|
|
XÁC ƯỚP (Miira, 1942)
Nguyên tác: Nakajima Atsushi Dịch: Nguyễn Nam Trân
Chuyện xảy ra vào thời vua Kanbyuses nước Ba Tư (Persia), con trai giữa ngài Kyros vĩ đại[1] ( người sáng lập triều Achaemeness (550 TCN-330) ) và vương hậu Cassandane, khi ông đang xâm lăng Ai Cập. Lúc đó dưới trướng có một vị tướng tên gọi Pariscas. H́nh như tổ phụ của ông này là người đến từ vùng Bactria[2] ở phương Đông từ lâu lắm rồi. Dù vậy, Pariscas vẫn là một kẻ quê kệch, mặt mũi lầm ĺ, chưa từng quen với nếp sống chốn kinh đô. Lúc nào ông cũng có vẻ như đang trầm tư mặc tưởng và cũng v́ lư do đó mà dù đă đạt đến một địa vị cao sang, ông tướng ấy vẫn là đích nhắm cho mọi người buông lời chế diễu. Lúc quân Ba Tư vượt khỏi bán đảo Ả Rập và sắp sửa vào đất Ai Cập, bỗng dưng các tướng đồng liêu và bộ hạ của Pariscas bắt đầu để ư đến những biến chuyển lạ lùng trong thái độ của ông. Chẳng hạn như ông đă đưa mắt nh́n cảnh vật chung quanh với vẻ kinh ngạc, không hiểu v́ lư do ǵ mà ḷng ḿnh lại bồn chồn và lo âu đến mức độ ấy. Làm như ông đang moi óc để nhớ lại một điều ǵ nhưng không tài nào nhớ ra. Sự bứt rứt ấy thể hiện ra nơi ông hết sức rơ ràng. Khi bọn tù binh Ai Cập được đưa vào doanh trại, nhiều câu nói của một kẻ trong đám đó đă lọt vào lỗ tai ông. Ông ngẩn ngơ một lúc rồi mới nhận ra rằng dường như ḿnh vừa hiểu được nội dung kẻ ấy đang nói là ǵ và đă tiết lộ điều đó cho những người thân cận biết. Tuy ông không thể nói thứ tiếng đó nhưng lại có thể hiểu không ít thời nhiều những lời họ phát biểu. Pariscas bèn ra lệnh cho thủ hạ t́m hiểu xem những tù binh đó là dân Ai Cập hay là giống dân nào khác bởi v́ trong đám quân Ai Cập bị bắt cầm tù, c̣n có một số lớn là lính đánh thuê đến từ Hy Lạp và những vùng đất khác. Thế rồi Pariscas lại thừ người suy nghĩ. Bởi v́ trên thực tế th́ cho đến nay, ông chưa hề đặt chân lên đất Ai Cập và cũng chưa từng tiếp xúc với bất cứ một người Ai Cập nào. Giữa khi chiến tranh đang diễn ra ác liệt, thế mà Pariscas vẫn không thoát ra khỏi trạng thái suy nghĩ mông lung. Đến khi quân Ba Tư đuổi dồn đám bại binh Ai Cập tận chân những bức tường trắng của thành Memphis, thái độ vừa hưng phấn vừa u uất của Pariscas càng lộ ra rơ nét. Đôi khi người ta c̣n chứng kiến những triệu chứng co giật của một người sắp lên cơn động kinh. Đám đồng liêu từ trước đến giờ vẫn hay cười cợt, chế diễu nay đă cảm thấy nơi ông đang có cái ǵ kỳ quái và đáng quan ngại. Nhất là khi họ nh́n thấy cảnh Pariscas đứng dưới một cái “tháp bút” (Obelisk) dựng lên ở vùng ngoại ô Memphis chăm chú và lẩm nhẩm đọc những văn tự được chạm khắc như tranh vẽ trên đó. Thế rồi ông c̣n hạ giọng kể cho các tướng nghe tên tuổi và công lao sự nghiệp của nhà vua từng dựng lên cái “tháp bút” nầy. Các vị tướng đồng liêu của ông nghe thế không khỏi đưa mắt nh́n nhau để bày tỏ sự ngạc nhiên. Ngay nét mặt của Pariscas lúc đó cũng biểu lộ một thái độ như ngờ vực đối với cả chính ḿnh. Bởi v́ cho