đủ can đảm như thế cho nên tôi cũng không giao thiệp với các bạn đồng hương vốn rất thoải mái và hoạt bát. Thấy tôi lạnh nhạt trong giao du, những người này hay cười cợt, ganh ghét tôi và tệ hơn nữa, nhìn tôi với ánh mắt hoài nghi. Chính vì vậy mà tôi bị hàm oan, trong một thời gian đã phải nếm trải bao nhiêu thứ gian nan.

Một ngày nọ, khi trời đã về chiều, sau khi tản bộ trong Sở Thú (13), tôi đi qua khỏi đại lộ Unter den Linden, sắp sửa về đến căn phòng trọ của mình trên đường Monbijoustrasse và nhận ra mình đang đứng trước ngôi giáo đường xưa (14) của một con hẻm trên Klosterstrasse. Để lại đằng sau cả một biển đèn đuốc, tôi chui vào đầu ngõ cái hẻm chật chội và hơi tối: chăn nệm và quần áo lót hong phơi trên thành lan can gỗ những căn nhà dân còn chưa được đem vào, một lão già Do Thái để râu quai nón dài đang đứng tần ngần trước cửa quán rượu. Quang cảnh vẫn như mỗi lần khi tôi đi ngang qua đây. Tôi đang đứng trước một tòa nhà đồ sộ và cổ kính, có lẽ được xây cất lên từ ba trăm năm về trước. Nó vẫn sừng sững nơi đó, hơi lọt hỏm vào trong so với mặt đường và đối mặt với một ngôi nhà cho thuê có cái thang gỗ bắc lên nối với những tầng lầu và một cầu thang khác đưa xuống tầng hầm, nơi đây có một ông phó rèn mở tiệm. Ngôi giáo đường này là nơi tôi đã đứng im lặng không biết bao nhiêu lần và để thần trí mình chìm trong một trạng thái phiêu diêu.

Tuy vậy, buổi chiều hôm ấy, giữa khi định rời khỏi nơi đây, tôi nhận ra có một cô gái đang đứng tựa người vào cánh cửa đóng kín của nhà thờ và khóc nghẹn ngào. Cô ta khoảng 16 hay 17 tuổi. Quần áo lành lặn, không có một dấu vết gì gọi là nhơ bẩn, đầu cô choàng một vuông khăn nhưng vẫn để lộ mái tóc màu vàng nhạt. Có lẽ ngạc nhiên vì tiếng bước chân tôi, cô ngoảnh mặt nhìn, nhưng làm sao có thể tả được nét mặt của cô khi tôi không có trong tay ngòi bút của một nhà thi sĩ? Tôi không biết vì cớ gì nhưng chỉ cần một thoáng nhìn từ đôi mắt trong xanh, chất chứa buồn thương, phân nửa bị khuất dưới riềm mi đẫm lệ thì tấm lòng của tôi - dù luôn luôn được canh phòng cẩn mật – đã bị chúng xuyên thấu vào tận nơi sâu thẳm nhất.

Cô gái hình như không ngờ rằng mình đã đau khổ đến độ phải bật ra tiếng khóc thảm thiết như vậy, cũng không ý thức được những gì đang xảy ra chung quanh nên cứ đứng nguyên đó và tiếp tục khóc. Một tình cảm thương hại xâm chiếm cõi lòng đã làm cho tôi ghìm được sự nhát nhúa. Không chần chờ gì nữa, tôi tiến đến bên cô:

-Làm gì cô em phải khóc thế? Tôi chỉ là người khách qua đường nhưng chính vậy mà tôi mới dám đề nghị xem có thể giúp đỡ cô được chút gì không?

Tôi hỏi cô như thế và ngạc nhiên cho sự dạn dĩ đã bất chợt đến với mình.

Hơi bị bất ngờ, cô đưa mắt dò xét khuôn mặt với màu da vàng nhưng có lẽ trên đó sự thành thực trong tình cảm của tôi đã được biểu lộ rõ ràng.

-Ông có vẻ là người tốt bụng. Ông không giống con người thô bạo kia, cũng chẳng giống bà mẹ của em.

Cô nói thế nhưng trên khuôn mặt khả ái ấy, nước mắt vẫn tuôn như suối xuống đôi má.

-Xin ông cứu em với! Đừng để em phải chịu cảnh khổ nhục này. Mẹ của em bắt buộc em nghe theo lời bà, không thì bà ấy đánh đập. Bố em vừa mới mất, ngày mai phải đem đi chôn rồi mà trong nhà, một đồng một chữ cũng không có.

Cô gái lại òa lên khóc. Đầu nàng cúi gầm và trong đôi mắt tôi chỉ có hình ảnh của chiếc gáy rung rung vì thổn thức.

-Tôi sẽ đưa cô về nhà nhưng trước đó, cô phải bình tĩnh trở lại đã. Cô khóc như thế thì người qua kẻ lại họ nghe thấy hết!

Trong khi tôi đang khuyên can thì vô tình nàng để đầu mình tựa lên vai tôi, rồi lúc đó, bất chợt ngẫng mặt lên , nhìn tôi như thể mới nhận ra sự có mặt của tôi, tỏ ra ngượng ngập và đứng qua một bên.

Tôi đi theo thiếu nữ trong khi cô bước thật gấp như sợ khách qua đường bắt gặp. Sau khi bước vào cánh cống nằm xế bên mặt sau của ngôi giáo đường cổ, chúng tôi đến trước một cái cầu thang bằng đá mà các bậc đã mòn lở với thời gian. Theo đó, leo lên đến được tầng thứ tư, tôi bắt gặp một cánh cửa thấp, phải khom người mới luồn được vào trong. Sau khi thiếu nữ nắm lấy cái đầu cong queo của một sợi giây sắt rĩ và kéo mạnh ra thì bên trong nhà, vọng ra cái giọng khàn đặc của một bà già:

-Ai đấy hở?

- Con, Elise, mới về!

Vừa đáp xong, nàng đẩy cửa vào và trước mặt tôi là một bà già tóc đã ngã màu muối tiêu, trên người mặc bộ áo dạ cũ, hai chân dận trong đôi dép bẩn. Cái nghèo và cuộc sống khó khăn đã để lại dấu ấn trên vầng trán của bà ta nhưng dáng điệu không lộ ra vẻ đanh ác nào.

Elise gật đầu với tôi như để chào từ giã trong khi mẹ nàng chỉ đợi có thể để đóng sập cánh cửa trước mặt tôi.

Chưng hửng, tôi đứng lặng ngay chỗ đó một đỗi, bất chợt ánh đèn dầu hắt ra soi cho tôi thấy mấy dòng chữ kẻ bằng sơn trên cánh cửa: “Ernst Weigert” và bên dưới ghi chú: “Thợ may”. Chắc ông này là người cha vừa quá cố của cô gái. Tôi nghe bên trong vọng ra tiếng như có người đang cãi cọ, sau đó yên tĩnh trở lại rồi cánh cửa được mở ra lần nữa. Bà má hồi nãy hiện ra, xin lỗi tôi về cách xử sự thiếu lễ độ vừa rồi của bà và ân cần mời tôi vào nhà. Qua cánh cửa là đến ngay cái bếp, bên mặt là cái cửa sổ thấp có giăng tấm màn vải được giặt trắng muốt. Bên trái có cái lò bếp làm bằng mấy viên gạch chồng chất lên nhau trông hơi thô kệch. Sâu vào trong là một cánh cửa khác nữa mở he hé, dòm vào mới thấy có một cái giường phủ vải trắng. Đây có lẽ là chỗ người quá cố đang an nghỉ. Bà ta mở cánh cửa hông nhà bếp và đưa tôi vào bên trong một mansarde (15) nhìn xuống mặt đường. Căn phòng không có mái, gia chủ chỉ phủ một lớp giấy lên trên mấy cái rường chạy thoai thoải từ phía nóc đến của sổ. Trong một góc nơi có lẽ phải cúi cả đầu mới có thể đứng được, có đặt chiếc giường. Ở giữa phòng, trên một cái bàn trải tấm khăn bàn đan len trông đẹp mắt, có kê dăm quyển sách và một tập ảnh kỷ niệm, ngoài ra, trong chiếc bình sứ thấy chưng một bó hoa tươi, chi tiết có vẻ xa xỉ nếu đem so sánh với bối cảnh chung quanh. Cô gái đựng sát bàn, ra dáng e thẹn.

Nàng trông vô cùng xinh đẹp. Da mặt trắng như sữa, hồng lên dưới ánh lửa của ngọn đèn, tay chân nhỏ nhắn thon thả, không giống như các cô gái nhà nghèo. Sau khi bà má đã bước ra khỏi phòng, nàng mới ngỏ lời với tôi bằng một giọng hơi pha âm sắc địa phương:

-Xin ông tha lỗi cho em. Ông đưa em về đến tận nhà, điều đó chứng tỏ ông là người có lòng tốt. Tốt như ông thì không đời nào ghét bỏ em, ông nhỉ? Mai này đã đến ngày em phải đưa bố đi chôn. Em cứ tưởng có thể trông cậy được lão Schaumberg. Ông chắc không biết người này đâu . Lão ta là giám đốc của Nhà hát Viktoria (16) đấy, ông ạ! Vì em đã làm việc trong đoàn được hai năm rồi, em cứ tưởng là lão sẽ tự động ra tay giúp đỡ khi em gặp khó khăn nhưng lão ta chỉ lợi dụng hoàn cảnh ấy để buộc em phải trao thân cho lão. Em xin ông cứu giúp em với. Về tiền bạc thì tuy đồng lương không có là bao nhưng em sẽ hoàn trả, cho dù em không có cái ăn. Nếu không thì em phải làm như lời mẹ em nói ...!

Đôi mắt thiếu nữ đẫm lệ, thân hình bắt đầu run rẩy. Khi nàng ngước mắt nhìn lên, tôi thấy cả một sự khêu gợi mà mình không tài nào cưỡng lại. Không hiểu nàng có chủ tâm hay cử chỉ đó chỉ là một hành động tự nhiên?

Tôi còn 2, 3 đồng marks bằng bạc trong túi nhưng nghĩ chừng đó chắc là không đủ, mới tháo chiếc đồng hồ đặt lên mặt bàn.

-Với bao nhiêu đây chắc cũng đủ cho cô qua cơn túng quẫn. Cứ đem nó đến tiệm cầm đồ bảo người ta đi kiếm tôi, ông Ôta nhà số 3 đường Monbijoustrasse, tôi sẽ xin chuộc lại.

