|
|
MỘT
THỜI ĐĂ QUA, ĐÔI NGƯỜI ĐĂ XA
Đào
Hữu Dũng Trong
ṿng một tháng, tập thể cựu sinh viên VN tại Nhật Bản đă chịu hai cái tang liên tiếp. Riêng
tôi, cùng với sự ra đi của hai anh
Trần Đ́nh Tưởng và Vũ Thư Thanh, tôi
để tang cho một phần tuổi trẻ
của ḿnh. Hai
người là hai thế giới khác nhau, hai cá tính,
hai phong cách đôi khi trái ngược nhưng
đối với tôi, hai anh là hai tâm hồn tri
kỷ mà tôi có may mắn được quen
biết và họ đă làm phong phú cho cuộc
đời tôi rất nhiều. Những
ḍng chữ sau đây là một lời cảm ơn và một lời chia tay. Nó
c̣n có mục đích giới thiệu hai người
bạn của tập
thể chúng
ta dưới một con mắt
cá nhân của riêng tôi. Anh Tưởng Khi tôi gặp anh lần đầu năm 1965 th́ tóc anh đă bạc rồi dù tuổi đời anh chưa có bao nhiêu. Tôi c̣n nhớ măi hương vị chai Fanta mùi nho mát lạnh được anh em đăi khi anh Tưởng và các anh lớn đón bọn sinh viên mới qua từ phi trường Haneda về cư xá. Tôi chỉ là một thanh niên 20 tuổi gầy g̣, lụng thụng trong bộ quần áo dạ cắt từ đồ Mỹ thải mua ở chợ trời. Các anh đă ân cần tiếp đón và d́u dắt trong những bước đầu tiên cho dù trong tâm hồn nổi loạn của tôi ngày đó không đủ chỗ để chấp nhận truyền thống Sempai –Kôhai, một mực thước có nhiều điểm son của xă hội Nhật Bản mà măi về sau tôi mới thấm thía. Những ngày đầu tiên, điều tôi thích thú hơn cả được cầm trên tay tờ Hội Báo của Hội Sinh Viên, tôi đă đọc được những bài nghiên cứu về văn học, lănh vực tôi yêu thích. Tôi hăy c̣n nhớ những bài viết của những người đi trước như anh Nông Bằng Giang về haiku Bashô, anh Vĩnh Sính về tanka Takuboku, anh Nguyễn Hồng Quân về khu chợ sách cũ Kanda, bản dịch đoản thiên Hae (Yokomitsu Riichi) của anh Đinh Văn Phước… Dĩ nhiên khi nhắc về anh Trần Đ́nh Tưởng, tôi muốn nói đến bài tham luận Lịch Sử Đại Học Đông Kinh, Văn Học Nhật Bản Thời Hậu Chiến[1], các bản dịch kịch Những Kẻ Chết Không Mồ Mă của Jean-Paul Sartre và Rashômon (oh yes!) của Akutagawa Ryuunosuke. Có thể (vơ đoán?) mà nói anh Trần Đ́nh Tưởng là người đầu tiên vào năm 1964 đă dịch một tác phẩm văn học Nhật từ nguyên tác ra tiếng VN vậy. Thuở ấy, tôi có vỏ vẻ
làm mấy bài thơ chép
trong cuốn vở học tṛ và cũng đem
đăng trên Hội Báo. Nhờ đó, tôi có
dịp được anh Tưởng rủ
từ Komaba lên ABK măi
tận Sugamo uống cà phê và nói chuyện văn
nghệ cả ngày
với anh. Chiều tối anh mới tha
cho về. Không ai có thể tưởng tượng
một người làm khoa học như anh Tưởng
lại có đam mê và am tường về văn
học như thế (sau nầy
tôi mới biết qua bạn bè là ngoài sở
trường Toán Lư
Hóa, anh từng được giải thưởng
Trung Học Toàn Quốc về Sử Địa năm
1958). Bẵng đi hơn
một phần tư thế kỷ (1970-1997)
không gặp lại anh, chỉ nghe phong thanh
anh đă lập gia đ́nh và định cư
ở Úc. Năm 1997 th́ phải, anh chị và cháu
có đi du lịch một ṿng Paris và t́m
được số phone của
tôi. Vợ tôi cho biết v́ sinh kế tôi
đă trôi dạt trở
lại Tôkyô rồi. Do đó tôi lỡ cơ
hội gặp anh. Chỉ đến sau nầy, anh
Đinh Văn Phước là bạn cùng lứa
với anh bắt lại được liên
lạc th́ từ đó, hầu như bộ ba chúng
tôi có dịp trao đổi tin tức mỗi
tuần. Tôi không thể nào quên được t́nh
cảm ân cần anh dành cho bạn bè sau chừng
ấy năm (v́ thường
thường không gian và thời gian dể làm
nhạt t́nh người). Chúng tôi có xin anh cộng tác làm ít công việc văn
hoá như dịch văn chương Nhật
Bản ra Việt ngữ. Anh tán thưởng nhưng
không tham gia v́ bao giờ anh cũng thận
trọng trước khi nhận lời một
việc ǵ. Tuy nhiên, những bài văn tôi và anh Phước
dịch, anh đă giúp sửa chữa. Anh bảo “Thấy
anh em chăm làm việc, tôi vui ghê!”.