đến nay, không một ai (kể cả bản thân Pariscas) không hề hay biết rằng ông có thể thông hiểu lịch sử Ai Cập cũng như đọc được văn tự Ai Cập như thế. Kể từ lúc đó, nhà vua Kanbyuses tức vị quân chủ của Pariscas bắt đầu lộ ra những triệu chứng của sự điên loạn. Ông đă buộc vua Pusamenitos của Ai Cập phải uống máu ḅ và sau đó lại sát hại ông ta. Nào đă có thế, ông c̣n có ư định quật mồ Amesis, tiên vương đă mất, để lăng nhục thi thể. Chẳng qua v́ Kanbyuses có nuôi một mối hận ḷng đối với Amesis (v́ một sự kiện tráo hôn, NNT).Do đó mà ông đă thân chinh dẫn một đạo quân tiến đánh thành phố Sais[3]. Khi đến được Sais rồi, ông bèn cho t́m lăng mộ của Amesis và quật mồ ông này lên và hạ lệnh cho tất cả phải t́m cho được cái thi thể đó và đem đến trước mặt ḿnh. Làm như đă dự đoán cái ngày này sẽ xảy ra, ngôi mộ của vua Amesis đă được người Ai Cập ngụy trang rất khéo léo nên khó t́m ra. Quân đội Ba Tư đă phải lùng sục bên trong lẫn bên ngoài thành phố Sais và đào bới từng cái một vô số ngôi mộ để kiểm tra. Tướng Pariscas nhân đó cũng được chỉ định tham gia vào công việc đi t́m mộ này. Trong khi khai quật phần mộ của giới quí tộc Ai Cập, bọn lính Ba Tư đă mải mê vồ lấy ngọc ngà châu báu, mấy món đồ trang sức thân thể cũng như vật dụng tùy táng.. Chỉ có Pariscas là không thèm để mắt đến những thứ đó, với khuôn mặt lầm ĺ, u uất, ông vẫn tiếp tục đi loanh quanh, ḍ xét hết ngôi mộ này đến ngôi mộ khác. Dù đôi lúc gương mặt nặng nề, u ám ấy có sáng sủa ra một chút như thể vừa có một tia nắng mặt trời xuyên qua đám mây che nhưng nó đă vội tắt ngay để trở về với bản mặt âm u nhưng bồn chồn như cũ. H́nh như ông không biết cách nào để giải tỏa mối u ẩn đang giăng mắc dù có lần ông ngỡ là ḿnh đă t́m ra. Sau khi cuộc điều tra kéo dài được vài hôm th́ đến một buổi chiều kia, Pariscas một ḿnh đă chui được vào bên trong một ngôi mộ nom rất xưa cũ nằm ở dưới ḷng đất. Lúc đó, ông không hiểu đây có phải là một ngôi mộ mà các bạn đồng liêu và thủ hạ của ông đă bỏ sót, cũng không định được vị trí chính xác của nó so với thành phố. Chỉ biết là lúc đó ông chợt ra khỏi trạng thái đầu óc mông lung để chỉ nhận ra mỗi một điều là ḿnh đang đứng trong gian mộ cổ tối tù mù và ngoài ông ra, không có bóng ai khác. Dần dần khi mắt đă quen nh́n trong tối, Pariscas mới nhận ra chung quanh ông đang bày ra vương văi những pho tượng được chạm trổ, những khí cụ đủ loại, c̣n tường th́ vô số những phù điêu cũng như bích họa đang hiện ra trước mắt. Cái áo quan đă bật cả nắp và bên cạnh đó là hai ba cái đầu h́nh nhân bằng đất nung nằm lăn lóc. Chỉ nh́n thôi, ông đă hiểu ngay rằng ngôi mộ này đă bị một nhóm quân Ba Tư nào đó vào lấy hết đồ quí giá đem đi rồi. Mùi bụi bặm và ẩm mốc thốc lên mũi ông. Từ trong góc tối, những bức tượng thần đặt thẳng đứng với vẻ mặt nghiêm khắc và bao nhiêu cái đầu chim ưng của họ đang nh́n về phía ông như ḍ xét. Trên bức bích họa gần bên là một dăy những bức tượng thần