Thiếu nữ ra dáng ngạc nhiên và cảm động, nắm lấy bàn tay tôi chìa ra cho cô bắt để chào từ biệt, đưa lên môi và làm rơi trên mu bàn tay tôi những giọt lệ nóng hổi.

Hỡi ôi, định mệnh sao mà khéo dẫn lối đưa đường! Khi tự tìm đến căn gác trọ của tôi để ngỏ lời cảm ơn, phải chăng cô gái đã làm nở ra những đóa hoa tuyệt đẹp trước cánh của sổ gian phòng trọ, nơi mà từ sáng đến chiều, tôi chỉ biết ngồi cắm cúi đọc sách, hai bên chất đầy những chồng tác phẩm của Schopenhauer (17) và Schiller (18)? Kể từ cơ hội đầu tiên này, mối giao tình của tôi và nàng ngày càng trở nên gắn bó và cùng lúc, tin đồn đã đến tai những người đồng hương. Họ kết luận một cách vội vàng rằng tôi đang sống cuộc đời sa đọa với một đám nữ vũ công. Thực ra thì Elise và tôi lúc đó chỉ chia sẻ với nhau những niềm vui ngây thơ và trong sáng (19).

Tôi không dám đưa tên tuổi ai ra nhưng trong đám đồng hương này đã có kẻ hiếu sự, đi tâu báo với thượng cấp trực tiếp rằng tôi hay lui tới những kịch trường, nhà hát, đàn đúm với các nữ diễn viên. Quan trên, sau khi biết rằng tôi đã hoàn toàn thay đổi hướng học thì bắt đầu ghét bỏ, cuối cùng đã thông báo mọi chuyện cho lãnh sự quán, và như thế, chuyến công cán cũng như chức vụ của tôi đã bị họ đình chỉ. Khi ông công sứ trách nhiệm vụ này thông báo cho tôi quyết định đó, đã nói rõ rằng nếu tôi về nước ngay tức khắc, ông sẽ chi cho tiền đi đường, còn như tôi muốn ở thêm thì đừng hòng nhà nước chu cấp sinh hoạt phí nữa. Tôi khất ông một tuần để suy nghĩ và trong khi tôi đang moi óc cố tìm ra một giải pháp thì nhận được hai bức thư đem lại nỗi khổ đau lớn nhất trong cuộc đời tôi. Hai lá thư này hầu như đến nơi cùng một lúc. Bức thứ nhất là thủ bút của mẹ tôi, còn bức thứ hai do một người trong gia đình ký tên, báo tin bà đã qua đời. Tôi không thể nào lập lại những lời người mẹ kính yêu của tôi viết trong thư vì nước mắt đã chực trào lên mi ngăn tôi cầm lấy bút.

Cho đến lúc đó, tình cảm giữa Elise và tôi hãy còn rất trong trắng so với ấn tượng của những người ngoài cuộc có về chúng tôi. Vì cha nàng nghèo nên nàng không được ăn học bao nhiêu và đến tuổi 15, đã nhận lời quảng cáo mộ người của một ông thày dạy ba-lê rồi đi theo cái nghề nghiệp đáng ngờ vực này. Sau khi xong một khóa huấn luyện, nàng đã gia nhập Nhà hát Viktoria và hiện giữ chân nữ vũ công thứ hai. Thế nhưng, như nhận xét của nhà thơ Hacklander (20) những nàng vũ công là một thứ nô lệ của thời hiện đại, số phận của họ thật mong manh và đáng thương. Bị ràng buộc với chủ bằng một đồng lương rẻ mạt, họ bị bóc lột một cách phũ phàng bằng những ngày dành cho tập dượt và những buổi tối lên sân khấu. Trong phòng hóa trang chuẩn bị đóng trò, họ đánh phấn, tô son, được mặc những bộ quần áo đẹp đẽ, nhưng một khi đã ra khỏi cửa nhà hát thì ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Trong bọn họ, không thiếu chi những người túng quẫn, vì phải cưu mang cha mẹ anh em, đành rơi vào cảnh sa đọa. Nếu Elise thoát được cảnh ngộ này cũng là nhờ bản tính khép kín, nhút nhát của nàng và sự bảo vệ của một người cha cương nghị. Từ thuở bé, nàng đã tỏ ra rất thích đọc sách nhưng cho đến lúc đó, thực tình nàng chỉ đọc toàn những cuốn tiểu thuyết loại văn chương hạng tồi gọi là colportage (21) bày ở các quán sách cho thuê. Thế nhưng từ khi quen biết tôi, nàng đã có kiến thức nhiều hơn khi đọc những cuốn sách tôi cho mượn và bắt đầu chuyên chú vào một thể loại hợp với sở thích của mình. Ngoài ra, nàng đã bắt đầu điều chỉnh cách phát âm cho đúng và chóng vánh sửa những lỗi chính tả trong những bức thư viết cho tôi. Như thế, giữa tôi với nàng bây giờ lại có một mối quan hệ khác nữa là thầy với trò. Khi nghe tôi đột ngột bị mất học bổng, nàng thất sắc. Tuy tôi dấu không cho nàng biết là lý do của quyết định này có liên quan đến việc tôi đi lại với nàng nhưng nàng vẫn van tôi dù sao cũng đừng để cho mẹ mình biết chuyện, e rằng vì cớ đó, bà sẽ bắt nàng xa tôi.

Ôi chao, không cần chi đi vào chi tiết nhưng chính là trong hoàn cảnh này, tình yêu của tôi đối với nàng chợt trở nên mạnh mẽ hơn và viễn ảnh hai đứa phải xa nhau trở thành một điều tôi khó lòng chấp nhận. Chắc chắn sẽ có nhiều người lên tiếng phê phán hay quan sát hành động của tôi với vẻ nghi ngờ, nhưng giờ đây, phải nói là tôi đang đứng giữa một ngã rẽ sống còn cho tương lai của mình. Thực vậy, tuy từ buổi đầu, tình yêu của tôi đối với Elise không hề hời hợt, thế nhưng thái độ đáng cảm kích của nàng, sự đồng tình trước nỗi khó khăn tôi gặp phải cũng như sự lo lắng hai đứa phải chia lìa, cái gương mặt đẹp đẽ nay bao quanh bằng mái tóc rũ rượi, đã kích thích não bộ của kẻ không còn ở trong tình trạng bình thường là tôi và khiến tôi ngày càng lún sâu vào hố thẳm. Điều đó giải thích tại sao giờ đây tôi có thể suy sụp đến nước này!

Ngày hẹn gặp viên công sứ gần kề và vận mệnh của tôi đã đến giờ quyết định. Nếu cứ như thế này mà quay về nước giữa khi học hành chưa đi đến đâu, với tiếng đồn về hạnh kiểm như thế, tôi sẽ không thể nào tiến lên trên nấc thang xã hội. Còn như muốn ở lại thì lấy đâu ra tiền ăn học. Khi ấy, kẻ đã đưa tay ra cứu vớt tôi là người đồng hương có mặt trong chuyến hồi hương kỳ này, Aizawa Kenkichi (22). Lúc đó, anh hãy còn ở Tokyo nhưng đã là bí thư riêng cho Bá tước Amakata (23). Khi được tin tôi bị bãi chức qua tờ Công báo của chính phủ, anh đã thuyết phục được vị tổng biên tập một nhật báo lớn ở thủ đô mướn tôi như một thông tín viên hải ngoại có nhiệm vụ viết tin tức thời sự về các lãnh vực chính trị, văn hóa và nghệ thuật của thành phố Berlin.

Chắc cũng không cần phải đề cập ở đây số tiền thù lao mà tòa báo trả cho tôi nhưng nếu dọn nhà đến một phòng trọ rẻ hơn và đi ăn cơm tháng buổi trưa ở tiệm khác thì nó cũng đủ cho tôi cầm cự. Trong khi tôi đang vắt óc tìm giải pháp, Elise đã chứng tỏ lòng thành của mình và chìa cho tôi một mảnh ván cứu mệnh. Không biết bằng cách nào, nàng đã nói khó để mẹ nàng chấp thuận cho tôi đến ở trọ trong nhà của hai mẹ con và sau đó, nếu cộng hai đồng lương lại, chúng tôi đã có thể sống những ngày, tuy không dư dả nhưng tràn đầy hạnh phúc. Buổi sáng, sau khi uống cà phê xong, Elise đi dự những buổi ôn tập, còn những ngày trống thì nàng ở nhà. Trong khi đó, tôi đến cái quán nhỏ trên đường Konigsstrasse, một ngôi nhà hẹp đâm sâu vào trong ngơ, có một căn phòng nghỉ ngơi, để tôi, với cây bút chì trên tay, có thể ngồi điểm tin những tờ báo trong ngày và thu thập tài liệu. Trong gian phòng được soi sáng bằng một cánh cửa con đục trên trần, tôi ngồi chung với đủ mọi thứ hạng người: từ mấy chàng trai trẻ không nghề nghiệp nhất định, những ông già rảnh rỗi sống được nhờ đem chút tiền còm để dành cho vay lấy lãi cho đến những thương nhân lợi dụng giờ Phòng giao dịch chứng khoán tạm nghỉ mà đến đây tìm lấy đôi phút thoải mái. Tôi tự hỏi khi những cặp mắt không quen ấy nhìn tôi, một anh chàng Nhật Bản, đang ngồi bận rộn dùng bút chì bôi đen những trang giấy đặt trên mặt bàn đá cẩm thạch, hờ hững trước tách cà phê cô bé hầu bàn mang tới nay đã nguội ngắt và cứ đi đi lại lại về phía cái vách tường treo không biết cơ man nào là báo chí được kẹp vào trong những thanh gỗ, họ sẽ nghĩ ngợi gì? Ngoài ra, trong những ngày Elise phải đi ôn tập, trên đường về nàng thường ghé qua quán ấy khoảng sau một giờ chiều. Khi chúng tôi cùng nhau sánh bước ra về, chắc là bao nhiêu cặp mắt kia sẽ nhìn theo dò hỏi về cô gái nhỏ mảnh mai đến không ngờ này, người nhẹ như có thể đứng múa trên lòng bàn tay.