Anh vẫn chuẩn xác
trong thông tin như thuở nào và với
một trí nhớ phi thường, anh kể vanh vách
những kỹ niệm cũ một cách dí dơm.
Anh cũng không quên cho chúng tôi biết anh đă
mắc chứng nan y nhưng trong lời nói, anh
có cái thần thái của một người
ngộ đạo đứng trước mối
hiểm nghèo[2],
như đă sửa soạn valise, cần
đi là đi. Anh cho tôi
biết là anh giữ thơ tôi làm trong một File
riêng trong Computer, ngay cả những bài thơ
nhỏ tôi viết tặng đứa con gái đầu
ḷng đăng ở một tờ báo nhà chùa
tận Paris mà không biết anh đă kiếm ra
bằng cách nào. Anh bảo nếu
có dịch văn Nhật th́ anh sẽ
dịch Nijuushi no hitomi (Mười hai đôi
mắt), một câu chuyện cảm động
của nhà văn nữ Tsuboi Sakae hay truyện Đời
O-shin mà anh xem video không biết đến
lần thứ mấy ở Úc. Ḷng anh thương
những cuộc đời cơ cực như
thế đấy. Ai bảo anh nghiêm khắc nào!.
Nhắc đến chuyện xưa, anh cười
nhẹ: “Đừng trách tôi. Tôi lỡ sinh ra
trong một gia đ́nh nhà giáo!” Về cuộc đời
và sự nghiệp của anh mà tôi cũng
như nhiều người trong chúng ta nghĩ
anh phải có một công việc xứng đáng
với tài năng và phẩm cách th́ anh chỉ nói
nhẹ :“Tôi
chẳng tiếc ǵ và cũng chẳng trách ai”.
Xin lỗi anh cho phép tôi kể lại những
lời nầy cho tất cả bạn của chúng ta nghe bởi v́
không ai có thể phát biểu nhẹ nhàng, thanh
thản như anh sau
chừng đó dâu bể của cuộc đời.
Đó là bài học tiến thoái trong cách xử
thế sau cùng mà
tôi đă học ở anh vậy. Tháng sáu
anh c̣n gọi điện thoại nói chuyện
hằng giờ và hẹn sẽ gọi nữa
từ Úc v́ “anh cứ
để tôi,
gọi từ bên này rẻ lắm”. Thế mà tháng
mười đă có hung tin. Xin gởi lời chia
buồn đến chị Ḥa, người vợ
dịu dàng và quả cảm của anh. Xin gửi
lời chia buồn đến cháu Ái, con trai anh mà
anh cho biết mượn cái tên gọi trong nhà
từ tác phẩm Nữa Chừng Xuân
của Khái Hưng. Xin
gửi đến anh lời chào vĩnh
biệt của một
người mà ngày xưa
anh vẫn bảo là “hiểu rất
nhiều nhưng chưa bao giờ gần”. May
mắn thay, trong năm chót trước khi anh đi,
tôi đă xóa đi được năm chữ
cuối. Thanh Tuy qua
Nhật cùng năm (1965) nhưng anh Vũ Thư
Thanh lớn hơn tôi phải đến hai, ba
tuổi. Có thể anh thuộc thế hệ các
anh Nguyễn Ánh, Nguyễn Bá Sơn, hai ex-ryuu
bạn thân của anh. Trước khi xuất
ngoại, anh đă sắp xong Cử Nhân Anh Văn
ở Văn Khoa và là giáo sư Trung Học
Cần Giuộc. Anh là người chung khóa, chung
trường, chung lớp, chung nhà trọ với tôi
suốt 5 năm trời trước khi cuộc
đời bày ra ngă rẽ. Những năm tháng khó
khăn giữa cái lạnh mùa đông ở Paris
trong ngôi nhà ọp ẹp phải
sưởi bằng than đá, mấy lá thư
dài của anh từ Tôkyô đă an ủi và
khuyến khích tôi rất nhiều. Đến
Nhật, tôi hay t́m tới anh và có lần vợ
chồng con cái anh cũng đến thăm gia
đ́nh tôi ở Pháp. Thanh
ở trung học theo ban Toán, có một bộ óc
rất sắc bén, đọc sách nhiều và
nhanh, có tài hùng biện. Anh sống sôi nổi,