với đầu dă thú như lang sói, cá sấu và c̣ xám trông kỳ quái và câm nín. Ngoài chúng ra c̣n có một pho tượng thần khổng lồ nhưng không đầu và cũng chẳng có thân ḿnh, duy độc mỗi con mắt. Nó đang duỗi mấy cái tay chân dài thườn thượt và đứng chung với dăy tượng đằng trước. Paiscass tiến vào sâu bên trong nhưng ông bước thẩn thờ như một người không ư thức. Được năm sau bước, ông đă vấp phải một cái ǵ đấy. Nh́n lại ông mới nhận ra đó là một xác ướp (miira) đang nằm lăn lóc dưới chân. Như một cái máy, ông cúi xuống đưa tay ôm và dựng đứng nó lên trên một cái đài đặt tượng. Nó chỉ là một trong những cái xác ướp b́nh thường mà mấy hôm rày, ông đă nh́n đến phát ngấy! Ông định cứ như thế mà đi lướt qua nhưng chợt đưa mắt nh́n khuôn mặt của cái xác ướp ấy. Th́ ngay lúc đó, bỗng có một luồng khí lạnh như chạy suốt sống lưng ông. Mắt ông không thể nào rời khỏi tia nh́n của của xác ướp ấy nữa. Ông thấy ḿnh tựa hồ bị một thỏi nam châm hút lấy.Thân thể ông cứng nhắc, không sao động đậy và đôi mắt chỉ biết nh́n đăm đăm vào khuôn mặt đó. Ông không biết ḿnh đă ở trong một trạng thái như vậy cho đến khi nào.. Lúc ấy, Pariscas thấy trong người ḿnh có một biến chuyển hết sức dị thường đang xảy ra.H́nh như tất cả những nguyên tố ấu thành con người ông đang chuyển động ở bên dưới làn da và làm sủi lên những bọt bong bóng (giống như những ǵ mà các nhà nghiên cứu hóa học đời sau đă nh́n thấy trong ống nghiệm). Những bọt bong bóng đó như sôi sục dưới sức nóng của lửa nhưng sau khi bốc hơi lại trở về với trạng thái tĩnh lặng ban đầu. Thế nhưng, có thể nói là lúc đó chúng đă hoàn toàn mất đi tính chất cố hữu. Viên tướng cảm thấy người ḿnh thoải mái trở lại. Sau khi đă hoàn hồn, ông mới nhận ra những điều ông không ông không hề ư thức kể từ ngày đặt chân lên đất Ai Cập sao lại giống như t́nh trạng một người sáng ra muốn nhớ lại những ǵ ḿnh đă thấy trong giấc mơ đêm hôm trước nhưng không tài nào làm được. Th́ nay mọi sự đă trở nên rơ ràng. Ừ nhỉ. Chẳng lẽ lại thế ư ! Bất giác Pariscas bật lên thành tiếng: “Ôi chao. Ngày xưa ta chính là cái xác ướp này đây!” Lúc viên tướng vừa mở mồm thốt lên câu đó, ông có cảm tưởng cái xác ướp đă làm chuyển động tâm lư ông để nó phát ra trên bờ môi. Phải chăng đang có một luồng ánh sáng không biết từ đâu đến đă rọi xuống khiến ông chỉ nh́n thấy mỗi khuôn mặt xác ướp nổi rơ lên từ bóng tối. Một tia chớp như đang xé màn đêm của quá khứ và làm sống lại kư ức về một kiếp trước xa xôi, thuở linh hồn ông c̣n tá túc trong cái xác ướp này. Ông thấy có những tia mặt trời đang chiếu như thiêu trên một mặt cát nóng bỏng, những làn gió nhẹ xạc xào dưới bóng cây, dấu vết bùn lầy c̣n sót lại sau một cơn mưa lũ và những con phố phồn hoa đầy những bóng áo trắng đang đi qua đi lại, mùi hương du thơm tho xức trên người khi vừa tắm gội xong, cái cảm giác lạnh lẽo khi qú lên nền đá trong một góc đền thần âm u...Trong một sát na, tất cả những cảm giác đó đă từ cái