Chuyện học hành của tôi đành phải đứt đoạn. Mượn chút ánh sáng yếu ớt của căn phòng mansarde, mỗi khi đi làm về, Elise kê một cái ghế nhỏ để làm ít công việc khâu vá trong khi đó ở bàn bên cạnh, tôi ngồi thảo ký sự cho tờ báo. Khác với khi xưa, thời tôi chỉ viết bài vở bằng cách đào bới đống lá mục của những nghị định và điều luật, lần này tôi theo dõi thời sự chính trị một cách hăng say và có những lời bình luận đầy cảm hứng về các trường phái nghệ thuật và văn học đang lưu hành. Tôi thu thập tất cả mọi tin tức và trong phạm vi năng lực của mình, tổ chức công việc theo lề lối của Heine hơn là của Borne (24). Trong những trang ký sự mà tôi viết, người ta có thể đọc được đầy đủ chi tiết về hai cái chết lần lượt của Hoàng đế Wilhelm I và người kế vị ông là Friedrich III (25), về tân quân (26) mới đăng quang cũng như số phận chính trị của Tể tướng Bismarck ( 27). Thực ra, tôi còn bận rộn hơn là mình tưởng, đến độ không có thời giờ mở một quyển sách – dù tủ sách của tôi không có bao nhiêu cuốn – để có thể quay lại với môn học chuyên ngành. Còn đối với đại học, tuy người ta chưa gạch tên khỏi sổ nhưng quả là tôi khó lòng có đủ tiền trả học phí nên đành ghi danh có mỗi một môn mà chẳng mấy khi đến lớp.

Vâng, chuyện học hành của tôi thành ra dở dang, thế nhưng tôi đã đào sâu kiến thức trong một lãnh vực hoàn toàn khác. Nếu tôi có thế làm được như thế là vì ở Đức, sự truyền bá văn hóa đại chúng tiến bộ hơn bất cứ ở một quốc gia châu Âu nào khác. Trong số bài vở những cuộc thảo luận đăng lên trên hàng trăm nhật báo và tạp chí, có rất nhiều bài đạt trình độ cao. Đó là những bài viết mà kể từ khi trở thành phóng viên, tôi đã đọc với cái nhìn phê phán, điều tôi đã nuôi dưỡng được trong những ngày ngồi chăm chỉ trên ghế đại học. Tôi đọc đi đọc lại, chép đi chép lại và cứ như thế, kiến thức của tôi xưa nay vốn chỉ phát triển theo một chiều hướng, nay đã đem đến cho tôi một tầm nhìn rộng rãi và bao quát hơn. Nó đã mở ra những địa hạt mà các du học sinh học bổng khác cùng trang lứa với tôi chắc không dám mơ tưởng đến. Nhất là khi mà có đôi ba người trong bọn họ không đủ sức để mà đọc cho thông một bài xã thuyết trên báo Đức!

Thế rồi mùa đông năm Meiji thứ 21 (1888) đã đến. Người ta đã phải rải cát lên trên vệ đường những mạch giao thông chính và xúc tuyết đổ đi. Con phố Klosterstrasse hoàn toàn bị lấp bởi một lượt băng, nhưng dầu sao bên dưới, nhìn đó đây cũng còn có thể đoán biết được chỗ lồi chỗ trũng nhờ băng lấp chưa đều. Buổi sáng, khi ra mở cửa, thật là tội nghiệp khi phát hiện ra những thây chim se sẻ chết cóng nằm bất động. Mọi người đều tìm cách sưởi ấm phòng và đốt lửa trong lò bếp nhưng cái lạnh gắt của miền Bắc Âu như thể đã len qua cả những bức tường đá, làm cho những bộ đồ vải chúng tôi đang mặc không còn có nghĩa gì nữa. Mấy hôm trước đây, người ta đã dìu Elise về nhà bởi nàng ngất xỉu trong khi đang trình diễn. Vì trong người không khỏe, nàng chưa thể đi làm trở lại và bà mẹ của nàng, khi thấy con gái ọe ra tất cả những thức mới ăn vào, là người đầu tiên đã phỏng đoán rằng nôn mửa là dấu hiệu của ốm nghén. Ôi, cho dù không phải là thế đi nữa thì tương lai cũng đã quá bấp bênh rồi, tôi biết phải làm sao đây nếu như lời phỏng đoán này được xác nhận là sự thật?

Tôi nằm nhà sáng hôm đó vì nhằm vào chủ nhật mà lòng buồn rười rượi. Elise tuy mệt nhưng không đến nỗi nằm dài trên giường, ủ dột ngồi trên chiếc ghế mà nàng kéo gần cạnh cái lò sắt. Lúc đó, có tiếng ai ngoài hành lang rồi bà mẹ của nàng bước vào ngay sau đó, tay cầm một phong thơ trao cho tôi. Nhìn lướt qua, tôi nhận ra nét chữ quen thuộc của anh bạn Aizawa, nhưng tem thư lại là tem Phổ đóng dấu nhà bưu điện Berlin. Tôi lấy làm lạ, bèn mở ra đọc:

“Quá gấp nên tớ không kịp thông tin cho cậu trước.Tớ vừa đến đây tối qua trong đoàn tùy tùng của ngài Tổng trưởng Amakata. Bá tước có chuyện muốn bàn với cậu, vậy cậu cố gắng đến sớm để gặp. Nếu cậu muốn phục hồi danh dự cho mình thì đây là cơ hội cực tốt! Tớ chỉ cho cậu hay những điều chính yếu thôi vì tớ có việc phải đi ngay.”

Nhìn thấy vẻ mặt bàng hoàng của tôi khi đọc xong lá thư, Elise lo lắng:

-Thư bên Nhật, hả anh? Có gì đáng lo không?

Dường như nàng nghĩ rằng đây là một thông tin từ tờ báo ở Tokyo liên quan đến tiền nhuận bút của tôi.

-Không sao, em đừng lo. Đây chỉ là mấy chữ của Aizawa, người bạn thân mà anh có lần kể cho em. Aizawa vừa tháp tùng ông tổng trưởng của anh ấy đến Đức. Ông tổng trưởng muốn gặp anh nói chuyện. Vì anh ta dặn là rất gấp, có lẽ anh phải đi ngay bây giờ.

Hơn cả sự ưu ái của một bà mẹ lo lắng cho cậu con trai một cưng yêu của mình, vì nghe tôi sẽ phải đi gặp một vị tổng trưởng, nàng mới gượng đứng dậy để chọn cho tôi một chiếc sơ-mi trắng tinh tươm và mặc vào cho tôi tấm áo khoác dài có đơm hai hàng cúc. Tấm Gehrock (28) này nàng đã gìn giữ li lai đến tận giờ. Nàng còn thắt gút cà vạt cho tôi nữa.

-Như thế này, không ai dám bảo anh luộm thuộm.Thử nhìn vào kính mà xem! Có gì mà mặt anh lại rầu rĩ vậy? Anh có cần em đi với anh không?

Nàng giúp tôi chỉnh lại quần áo cho ngay ngắn và nói:

-Nhưng sao khi nhìn anh chững chạc trong bộ đồ này, em cứ ngỡ như không phải là Toyotarô của em nữa!

Suy nghĩ một chút, nàng tiếp lời:

-Nếu may mắn mà anh giàu có và danh giá ra, anh cũng không bỏ rơi em chứ? Nhỡ bệnh trạng của em còn tệ hơn điều mẹ phỏng đoán!

Tôi vừa cười vừa trả lời:

-Anh hở? Làm gì có chuyện giàu có và danh giá đâu em. Bao năm rồi anh đã hết hy vọng thành công trên trường chính trị hay xã hội rồi! Anh nào có thích gì gặp ông tổng trưởng đó. Chẳng qua anh muốn đến chào một người bạn thân mấy năm nay không gặp.

Chiếc Droschke (29) hạng sang mà mẹ Elise gọi hộ đã đến đậu bên dưới cửa sổ, tiếng bánh nghe rào rạo trên con đường phủ tuyết. Tôi đeo găng và khoác hờ hững lên vai người tấm áo choàng đã hơi ố bẩn, không thiết cả cho tay vào. Đội nón xong, tôi ôm hôn Elise và bước xuống cầu thang. Nàng mở cánh cửa sổ đã đóng giá để nhìn theo tiễn tôi bước lên xe, mái tóc rối bời của nàng cuốn giật trong gió bấc.

Tôi xuống xe trước cửa khách sạn Kaiserhof (30). Sau khi hỏi người ta số phòng của ông bí thư Aizawa, tôi leo lên cái cầu thang lát đá cẩm thạch, mà lâu rồi tôi đã mất thói quen sử dụng, để đến một gian tiền đường có đặt chiếc trường kỷ (sofa) phủ nhiễu Pháp (Plusch) đâu lưng vào cái trụ chính ở giữa gian, trước mặt có một tấm kính lớn chắn lối. Cởi áo choàng bên ngoài và đặt xuống đó, tôi đi dọc hành lang để vào căn phòng. Thế nhưng khi vừa đến trước cửa, tôi bỗng thấy mình có hơi do dự. Không hiểu Aizawa sẽ đón tiếp tôi với thái độ nào đây? Anh vốn là người suốt thời ngồi chung ghế nhà trường, không hề tiếc lời khen ngợi về phẩm hạnh của tôi. Khi đã vào đến bên trong và được anh ra đón, tôi mới nhận ra rằng so với ngày xưa, khuôn mặt anh bạn của tôi tuy nặng nề đi nhưng lại bề thế hơn nhiều. Anh vẫn tỏ ra vui tính như xưa và không để ý cho lắm về những chuyện thị phi nghe được về tôi. Thế nhưng, hai chúng tôi nào có lòng dạ mà hàn huyên về những gì xảy ra từ lần gặp trước bởi vì đã có lệnh của ngài tổng trưởng bảo phải đến gặp ngay để ông giao cho tôi công việc dịch khẩn cấp một số văn kiện viết bằng tiếng Đức. Sau khi đã cầm lấy những văn kiện được ủy thác, tôi lui ra khỏi phòng của tổng trưởng. Aizawa cũng ra với tôi và rủ đi ăn cơm chung.

Trong bữa cơm, Aizawa không ngừng đặt câu hỏi và tôi cũng đã trả lời thật đầy đủ. Phải nói rằng hoạn lộ của Aizawa hết sức hanh thông trong khi con đường tôi đi thì sao mà lắm chông chênh, trắc trở.