một trăm phần trăm, tính thẳng
ruột ngựa, thích th́ làm không thích th́ thôi nên
có thể nhiều người không hiểu anh. Nói
chuyện, anh luôn luôn t́m những phản đề
chứ không dể dàng chấp nhận lư luận
kẻ khác. Năm đầu tiên mới đặt
chân trên đất Nhật, với một vốn
tiếng Nhật hết sức hạn chế, anh
có thể biện luận hằng giờ với các
sinh viên ngoại quốc đến nỗi người
ta gọi anh là Mr Keredomo, bởi v́ anh luôn luôn dùng
chữ đó. Như
bạn Lê thành Nghiệp đă nhắc lại,
Thanh là một cây dịch thuật tài hoa. Trong lúc
c̣n học năm thứ hai Nhật ngữ, anh
đă dịch The Quiet American của
Graham Greene và Izu no odoriko của Kawabata ra
tiếng Việt. Anh cũng đă phụ trách
số đặc biệt về
Kawabata (lúc đó mới lănh Nobel) cho tạp
chí Văn của nhà văn Trần Phong Giao
ở Việt Nam. Tiếc là anh v́ gánh nặng gia
đ́nh đă phải đi làm ngay sau khi tốt
nghiệp (ở Takadanobaba như nhiều bạn khác
dẫu anh không có sức khoẻ tốt) nên không
phát triển tài học của ḿnh được.
Tuy vậy, sau đó anh đă sống nhiều năm
rất đường hoàng bằng nghề
dịch thuật, sở trường của anh,
rồi trở về VN làm cố vấn đối
tác với phía VN cho Công Ty Ngọc Trai Hạ Long
của Nhật từ nhiều năm nay, từ khi
không ra viên ngọc nào đến khi sản
xuất được 300 kg ngọc tốt, có
phẩm chất quốc tế. Thanh đă
nhuốm bệnh từ lâu. Các anh Huỳnh Trí Chánh,
Lê Thành Nghiệp và tôi đều có vào thăm
Thanh ở Tôkyô vào khoảng năm 2000. Nhưng
chẳng bao lâu, anh trở về VN để
chiến đấu một ḿnh với
bệnh tật và ít người gặp lại
anh. Như thể chính anh không muốn phiền ai,
dù là người thân, phải lo lắng cho ḿnh. Khi các
anh Vương Trí Tân, Huỳnh Trí Chánh
và Phạm Mạnh Kha biết tin anh mất, có
ḷng tốt hỏi thăm tôi v́ nghĩ là tôi
gần gũi với anh, tôi cũng chưa
biết là anh đă về an nghĩ trên mănh đất
Bát Tràng, quê hương anh. Làng Bát Tràng, nơi
chôn nhau cắt rốn của anh cũng như
xứ Hà Giang, Tuyên Quang mà anh đă sống
suốt thời thơ ấu, đất Cần
Giuộc anh lái Vespa đi dạy học, vùng
Quảng Ninh Yên Tử là nơi anh gửi gắm
những ngày cuối cùng của cuộc đời,
đều là những mảnh đất lịch
sử. Anh như giọt nước về
nguồn, đă đi trọn một chu kỳ
của người VN. Ít nhất anh cũng có cái
hạnh phúc đó. Là
một người bạn thân t́nh nhưng
tôi không có ǵ đáng để tự hào v́
đă để anh một ḿnh một thân trong
những năm tháng cuối trong khi bản thân anh
đă giúp đỡ tôi rất nhiều. Mong linh
hồn anh ngủ yên trong ḷng đất quê hương.
C̣n lại trong tôi là nụ cười sảng
khoái, lời nghị luận hùng hồn và
những câu chuyện hóm hỉnh của anh đă
bao lần chinh phục tôi cũng như mọi người.
ĐHD [1] Trong
đó anh Tưởng có nhắc tới
quyển truyện Tsuma yo, nemure « Ḿnh
ơi, hăy ngủ ! » (1947-50)
của Tokunaga Sunao (Đức Vĩnh Trực
1899-1958) mà anh Lại Văn Khiết c̣n nhớ. [2] Đúng
như cô Kim Yến đă nhận xét. Chào cô
Yến!
|