hố sâu thẳm của quên lăng để lần lượt quay về và hiện ra một cách sống động trong kư ức của ông. Có lẽ lúc đó ông đang giữ một chức thầy tế lễ trong đền thần Puta th́ phải. Bảo là “có lẽ ...th́ phải” bởi v́ đó chỉ là h́nh ảnh những ǵ ông có lần nh́n, va chạm, kinh nghiệm và chúng đang hiện ra trước mắt ông thôi, c̣n như tầm vóc hay h́nh dáng con người ông lúc đó th́ ông không thể nào nh́n thấy được. Bất chợt h́nh ảnh đôi mắt của một con dê đực mà ông đem làm vật tế sinh cho chư thần lại hiện ra trước mắt. Ông thấy nó sao mà lại giống cặp mắt của một người ông từng quen biết. Phải rồi, chính là người đàn bà đó! Bất chợt, đôi mắt của một người đàn bà có khuôn mặt được trang điểm phơn phớt bằng một lượt phấn khổng tước thạch (bột đá màu xanh biếc như lông công, NNT), với một thân h́nh mảnh mai và quen thuộc ướp trong làn hương da thịt với những cử chỉ đáng yêu đầy hoài niệm ... đă hiện ra trước mắt ông. Ôi, ta thương em biết mấy cho vừa! Dù vậy, có lẽ nàng vẫn sống cô đơn như một con hồng hạc ven hồ và chắc phải buồn bă lắm! Người đàn bà đó không ai khác hơn là vợ của ông. Điều kỳ lạ là tên người, tên nơi chốn và tên đồ vật đều không hiện ra trong kư ức nên ông hoàn toàn không biết tên nàng cũng như tên nơi nàng sống.Trước mắt ông, những h́nh thể, màu sắc, mùi hương và động tác không biết gọi là thế nào như đang tranh nhau và đánh tráo nhau một cách kỳ quái trong cái ảo giác của không gian và thời gian để được hiện ra một cách chớp nhoáng rồi biến mất ngay sau đó. Rồi bất chợt ông không c̣n thấy cái xác ướp đâu nữa. Có lẽ linh hồn ông đă thoát ra khỏi thân xác để nhập hẳn vào bên trong cái xác ấy rồi chăng? Sau đó, một khung cảnh mới lại hiện ra. H́nh như lúc ấy ông đang lên cơn sốt cao và nằm bệt trên giường. Bên cạnh, người vợ đang theo dơi bệnh trạng ông và ra chiều lo lắng. Đằng sau lưng nàng đang có bóng vài người khác, có lẽ là một cụ già và vài đứa trẻ con.Khi ông cảm thấy khát cháy cổ và vừa đưa tay luơ quơ th́ người vợ đă lập tức đem nước đến cho ông uống. Một lúc sau, ông mới lim dim trở lại. Đến khi tỉnh giấc, cơn sốt hầu như đă hạ, ông bèn hé mắt để nh́n chung quanh. Bên giường, vợ ông vẫn sụt sùi. Đằng sau bà, ông cụ già và mấy đứa bé cũng đang tấm tức khóc. Bỗng ông nhận ra có một cái bóng lớn xanh xao đang đổ trùm lên người ḿnh giống như những đám mây báo mưa vần vũ và chỉ trong phút chốc đă nhuộm một màu đen tối bầu trời trên mặt hồ. Ông cảm thấy có một bức màn chụp xuống làm mắt ḿnh quay cuồng nên phải nhắm nó lại. Đến lúc đó, cái giây kết nối giữa kư ức của ông với quá khứ bỗng nhiên bị đứt đoạn. Cho đến vài hôm sau, ông vẫn tiếp tục ở trong một trạng thái mông lung như thế. Đến khi ư thức hồi phục (tức là trở về với thời điểm hiện tại) trong tư thế một sĩ quan Ba Tư (sau khi đă sinh hoạt như một người dân Ba Tư trong nhiều thập niên) và đang đứng trước cái xác ướp, hiện thân của ḿnh ngày xưa. Tuy có hoảng sợ trước những hiện tượng