Nghe tôi trải lòng tâm sự anh nghe về những điều bất hạnh xảy ra trong cuộc đời tôi, nhiều lúc anh tỏ ra ngạc nhiên nhưng không hề buông lời trách móc. Ngược lại, cuộc sống tầm phào của đám sinh viên du học cùng thời với tôi đã khiến anh bực bội. Tuy nhiên, khi tôi vừa chấm dứt câu chuyện thì anh lại nghiêm sắc mặt như sắp sửa dạy cho tôi một bài học. Anh cho rằng tất cả những rắc rối mà tôi phải chịu là do cái bản tính yếu mềm của tôi và tôi không có quyền đi xa hơn nữa. Điều đó có nghĩa là một người học vấn và tài cán như tôi có nên để cho tình cảm của mình đối với một cô con gái lung lạc và tiếp tục sống một cuộc đời không định hướng hay chăng? Hiện tại, Bá tước Amakata chỉ muốn sử dụng năng lực tiếng Đức của tôi thôi. Aizawa chưa muốn lên tiếng để thủ trưởng của anh thay đổi ý kiến vì ông này không phải là không hay biết lý do tôi bị bãi chức. Trường hợp Bá tước nghĩ rằng mọi người muốn cho ông vào tròng thì không những tôi khốn đốn mà anh bạn của tôi cũng sẽ gặp khó khăn. Để bảo chứng cho một ai đó, tốt hơn cả là giúp họ có cơ hội chứng tỏ tài năng! Bây giờ đến lượt tôi phải trổ tài và lấy được sự tín nhiệm của Bá tước mà thôi. Còn như mối liên lạc giữa tôi và người con gái, tuy chấp nhận tình cảm của nàng là thành thực và sâu sắc nhưng theo Aizawa, đây không phải là một tình cảm xây dựng trên sự gặp gỡ của hai cá tính mạnh mẽ nhưng chỉ là sự liên kết của những tâm hồn có tập quán sống ù lì và ủy mị. Tôi phải hạ quyết tâm để cắt đứt. Đại khái nội dung những điều Aizawa phát biểu là như vậy.

Viễn ảnh tương lai Aizawa vẽ ra trước mắt tôi giống như một hòn núi mà một người đi biển lạc hướng và mất cả bánh lái mường tượng đang có ở một nơi nào đó xa xa trên mặt biển. Khổ nổi, hòn núi này còn bị một lớp sương dày che lấp và tôi không biết khi nào mình sẽ đi tới, cuối cùng có cập bến đó chăng và lòng mình có mãn nguyện khi đến được chốn ấy hay không?. Bây giờ, tuy nghèo túng nhưng tôi đang sống hạnh phúc và khó lòng lìa bỏ Elise. Con tim thiếu quả quyết của tôi không đủ sức chọn lựa nhưng tạm nể lời người bạn, tôi đã hứa với anh là mình sẽ chấm dứt cuộc tình duyên. Để giữ được những gì mình muốn bảo vệ, tôi có thể đương cự với kẻ thù nhưng sao mà thông thường, ít khi tôi dám khước từ một người bạn.

Khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi chia tay. Ra đến ngoài đường, những cơn gió thốc thổi rát mặt. Sau khi rời phòng ăn khách sạn với những cánh cửa sổ kín mít với hai lần kính và ngọn lửa ấm áp toát ra từ cái lò sưởi bằng gốm sứ, tôi cảm thấy cái lạnh khôn kham của buổi xế chiều đã thấm xuyên qua lần áo choàng mỏng. Kèm theo không khí giá buốt ăn vào da thịt khiến tôi rùng mình là một nỗi hàn bao la đến cùng tận đáy lòng.

Chỉ cần một đêm thôi, tôi đã dịch xong mấy thứ văn kiện. Kể từ ngày đó, tôi thường xuyên lui tới Khách sạn Kaiserhof. Ban đầu, Bá tước chỉ bàn luận với tôi hoàn toàn trong phạm vi công việc nhưng sau đó, ông đã gợi chuyện về tình hình chính trị Nhật Bản và hỏi ý kiến tôi về một số vấn đề khác nhau. Đôi khi, tỏ ra khôi hài, ông còn kể lại những vụng về và vấp váp mà đoàn tùy tùng của ông đã mắc phải trong chuyến công du.

Chừng một tháng sau, có hôm, ông quay lại tôi và bất thần đặt câu hỏi:

-Này, mai tôi sang Nga đấy! Anh có đi theo được không?

Vì tôi chưa gặp lại Aizawa, người đang bù đầu với công việc từ mấy hôm rồi, đề nghị này khiến tôi trở tay không kịp:

-Thưa Bá tước, xin tuân lệnh.

Tôi phải hổ thẹn mà thú thật rằng câu trả lời trên không phải là một quyết định đột ngột. Thực tình như thế! Đơn giản là khi một người mà tôi đặt tất cả lòng tin tưởng chợt ngõ lời nhờ mình một điều gì, tôi có khuynh hướng chấp nhận tại chỗ, không hề so đo điều hơn lẽ thiệt. Không những tôi nhận lời ngay mà mãi về sau, khi hiểu ra những khó khăn mình sẽ gặp phải, tôi cũng dấu biến cái phản ứng đầu tiên thiếu suy nghĩ của mình và nghiến răng nghiến lợi, thực hiện đến nơi đến chốn điều cam kết.

Khi về đến nhà hôm đó, tôi nhận được món tiền thù lao dịch thuật một lượt với kinh phí dự trù cho chuyến lữ hành. Món tiền thứ nhất, tôi trao cả cho Elise. Nó đủ chi dụng trong nhà cho đến ngày tôi từ Nga trở về. Nàng cho hay đã gặp bác sĩ và ông ấy đã xác minh về tình trạng sức khỏe. Có lẽ đây chỉ là triệu chứng thiếu máu mà nàng đã không để ý từ nhiều tháng nay. Viên giám đốc nhà hát cho biết nàng đã bị sa thải vì bỏ nhiệm sở liên tục, kỳ thực, nàng chỉ vắng mặt mỗi một tháng, chắc đằng sau chuyện này hẳn có nhiều lý do khác để người ta phải khắt khe đến thế. Dù sao, Elise không hề lo ngại khi thấy tôi đi xa vì nàng tin tưởng vào tình cảm của tôi.

Đi bằng xe lửa nên cuộc hành trình không dài ngày cho lắm và cũng không cần sửa soạn chi nhiều. Trong xách tay tôi chỉ có mỗi bộ lễ phục màu đen vừa vặn với khổ người mình mới mượn được và và một tập Quí tộc nhân danh lục của Nga ấn bản Gotha (31) vừa mua xong, cũng như vài cuốn từ điển. Đoán biết rằng Elise sẽ rất buồn khổ vì đơn chiếc trong khoảng thời gian tôi vắng mặt, nhất là nàng vừa trải qua một giai đoạn khó khăn và một phần tôi cũng e ngại vì nhỡ khi đưa tôi ra ga mà nàng lại cứ khóc bù lu bù loa trên bến xe, tôi đã thu xếp để hôm tôi lên đường, nàng đưa bà mẹ đi thăm người quen từ sáng sớm. Sau khi chuẩn bị xong đâu đấy cho chuyến đi, tôi đóng cửa nẻo và gửi chìa khóa cho ông phó rèn tầng trệt và rời ngôi nhà.

Biết phải kể thế nào về chuyến đi Nga này nhỉ? Đảm nhận ngay công việc thông dịch, tôi đã có dịp tiếp xúc với lớp đại quí tộc của triều đình nước họ. Tôi tháp tùng phái đoàn của tổng trưởng đến thành phố Saint Peterbourg (32) và trong thời gian lưu trú ở đây, bao quanh tôi là thế giới của cung điện hoàng gia. Trong khung cảnh tráng lệ giữa một vùng băng tuyết, có tất cả những gì xa hoa và thanh lịch nhất của Paris, đặc biệt là không biết cơ man nào là huân chương chói lọi và những epaulettes (33) khéo thêu phản chiếu ánh sáng của hàng nghìn cái đèn trần rực rỡ một màu vàng kim. Những cánh quạt của các bà mệnh phụ lấp lánh đua sáng với ánh lửa các Kamine (34), bệ lò sưởi điêu khắc cực kỳ tinh xảo, đã khiến mọi người quên đi cái lạnh bên ngoài. Hơn nữa, nhân vì trong đám tùy tùng, là người có thể nói tiếng Pháp (35) lưu loát hơn cả, tôi lại được gọi liên tục đến hầu việc thông dịch cho hai bên chủ khách.

Dù vậy, trong suốt thời gian đó, tôi không hề quên Elise. Không! Tôi lại càng không thể quên vì nàng hầu như gửi cho tôi mỗi ngày một lá thư. Hôm tôi lên đường, trước viễn ảnh chua xót phải ngồi một mình đối bóng ngọn đèn, nàng đã nán lại trò chuyện lâu la với mấy người quen cho đến tối mịt, đợi đến khi mệt lả mới trở về nhà để lên giường ngay. Sáng hôm sau, khi vừa thức dậy, nàng tự hỏi có phải mình đã ước mơ được bỏ lại một mình như thế này chăng? Thế nhưng một khi ra khỏi giường, nàng mới cảm thấy một nỗi buồn như chưa từng có, buồn hơn cả cái thời phải lao đao sinh kế, lúc luôn luôn phải tự hỏi không biết lấy gì làm cái ăn cho ngày hôm nay. Đó là những điều mà nàng đã tóm tắt trong lá thư đầu gửi đến tôi.

Sau đó qua những lá thư kế tiếp , nàng càng tỏ ra thúc bách và trong một bức thư như thế nàng đã viết “Không, không thể được!” biểu lộ tất cả sự âu lo:

“Không, không thể được! Ôi! Bây giờ em mới thấy tình cảm của em đối với anh sâu đậm như thế nào. Nhân anh có lần nói là ở quê nhà anh không còn bà con thân thích nào có thể trông cậy được, nếu như anh tìm ra cách để sinh sống bên này thì có gì ngăn trở việc anh ở lại đâu! Phải không nào? Với tất cả tình yêu em có, em muốn giữ chân anh. Còn như anh thấy không ổn mà muốn hồi hương, mẹ và em cũng có thể theo anh. Có điều là mình đào đâu ra tiền để chi cho chuyến đi mắc mỏ này? Ẹm cứ nghĩ mình sẽ ở lại nhà, nhẫn nại tìm cách sống qua ngày, đợi đến ngày thành công của anh. Vậy mà chỉ mới có một chuyến đi ngắn, nghĩa là 20 hôm từ ngày anh lên đường, em đã khổ tâm vì sự chia lìa và nỗi khổ này ngày ngày càng tăng. Em đã lầm to khi tưởng tượng rằng sự chia ly này chỉ là thử thách nhất thời. Từ giờ trở đi, em không thể nào dấu diếm tâm trạng của em nữa. Chỉ vì lý do ấy thôi, em xin anh đừng bỏ rơi em. Em van anh! Em cãi nhau với mẹ hoài nhưng cuối cùng, bà đành chịu thua khi hiểu rằng, khác với ngày xưa, em không còn dễ bảo nữa. Mẹ cũng nói là trường hợp em theo anh về Nhật thì bà sẽ đến nương tựa mấy người bà con xa có nông trại ở Stettin (36), một vùng quê. Nhân vì, theo lời anh nói trong thư, ngài tổng trưởng đánh giá khả năng anh cao, thế thì anh có thể thu xếp bằng cách nào đó để có đủ món tiền cần thiết cho chuyến đi không? Dù vậy, trong lúc này, em không có cách nào khác hơn là chờ ngày anh trở lại Berlin”.

Ôi! Chỉ khi đọc bức thư này, lần đầu tôi mới hiểu được rõ tình cảnh của mình hiện nay. Tôi hổ thẹn về sự khờ khạo của mình. Trong đáy lòng, tôi từng hãnh diện có thể giải quyết mọi vấn đề liên quan đến chính mình và đến cả những người không liên hệ trực tiếp tới mình nhưng khả năng đó chỉ thao tác được khi hoàn cảnh tỏ ra thuận lợi đối với tôi chứ không phải là trường hợp nghịch cảnh như hiện tại. Giữa khi tôi đang tìm cách soi chiếu quan hệ cá nhân của tôi với một người khác thì tấm kính nội tâm mà tôi tin cậy được như bị phủ lên một lớp sương mù.

Kể từ hồi đó, ông tổng trưởng tỏ ra niềm nở với tôi. Tuy nhiên, như thể bị cận thị, tôi chỉ thấy trong thái độ của ông sự biết ơn đối với một cộng tác viên được việc. Nếu bảo thái độ này có liên hệ gì đến tương lai của tôi hay không, xin Trời Đất biết cho, tôi thực sự không hề nghĩ tới ! Thế nhưng một khi đã ý thức tình thế đó, hỏi tôi còn có thể dửng dưng được nữa không? Mới đầu, khi Aizawa giới thiệu tôi với ông tổng trưởng của mình, tạo được lòng tin nơi ông đối với tôi là một việc quá khó, như thể ở ngoài tầm tay (37). Nay thì tôi nghĩ mình đã có một chút khả năng đạt đến nên mới tự hỏi là vài câu nói có tính cách gợi ý về sự hợp tác giữa anh và tôi khi về nước mà Aizawa thường cho chen vào những cuộc đối thoại gần đây là cố ý thông báo cho tôi một cách chính thức chứ không phải là ao ước riêng tư giữa bạn bè. Sau khi suy nghĩ lại, tôi ngờ rằng anh đã sớm báo cáo lên tổng trưởng ý định muốn chấm dứt cuộc tình duyên của mình với Elise, điều mà tôi lỡ dại hứa trước mặt anh.

Than ôi, lúc đầu khi mới đặt chân lên đất Đức, tôi những tưởng sẽ tìm ra bản lãnh của mình. Tôi đã thề rằng mình không bao giờ trở thành một cỗ máy, nhưng đấy có phải chăng là sự kiêu ngạo của một con chim bị cột chân, chỉ mới được thả ra tạm thời mà vỗ cánh khoe khoang mình đã tìm lại được tự do? Bởi vì tôi sẽ không tài nào cắt được sợi giây trói chân kia ! Trước đây, tôi bị thượng cấp của mình giật giây, thì nay, ôi thôi, sợi giây đó hiện đang nằm trong tay Bá tước Amakata. Khi tôi theo đoàn tùy tùng của Bá tước tổng trưởng về đến Berlin thì đúng ngay buổi sáng ngày mùng một Tết. Sau khi từ giã mọi người ở ngoài nhà ga, tôi đưa địa chỉ của mình cho một anh đánh xe ngựa và giục anh chạy cho nhanh. Cả thành phố lúc đó hãy còn yên ắng vì ở đây người ta thức cả đêm đón giao thừa (Réveillon) và dậy trưa ngày nguyên đán. Trời lạnh gắt, lớp tuyết đọng trên vỉa hè đã biến thành những phiến băng tua tủa gai nhọn, lấp lánh dưới ánh mặt trời. Chiếc xe ngựa quành qua con đường Klosterstrasse và dừng lại ở lối vào khu nhà. Tôi nghe tiếng người mở cửa sổ nhưng từ trong xe, không nhận ra ai. Sau khi nhờ người đánh xe khuân hộ hành lý, tôi dợm lấy thang gác lên phòng thì vừa vặn lúc đó Elise đang tất tả chạy xuống bằng lối đó. Nàng reo lên và nhảy xổ đến ôm chặt lấy tôi khiến cho người đánh xe chứng kiến cảnh ấy, phải tỏ ra ngạc nhiên, lẩm bẩm điều gì trong chòm râu bạc mà tôi không hiểu.

-Anh về rồi đấy hở? Anh về rồi đây này. Nếu anh không về, chắc em chết mất!

Cho đến lúc đó, giấc mộng công danh và tình hoài hương đã chiếm địa vị ưu tiên so với tình cảm luyến ái, nó hãy còn có đó, nhưng vào thời điểm chính xác này, tất cả những tình cảm thiếu quả quyết, phân vân giữa đi và ở của tôi đều đã bị quét sạch: tôi ôm trọn nàng trong vòng tay giữa khi Elise dụi đầu vào vai tôi và ứa những giọt nước mắt vui mừng.

-Tôi phải đưa hành lý của ông lên tầng thứ mấy?

Giọng của người đánh xe đang leo nhanh lên nấc cầu thang nghe như một tiếng cồng đánh thức.

Mẹ của Elise ra đón tôi ở ngưỡng cửa, tôi trao cho bà ít đồng bạc, nhờ bà trả hộ người đánh xe và vội vàng bước vào bên trong với nàng, người đang nắm tay tôi lôi đi. Ngay cái nhìn đầu tiên, tôi đã lấy làm kinh ngạc: cái bàn đầy những tấm vải trắng và đăng-ten cùng màu.

Nàng vui vẻ chỉ tay vào đống đồ, nói:

-Anh coi nè, có biết em đang sửa soạn gì không?

Tôi nhìn xuống vật nàng đương chăng ra và quan sát thì thấy đó là tã lót của trẻ em.

-Anh không thể tưởng tượng em sung sướng đến mức nào! Con chúng mình rồi cũng sẽ có đôi mắt đen. Mắt anh đen mà! Ôi, em đã ước mơ nó có đôi mắt đen như vậy. Khi nó sinh ra, anh sẽ nhận nhiệm vụ làm cha chứ không bắt nó mang một cái tên khác (38), phải không anh?

Nàng cúi đầu rồi ngước mắt lên nhìn tôi, đôi mắt đẫm lệ:

-Anh sẽ cười em là giống như con nít, nhưng tại em quá vui khi nghĩ đến lúc chúng mình đứng ở giữa nhà thờ (39).

Phải đến mấy hôm, tôi đã tránh không lên gặp ngài Bá tước tổng trưởng, viện cớ ông còn đang mệt vì chuyến đi, tôi nằm lỳ ở nhà. Thế nhưng đến một hôm, khoảng xế trưa, có người đưa tin đến trao cho tôi giấy mời đến gặp ông. Khi tôi tới nơi, ông tiếp đãi tôi một cách thân ái. Sau khi cảm ơn tôi đã đem lại thành quả cho chuyến công du sang Nga, ông hỏi tôi có sẵn sàng cùng theo ông về nước hay không. Ông cho biết cá nhân ông không thể đánh giá kiến thức mà tôi thâu thập được sâu rộng đến mức nào nhưng chỉ với tài ngoại ngữ mà thôi, ông cho là đã đủ cho tôi có một chỗ đứng trong chốn quan trường. Nhận thấy rằng tôi từng sống nhiều năm ở Đức, ông e ngại không biết tôi có bị ràng buộc bởi một quan hệ lâu dài nào chưa nhưng đã thở phào khi nghe Aizawa nói là chưa có gì. Tôi hoảng hốt và nghĩ thầm, làm sao mình có thể từ chối một đề nghị ưu ái như thế. Bề ǵ tôi cũng không thể thưa với ông là Aizawa đã báo cáo láo. Ngoài ra, nếu không chụp lấy cơ hội này, tôi sẽ đánh mất tổ quốc của tôi và đóng lại cánh cửa đã mở ra cho phép tôi phục hồi danh dự. Bất chợt, viễn ảnh vùi chôn cuộc đời mình giữa biển người mênh mông của cái đô thị Âu châu vĩ đại này đã đánh tôi đến gục. Ôi, cớ chi lòng tôi lại bất trung bất nghĩa như vậy! Tôi chấp nhận lời mời một cách ngoan ngoãn:

-Xin tuân lệnh Bá tước!

Cho dù lòng lim dạ sắt đi chăng nữa, làm sao tôi có thể nói cho Elise biết quyết định về nước của mình? Tôi đã ra khỏi Khách sạn (Kaiserhof) trong một trạng thái bấn loạn tinh thần không gì sánh được. Hoàn toàn mất định hướng, tôi vừa đi vừa chìm đắm trong suy tư, đến nỗi nhiều khi phải nhảy vội để khỏi bị mấy chiếc xe ngựa chạy ngang đường chẹt, giữa tiếng chửi mắng của người đánh xe. Đi được một đỗi, tôi nhận ra mình đang đứng trước cổng vào Sở Thú. Chân đã mỏi mê, tôi ngã vật lên trên một cái băng. Người sốt hừng hực, tôi tựa đầu vào thành ghế và nghe tiếng mạch máu trong đầu đập mạnh như búa bổ. Tôi ngồi như thế không biết đến bao giờ, dở sống dở chết, đến khi hoàn hồn mới cảm thấy cái lạnh buốt giá thấm sâu vào xương tủy. Màn đêm đã buông xuống cùng với một trận mưa tuyết. Tuyết rơi thật dày và phủ một lớp bằng lóng tay trên vai áo choàng và trên vành nón của tôi. Có lẽ đã quá 11 giờ đêm cũng nên! Những chiếc xe chạy trên đường sắt (tramway) do ngựa kéo từ Mohabit và Karlstrasse phủ đầy những tuyết và chung quanh cánh cổng Brandenbourg, ánh lửa của những ngọn đèn khí đốt ném ra vàng vọt. Tôi cố nhỏm dậy nhưng đôi chân đã cóng nên phải dùng cả hai tay thoa bóp để cuối cùng mới có thể tiếp tục bước.