kỳ quái đă xảy ra cho ḿnh nhưng tâm hồn của Pariscas giờ đây đă trở nên trong vắt và tĩnh lặng như mặt nước mùa đông một cái hồ trên miền Bắc. Dù vậy, bên dưới đáy của nó, kư ức một kiếp trước đă bị chôn vùi vẫn c̣n đọng lại ở đâu đó. Chúng giống như những con cá mù tự ḿnh phát ra ánh sáng dưới cái đáy tối tăm của biển sâu Quá khứ những kiếp trước của viên tướng với những kinh nghiệm ông đă trải qua vẫn nằm ngủ ở đấy và không gây ra một tiếng động nào. Chính vào lúc ấy,, dưới cái đáy sâu tối đen, bỗng linh hồn của vị tướng kia bỗng mở đôi mắt của nó ra để nhận ra một bóng h́nh quái dị của ḿnh đến từ kiếp trước. Con người kiếp trước của ông cũng đang có mặt trong một căn pḥng dưới ánh sáng lờ mờ và đối diện với một cái xác ướp. Con người kiếp trước đó vừa run lên v́ sợ vừa phải kiểm tra để xác nhận xem cái xác ướp kia có phải là chính là thân xác của ḿnh trong một tiền tiền kiếp nữa hay không. Cũng vẫn quầng ánh sáng tù mù và cái lạnh gây gây như hôm nay với cái mùi của bụi bặm, con người kiếp trước của ông đột nhiên nhớ lại những chi tiết của quăng đời c̣n xảy ra trước cả cái kiếp trước ấy nữa.... Ông lặng người suy nghĩ: “Thế này là thế nào đây?” Cũng vẫn là nỗi sợ hăi giống y như trước. Dẹp sự sợ hăi qua một bên và cố nh́n cho kỹ càng th́ ông lại nghĩ cái kư ức tiền tiền kiếp mà con người tiền kiếp của ḿnh vừa gợi ra được có lẽ cũng đang nh́n h́nh ảnh con người của tiền tiền kiếp với cùng một kiểu? Phải chăng chúng giống như những chùm kư ức liên tục kéo lên đến vô tận, mang h́nh ảnh phát ra từ những tấm kính không ngừng phản chiếu vào nhau, khiến cho mắt ta quáng ḷa? Pariscas cảm thấy toàn thân chợt nổi gai ốc, định t́m cách thoát khỏi nơi đó. Thế nhưng hai chân ông đă cứng đờ c̣n mắt th́ vẫn chưa rời được khuôn mặt của xác ướp. Thân thể ông như bị đông cứng và cứ phải đối diện với các xác ướp màu hổ phách nay đă khô quắt khô queo. Sáng hôm sau, một liên đội lính Ba Tư đă khám phá chỗ Pariscas đang có mặt. Họ thấy ông vẫn ôm cứng cái xác ướp và cả hai đang nằm lăn trên nền gian pḥng dưới địa đạo của ngôi mộ cổ. Được họ chăm sóc nên một lúc sau Pariscas đă tỉnh trở lại nhưng không khỏi để lộ ra những triệu chứng điên loạn. Ông bắt đầu nói những câu càn rỡ không ai hiểu nổi và những câu nói đó không diễn tả bằng tiếng BaTư mà là tiếng Ai Cập. Dịch ngày 6/11/2024
Văn bản: Nakajima Atsushi, Miira (Xác ướp) trong Mojika, Gyujin (Văn Tự Họa, Ngưu Nhân) tên tập truyện khổ bỏ túi do Kadokawa, Tokyo xuất bản năm 2020. Từ trang 6 đến 14. Nguyên tác Nhật ngữ. [1] Tức Kyros (trị v́ 559TCN-529 TCN) [2] Nay là khu vực Uzbeskistan thuộc Trung Á. [3] Tên một thành phố cổ của Ai Cập nằm ở tả ngạn sông Nil.
* Nguyễn Nam Trân : Một trong những bút hiệu của anh Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com ......................... ®
"Khi phát hành lại bài viết
của trang này cần phải có sự đồng
ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com) |