Vì tôi chỉ bước được một cách khó nhọc, có lẽ đến khoảng nửa đêm mới tới Klosterstrasse. Tôi không biết bằng cách nào mình đã về được đến đây. Đó là một buổi tối đầu tháng giêng nên những tiệm cà phê và hiệu bia trên Unter den Linden lý ra hãy còn lũ lượt khách nhàn du nhưng tôi chẳng còn nhớ lại một hình ảnh nào cả. Trong lương tâm tôi, chỉ có một nỗi ám ảnh duy nhất: mình là phạm nhân đã nhúng tay vào một tội ác không thể tha thứ.

Dưới mái mansarde tầng bốn, chắc Elise hãy còn chưa đi ngủ bởi vì trong khoảng tối đen, tôi còn thấy một đốm lửa hiện ra. Nó lay động theo chiều gió, lúc biến lúc hiện giữa những bông tuyết đang quay cuồng như đàn hạc trắng. Khi bước qua ngạch cửa, tôi mới ý thức được cái rời rã của thân thể mình. Tứ chi của tôi đau nhức làm tôi hầu như phải bò mới lên được tới gác cao. Thế rồi sau khi đã băng qua gian bếp để mở cánh cửa gian buồng bước vào, tôi thấy Elise đang ngồi bên bàn, khâu vá mấy thứ đồ cho con nít. Nàng quay đầu lại và la lớn:

-Ôi chao, có gì xảy ra mà anh trông thiểu não như thế?

Dĩ nhiên nàng phải có cớ để ngạc nhiên. Tướng mạo xanh xao của tôi bấy giờ chẳng khác gì một xác chết biết đi. Cái mũ đã đánh rơi ở đâu không rõ, còn tóc tai thì bù xù bờm xờm. Chắc tôi đã va vào đâu và té lên té xuống nhiều lần nên quần áo rách bươm mấy chỗ và đầy những vết bẩn do bùn tuyết.

Muốn trả lời nàng nhưng cổ tôi không phát ra tiếng. Tôi chỉ nhớ là mình khó khăn lắm mới đứng vững được. Hai đầu gối run bần bật và tôi phải bám vào thành một chiếc ghế để khỏi té xuống sàn.

Phải đên vài tuần sau tôi mới tỉnh người ra. Dưới ảnh hưởng của những cơn sốt dữ dội, tôi thốt ra toàn những câu mê sảng. Bên giường bệnh, Elise tận tụy theo dõi chăm sóc. Một hôm, Aizawa tìm đến thăm tôi và khám phá ra hiện trạng kể cả những điều tôi đã dấu diếm anh cho đến nay. Thế nhưng anh đã thu vén để không báo cáo gì lên Bá tước ngoại trừ tình trạng sức khỏe của tôi. Lần đầu tiên khi lại nhận ra bóng Elise ở bên giường, tôi ngạc nhiên thấy nàng đã thay đổi quá sức. Trong vòng có mấy tuần lễ mà nàng tiều tụy thấy rõ, đôi mắt đỏ hoe, thâm quầng, hai má xạm lại. Trong khi tôi nằm bệnh, nhờ sự giúp đỡ của Aizawa, về vật chất nàng không phải thiếu thốn gì cả nhưng người ân nhân ấy đã giết chết nàng về mặt tinh thần.

Sau đó tôi hay là trong khi trao đổi với Aizawa, nàng mới rõ ra là tôi từng hứa với Aizawa như thế nào và biết là buổi tối hôm ấy, tôi đã chấp nhận lời mời hợp tác của Bá tước ra sao. Lúc đó, nàng đã nhảy dựng khỏi ghế, mặt xám ngoét rồi gào tên tôi: “Toyotarô! Toyotarô! Tại sao anh có thể lừa dối em như vậy?” và ngã lăn tại chỗ.

Aizawa liền gọi bà mẹ đến giúp và cả hai cùng vực nàng lên giường. Được một lúc sau, nàng mới bắt đầu tỉnh lại, hai mắt lạc thần nhìn thẳng trước mặt, không thèm để ý đến ai chung quanh. Thế rồi nàng lại réo tên tôi và buông lời nguyền rũa, vò đầu bứt tóc mình, cắn xé chăn gối và cuối cùng, đưa mắt như tìm kiếm một vật gì mình chợt nhớ ra. Nàng đẩy qua một cách thô bạo tất cả những gì người mẹ trao cho nhưng chỉ khi đem đến mấy tấm tã lót đặt trên mặt bàn thì nàng mới đưa cả hai tay ra vồ lấy và khóc lên nức nở rồi ấp mặt ḿnh vào nó.

Sau lần ấy, nàng không còn làm to chuyện nữa nhưng hầu như đã hoàn toàn mất hết thần hồn và cứ nằm ngay đấy, ngơ ngơ ngác ngác như đứa trẻ sơ sinh. Khi đưa Elise đi khám bệnh thì một y sĩ cho rằng nàng có triệu chứng của người mắc bệnh paranoia (40). Căn bệnh phát ra dữ dội và đột ngột vì nàng đã bị một chấn động cực mạnh về mặt tâm lý, do đó không còn chút nào hy vọng chữa lành. Người ta khuyên nên đưa nàng vào bệnh viện tâm thần ở Dalldorf (41) để điều dưỡng nhưng nàng tuyệt nhiên không nghe, rồi kể từ đó, cứ nằm y nguyên với tấm tã lót áp sát vào ngực. Nàng không ngừng cầm nó lên ngắm nghía, ngắm rồi lại khóc, khóc rồi lại ngắm.Tuy nàng không ở xa giường bệnh của tôi là bao nhiêu nhưng không có chút ý thức nào về hiện trạng của tôi. Chỉ đôi khi, như lấy lại được thần hồn, nàng mới kêu lên:

-Thuốc đâu? Mang thuốc tới đi!

Rốt cuộc tôi đã hoàn toàn phục sức. Ôi, biết bao lần vừa nhỏ những giọt lệ đắng, tôi đã ôm trong vòng tay mình cái xác như thể không hồn của Elise! Đến giờ tháp tùng Bá tước tổng trưởng trở lại miền Viễn Đông đã điểm, sau khi bàn bạc với Aizawa, tôi gửi lại bà mẹ của Elise một món tiền đủ giúp cuộc sống của nàng khỏi phải túng quẫn và lo được cho ngày sinh nở của cái bào thai mà tôi đã để lại trong bụng cô gái điên dại này.

Ôi! Thật khó tìm ra được trên thế gian này một người bạn nào tình nghĩa như Aizawa Kenkichi nhưng dù sao, ngày nay mỗi khi nghĩ về anh, trong đáy lòng tôi, vẫn còn có chỗ cho một tình cảm căm hờn.

Tháng giêng năm thứ 23 đời Meiji (1890)

M.O.

Dịch xong tại Tokyo ngày 25 tháng 7 năm 2017

N.N.T.

Chú thích:

(1) Măng-xông (mancheon): đèn dầu có bấc vải hình cái túi treo, phải bơm hơi mới lên dầu. Cho ánh sáng trắng. Từng lưu hành ở các thành thị Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Tiếng Nhật gọi là hakunetsu dentô (bạch nhiệt điện đăng).

(2) Nil adminari: Chữ gốc tiếng La Tinh. Có nghĩa là thái độ bình tĩnh đến lạnh lùng, không bị chi phối bởi những biến chuyển ngoại giới.

(3) Brindisi: thành phố cảng Đông Bắc nước Ý, nhìn ra biển Adriatic..

(4) Trường Phiên; trường do các lãnh chúa mở để dạy cho con em trong lãnh địa trước thời Duy Tân.

(5) Khoa Luật: Khoa Luật của Đại học Tokyo. Mori vào đây sau khi tốt nghiệp Trường Dự Bị Đại Học tức phân khoa dạy về kiến thức tổng quát của Đại học Tokyo

(6) Unter den Linden (Dưới rặng bồ đề, Bodaijuka): tên một đại lộ rộng 60m và dài 1, 3 km ở trung tâm thủ đô Berlin, có chia làm 4 lằn cho người đi xe và người đi bộ. Linden có nghĩa là “Cây bồ đề” vì đó là giống cây được trồng ở ven đường.

(7) Wilhelm I: vua nước Phổ (1797-1888) Sau trở thành hoàng đế đầu tiên của nước Đức thống nhất.

(8) Cổng chào Brandenbourg: Nguyên văn: Brandenburger Tor. Cánh cổng đồ sộ với nhiều cây cột hình viên trụ, nằm ở phía tây Under den Linden. Nơi đây tỏa ra năm con đường lớn. Thắng cảnh của Berlin.

(9) Tháp Khải Hoàn: Ngôi tháp nằm phía Tây Bắc Brandenbourg. Kỷ niệm hai thắng lợi của quân Phổ trước quân Pháp và trước quân Áo, đưa đến thống nhất nước Đức. Cao 60m, trên đỉnh có đặt tượng Nữ thần Chiến Thắng mạ vàng.

(10) Phổ (Prussia): một quốc gia trong Liên Bang Đức và là động cơ chính xúc tiến công cuộc thống nhất nước Đức. Vì thế ngày đó, ở Nhật, có khi người ta hãy còn gọi nước Đức là nước Phổ.

(11) Cây mắc cỡ: tạm dịch “nemunoki” tức hợp hoan mộc hay cây lụa (silk tree), một loài cây ra hoa đẹp như hoa phượng nhưng lá hay xếp cánh khi bị chạm tới.

(12) Lebemann: lớp thanh niên phóng đãng.

(13) Sở Thú: ám chỉ công viên Tiergarten nằm cạnh Cổng Brandenbourg. Có rừng cây xanh, nơi dạo chơi của dân cư thành phố.

(14) Nhà thờ cổ này có lẽ một trong những ngôi giáo đường như Kloster Kirche, Marien Kirche nằm trong khu vực dọc theo bờ sông. Kloster Kirche chẳng hạn là một tu viện cổ, kiến trúc gô-tích (gothique) rất nổi tiếng, xây lên từ thế kỷ 13 và được trùng tu nhiều lần từ đó.

(15) Mansarde: Từ tiếng Pháp dùng để chỉ ăn phòng nhỏ vì nấp dưới mái nên trần thấp và bị cắt xéo. Nói chung người phải ở mansarde là người nghèo.

(16) Nhà hát Viktoria: Viktoria Theater, một nhà hát hạng xoàng ở phía nam Berlin.

(17) Arthur Schopenhauer (1788-1860), triết gia người Đức. Chủ trương yếm thế, xem con người sinh ra là đã khổ vì không thể sống theo ý muốn.

(18) Friedrich von Schiller (1759-1805); thi nhân danh tiếng ngang ngửa với Goethe. Còn là kịch tác gia.

(19) Trong sáng: tình yêu ngây thơ không (chưa) xen lẫn tình dục.

(20) Friedrich Wilhelm Hacklander (1816-1877), thi nhân người Đức, hay viết tiểu thuyết về đời lính và tiểu thuyết hài hước. Ngày nay đã bị đời quên lãng nhưng vào thời ấy, ông khá nổi tiếng. Mori Ôgai đã dịch 2 tác phẩm của ông là Zwei Nachte và Funfter Windstoss, cho dăng lên tạp chí Shiragami-zôshi do mình chủ trương, vào khoảng năm 1890-91.

(21) Colportage: Từ tiếng Pháp để chỉ người bán dạo. Ý nói văn chương để mua vui chứ không có chất lượng.

(22) Aizawa Kenkichi: nhân vật lấy theo mẫu Kako Tsurudo, một người bạn chí thân của Ôgai trong đời thường.

(23) Bá tước Amakata: nhân vật dựa trên hình ảnh của Yamagata Aritomo (1838-1922), nhà chính trị trên thực chất rất có thế lực trong chính phủ và quân đội vào cuối thời Meiji.

(24) Heinrich Heine (1797-1856) và Ludwwig Borne (1786-1838), cả hai đều là những nhà thơ nhà báo đã tham gia cuộc vận động về tự do báo chí. Để khỏi bị sự đàn áp của cảnh sát, cả hai đều chọn đất Pháp làm cứ điểm đấu tranh chống độc tài nhưng trong khi Borne nghị luận chính trị thì Heine làm thơ trữ tình và viết văn trào phúng.

(25) Friedrich III (1831-1888) chỉ làm vua được có 3 tháng thì mất.

(26) Hoàng đế Wilhelm II (1859-1941), cháu nội của Wilhelm I và con trai của Friedrich III. Ông là người đã vũ trang nước Đức và đưa quốc gia này vào cuộc Thế Chiến thứ nhất, vì thua trận và phải thoái vị, sau đó sống lưu vong ở Hà Lan. Ở Nhật người ta thường gọi suông là Kaiser.

(27) Otto Eduard Leopold von Bismarck (1815-1898), chính trị gia đã giúp Wilhelm I thống nhất nước Đức. Sau này vì đối lập với đường lối của Wilhelm II phải về hưu năm 1890.

(28) Gehrock: Áo vét dài tới đầu gối có đơm hai hàng cúc. Tiếng Anh là Frock Coat.

(29) Droschke: Xe độc mã dùng như tắc xi thời xưa.

(30) Kaiserhof: Khách sạn thuộc hạng cao cấp nhất ở Berlin ngày đó. Cách Cổng Brandenbourg khoảng 600m về phía nam.

(31) Gotha: Thành phố vùng Thuringen, tây nam Berlin.Đây là nơi xuất bản từ điển danh nhân (một loại Almanach) chép tất cả tên tuổi các quí tộc nổi tiếng của triều đình các nước nên sau này chữ Gotha được dùng để chỉ những người có chức phận cao, lớp kem của xã hội.

(32) Saint Peterbourg (Peterburg): thành phố được xem như là kinh đô của Đế chế các Sa hoàng, Sau Cách mạng tháng 10, đổi tên thành Leningrad nhưng nay lại được phục hồi tên cũ.

(33) Epaulettes: Tiếng Pháp. Cầu vai trang trí lễ phục các sĩ quan trong quân đội.

(34) Kamine: Tiếng Đức. Lò sưởi đặt sát vào tường.

(35) Đương thời, tiếng Pháp được thông dụng trong giới quí tộc Âu châu.

(36) Stettin: Ngoại ô Berlin, có nhà ga cùng tên.

(37) Ngoài tầm tay: thực ra là một thành ngữ Nhật Bản ý nói khó khăn “như đi bắt con chim trên mái nhà”.

(38) Ý nói thừa nhận con.

(39) Ý nói làm phép rửa tội theo đạo Ki-tô.

(40) Paranoia : Trạng thái bệnh lý thiên chấp vì định kiến, bị ảm ảnh không rời về một điều gì.

(41) Dalldorf: Khu vực cách Berlin khoảng 10km về phía bắc, nơi có bệnh viện tâm thần.

Hậu Tựa:

TÌNH SỬ TOYOTARÔ VÀ ELISE

Bản dịch Maihime sang tiếng Tây Ban Nha

Nàng vũ công (Maihime, 1890) được xem như truyện ngắn đầu tay của Mori Ôgai (1862-1922), lúc ấy vừa du học ở Đức về. Đây là hồi ức được tiểu thuyết hóa của một sinh viên thời Minh Trị (1868-1912), phảng phất hình ảnh của chính tác giả. Nó nằm trong dòng văn học tiểu thuyết nói về cái tôi mà người Đức gọi là Ich-Roman. Nhân vì có tính giáo dục nên lại được gọi là Bildungroman. Qua một câu chuyện tình giữa Toyotarô và Elise , ta thấy được tư duy và tình cảm của một sinh viên Á châu thế kỷ 19 khi tiếp xúc lần đầu với thế giới Tây phương.

Trong các Ich-Roman, độc giả khó lòng biết những điều tác giả viết ra có phải là tình cảm, ấn tượng hay phản ứng của chính ông không. Maihime là một truyện ngắn “kiểu mẫu” của Ôgai mà phương pháp hành văn này được biểu lộ một cách rõ rệt nhất. Còn như nói về tính chất Bildungroman thì ta có thể xếp thêm vào loại này các tác phẩm khác của ông như Vita Sexualis (Thức tình, 1909), Seinen (Gã thanh niên, 1910-11), Gan (Ngỗng trời, 1911-15).

Để hiểu câu chuyện tình xảy ra giữa chàng du học sinh Ôta Toyotarô và nàng ba-lê-ri-na Elise Weigert trong bối cảnh của thành phố Berlin cuối thế kỷ 19, thiết tưởng cũng nên biết đôi chút về chuyến hành trình sang Tây phương của Mori Ôgai (1884-88), tác giả và cũng có thể là nhân vật chính trong câu chuyện.

Sau chuyến viễn dương, trung úy Mori Rintarô tức nhà văn tương lai Mori Ôgai đã đến cảng Marseille rồi lấy xe lửa, ghé ngang Paris và đặt chân tới Berlin vào ngày 11 tháng 10 năm 1884. Ông ở lại thành phố này ít hôm để tổ chức việc học với tòa lãnh sự và các giới chức Phổ. Sau đó, ông đã được gửi đến Leipzig theo học ở đại học, cũng như làm phụ tá và quan sát viên tại những cuộc thao diễn của quân đội vùng Saxe. Mùa thu 1885, ông được phép đến sống ở Dresden để có thể làm việc chung với tướng Roth, viên chỉ huy hệ thống quân y trong vùng. Trong khoảng 5 tháng trời, ông đã theo học, đồng thời giao du với xã hội thượng lưu và giới tướng lãnh vùng Saxe. Với trình độ Đức ngữ, sự tự tin và chức phận của mình (lúc đó ông đã được vinh thăng Đại úy) Mori đã tỏ ra rất thoải mái trong môi trường sinh viên học bổng trẻ ở Âu châu. Tháng 3 năm 1886, ông đến Munchen để học tập dưới sự chỉ đạo của Max von Pettenkofer, người tiên khu trong ngành Dịch tễ học thực nghiệm. Lần di chuyển này đã giúp ông khám phá ra một thế giới mới, thế giới của những nhà nghệ sĩ Nhật Bản làm việc trong những xưởng vẽ và các viện nghiên cứu. Năm 1887, ông được điều động về Berlin, nơi đây, đầu tiên ông đến thụ giáo ở một viện nghiên cứu mà Robert Koch – nhà bác học đã khám phá vi trùng lao - là viện trưởng, nhưng nói chung, đời sống thủ đô nước Đức không thú vị bằng ở các nhiệm sở trước. Một phần vì các bạn đồng hương của ông sống với não trạng quan liêu của những ông công chức đi công cán. Khác với các bạn nghệ sĩ của Ôgai ở Munchen, những người này không chú ý đến văn hóa của đất nước mà họ được gửi tới. Mặt khác, một khoảng thời gian dài trên đất Đức, ông luôn luôn bị quấy rầy bởi người thượng cấp trực tiếp đang trên đường công du, bắt ông cứ phải đi theo thông ngôn. Mori đã rời hẳn Berlin ngày 3 tháng 7 năm 1888. Ông thăm vội thăm vàng hai nước Anh và Pháp trước khi lấy tàu về Yokohama, nơi ông ghé bến vào ngày 8 tháng 9.

Ông bắt đầu sinh hoạt văn nghệ bằng cách dịch thơ Anh thơ Đức để đăng trong tuyển tập mang tên Omokage (Vang bóng / Hồi tưởng). Sau đó là một số bài dịch chủ yếu đăng trên Tạp chí Shiragami Zôshi (Bờ giậu / Rào chắn) mà ông lập ra vào tháng 10 năm 1899. Ôgai đã bắt đầu tiếp xúc với lãnh vực truyện ngắn bằng cách cho ra đời 3 truyện ngắn: Maihime (Nàng vũ công, tháng 1/1890), Utakata no ki (Ghi chép vụn vặt, tháng 8/1890) và Fumizukai (Người đưa thư, tháng 1/1891), cả ba được gọi là tam-bộ-tác (trilogy) trữ tình về nước Đức mà bối cảnh của nó là lớp người ông quen biết. Tam-bộ-tác này kết hợp nhuần nhuyễn với nhau để miêu tả cuộc đời và làm sống dậy không khí 3 vùng đất mà tác giả đã có dịp sống. Giới quí tộc Saxe đã được nhắc đến trong Fumizukai. Cuộc sống lang thang trong những quán cà phê Munchen được kể lại trong Utakata no ki. Cuối cùng là thành phố Berlin của Maihime với cô con gái múa ba-lê.

Có thể coi Maihime như tác phẩm quan trọng hơn cả trong tam-bộ-tác nói về nước Đức và là tác phẩm được bàn cãi nhiều nhất. Không phải vì tính cách “hương xa” (exotic) của nó qua tình sử của một chàng trai Nhật với cô gái Đức được kể lại nhưng là vì tính “tự thú” (confession) của nhân vật chính mà biết đâu cũng là của nhà văn.

Chỉ có vài đoạn thấy trong Doitsu Nikki (Nhật ký thời ở Đức) có nói đến chuyện đời tư của Ôgai nhưng văn bản chỉ được in ra khoảng 15 năm sau khi ông mất và mọi chi tiết về cuộc tình có thể xảy ra trên đất Đức đã bị tẩy xóa một cách vô tình hay cố ý. Trong đó, người ta chỉ thấy chép một chi tiết gần xa đến câu chuyện là vài tuần lễ sau khi Ôgai về nước, đã có một Fraulein (tiểu thơ) vốn thân thiết với ông, đã đến Tokyo để theo chân. Vì muốn bảo vệ người trưởng nam của dòng họ, thân nhân đã cử cậu em rể của ông ra thương thuyết, và ít nhất, như lời Mori Ôgai thuật lại thì công việc đã tiến hành suôn sẻ. Thiếu nữ người Đức đáp tàu về nước vào khoảng giữa tháng 10.

Vì có một cuộc tranh luận xảy ra trên văn đàn chung quanh tính luân lý và hư thực của tác phẩm do nhà văn Ishibashi Ningetsu (1865-1926) xướng xuất, lôi cả Ôgai vào một cuộc bút chiến, đến năm 1981, nhà nghiên cứu Nakagawa Kôichi đã cất công tìm tòi danh tính của thiếu nữ. Theo ông, Elise chính là Elise Marie Caroline Wiegert (1866-1953), người mà tên tuổi đã được ghi trên cuốn danh bạ hành khách đáp tàu General Wielder cập bến Yokohama ngày 12 tháng 9 năm 1888 (ngày giờ hơi khác với nội dung của Doitsu Nikki) và trở về Đức này 17 tháng 10 cùng năm. Người con gái này sau có sống một thời gian bằng nghề làm nón ở Berlin. Cô sinh ở Stettin, địa danh đã được Ôgai nhắc tới trong Maihime như nơi mẹ cô có mấy người bà con xa. Năm 2011, một nhà nghiên cứu khác, Nagasaki Kazunori đã xác nhận việc bố mẹ Elise là thợ may và còn đưa thêm nhiều giả thuyết như Elise có thể gốc Do Thái và ngôi nhà thờ nơi Toyotarô và nàng gặp nhau lần đầu tiên phải chăng là giáo đường Garnison ở Berlin.

Thực ra, ai là người đàn bà này? Danh tính của cô đến nay vẫn chưa được tất cả giới nghiên cứu đồng thanh chấp nhận nhưng thật khó lòng tưởng tượng rằng cô gái đó là nàng Elise trong câu chuyện, người đã bị Toyotarô nhẫn tâm phụ bạc khi đang đợi ngày sinh nở và cuối cùng đã hóa điên! Người ta chỉ có thể “nhận diện” được số nhân vật khác trong đoản thiên.Tổng trưởng Yamagata Aritomo (1838-1922) – nhà chính trị lừng lẫy của Nhật Bản cận đại trong đời thường - được hư cấu để trở thành Bá tước Amakata? Anh bạn đồng song Aizawa Kenkichi tốt bụng phải chăng Kako Tsurudo, còn thượng cấp trực tiếp khó thương của Toyotarô chắc không ai khác hơn Tổng thanh tra ngành quân y Ishiguro Tadanori. Riêng về vai chính Toyotarô thì rõ ràng tính tình và hành trạng có nhiều điểm tương đồng với quá khứ của tác giả như học giỏi, đỗ cao, sinh viên ưu tú ra trường sớm với số tuổi trẻ kỷ lục (19 tuổi) của Đại học Tokyo. Người ta cũng thấy hình ảnh của Ôgai thông qua nhận xét của Toyotarô về thành phố Berlin, những cuộc đụng độ của anh chàng với nhóm sinh viên học bổng đồng hương cũng như những mắc míu với thượng cấp trực tiếp. Thế nhưng bao nhiêu lý do đó vẫn chưa giúp chúng ta quyết đoán được Ôta Toyotarô với Mori Rintarô chính là cùng một người. Phải rồi, cảnh nghèo của Toyotarô không thể nào là hoàn cảnh của Mori Rintarô, một sĩ quan có đồng lương khá cao của quân đội Nhật. Khó lòng chấp nhận là Đại úy Mori đã sống bằng tình yêu và nước lã trong một căn mansarde nằm sát mái nhà. Còn phải nói thêm rằng việc đồng hương sàm báng và bị gọi về nước vì hết tiền ăn là hai chi tiết liên quan đến cuộc đời một sinh viên tự túc ở Đức lúc đó, Takeshima Tsutomu (1863-1890). Ông này đã chết vì bệnh lao ở Dresden ở tuổi 27 khoảng 4 tháng trước khi Mori Ôgai cho Maihime ra mắt.

Ich-Roman (Shi-shôsetsu, Watakushi-shôsetsu) không phải là một tờ cung cảnh sát hay bản khai lý lịch. Nó vẫn có chỗ dành cho hư cấu. Vì thế, nội dung Maihime hư hay thực, thiết tưởng chẳng phương hại gì đến việc độc giả thưởng thức tác phẩm. Cái quan trọng là Ôgai đã dàn trải tâm tình trên mặt giấy, cho dù lời “tự thú” ấy có thể không hoàn toàn trung thực và c̣n mang tính cách bào chữa cho hành động của “nhân vật”.

Mặt khác, các nhà phê bình như dịch giả người Pháp Jean-Jacques Tschudin đã nhận ra rằng để viết đoản thiên trữ tình Maihime này, Mori Ôgai có thể đã chịu ảnh hưởng thể loại Novellen (đoản thiên) của một chủ nghĩa lãng mạn Đức cuối mùa. Chính Ôgai cũng từng tuyên bố, Maihime là biến thể của một Tagebuch Lyrick (Nhật ký tâm tư) và là một Ich-Roman mà nhân vật chính thổ lộ với danh xưng ngôi thứ nhất (Tôi, Yo).

Về nội dung, có hai chi tiết đáng lưu ý. Tuy câu chuyện xảy ra ở Đức nhưng lại có mô-típ người đàn ông Nhật đến cứu vớt một cô gái da trắng qua hình ảnh Toyotarô ra tay nghĩa hiệp giúp đỡ Elise lúc đó không có tiền chôn cất cha. Mô-típ này đã được Ôgai dùng một lần trước trong Utakata no ki khi cho nhân vật chính nhanh chân chạy đến bênh vực một cô gái bán hoa đổng thảo (violet) bị người khác bắt nạt. Nó vẽ nên hình ảnh cao đẹp một “người hùng Á Đông” và biểu lộ được lòng tự tin của một nước Nhật từ đây đã dám chen vai thích cánh với thế giới. Mô-típ thứ hai thuần Nhật Bản hơn. Đó là sự xâu xé giữa giri (nghĩa lý / nhiệm vụ) và ninjô (nhân tình / tình cảm con người) như từng được thấy nhiều lần trong các vở tuồng kabuki trên sân khấu Edo. Toyotarô rất khổ tâm khi đứng trước ngã ba đường, anh không biết phải chọn lựa giữa về hay ở, tình yêu hay sứ mạng. Cuối cùng, người con trai đó đã thất bại, niềm ao ước sống đời tự do của một trí thức trẻ đã bị chèn nát dưới sức nghiến của thể chế quyền lực thời Minh Trị.

Được quốc dân Nhật Bản yêu chuộng như tác phẩm kinh điển, một cột mốc trong ḍng văn học nhật kư và tùy bút của họ tự thời Heian (794-1192), từ năm 1890 đến nay, Maihime đã được đem vào giáo trình khoa quốc văn, nhiều lần phóng tác thành phim hoạt họa và phim truyền hình, nhạc kịch trình diễn bởi đoàn ca vũ kịch thuần nữ Takurazuka, kể cả phim cho màn ảnh lớn. Nổi tiếng hơn cả có lẽ là Die Tanzerin (Nàng vũ công, 1988), công trình hợp tác Đức Nhật của đạo diễn Shinoda Masahiro do Gô Hiromi (Nhật, vai Toyotarô) và Lisa Wolf (Đức, vai Elise) chủ diễn.

Ngoài tính độc đáo của đề tài và nội dung câu chuyện, các nhà phê bình thường đồng ý với nhau về sự thanh nhã trong bút pháp của Mori Ôgai khi đem so sánh ông với những cây bút khác của văn đàn đương thời, lúc đó hầu như có khuynh hướng viết theo văn nói và dĩ nhiên hãy còn lắm vụng về. Văn chương Maihime thật ra hơi khó hiểu với độc giả hiện đại. Phải mường tượng tiếng Nhật trong Maihime như văn quốc ngữ cổ phong hồi mới lưu hành ở Việt Nam (thời các cụ Hoàng Ngọc Phách, Phan Kế Bính ngoài Bắc, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh trong Nam), vốn còn chêm nhiều chữ Hán Việt, ngân nga và đối xứng như văn biền ngẫu, thì mới có thể đánh giá được một cách trung thực văn phong Ôgai. Đây là một lối hành văn hỗn hợp giữa Wabun (Hòa văn hay cổ điển Nhật Bản) và từ cú hoa lệ của Kanshi (Hán thi) mà ông cố ý sử dụng vì nghĩ rằng chỉ với cách đó, nhà văn Nhật Bản mới diễn đạt được đầy đủ lối thuật sự kiểu Tây phương.

NNT

Tư liệu tham khảo

1) Mori Ôgai, 1998, Maihime trong 1998, Tuyển tập “Mori Ôgai no Hon: Maihime, Gan, Abe ichizoku, Sanshô Dayu, Gendai Bungakukan”, Nxb Bungei Shunjuu, Tokyo. Nguyên tác Nhật ngữ.

2) Mori Ôgai, 1980, La Danseuse, Jean-Jacques Tschudin dịch Maihime sang Pháp văn, Editions du Rocher, Paris. Bản tham chiếu.

3) Hình ảnh và tư liệu Internet.

 

 

 

 

 

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com