MATSUO BASHÔ

Bậc Đại Sư Haiku

 

Chương 1 : BASHÔ HAI CUỘC HÓA THÂN

Nhà thơ và lữ khách

Dẫn Nhập:

Bài viết dưới đây phỏng dịch chương thứ nhất tác phẩm “Matsuo Bashô, The Master Haiku Poet” (1970) của giáo sư Ueda Makoto giới thiệu thân thế, sự nghiệp và thời đại của nhà thơ Bashô, đặc biệt giải thích hai cuộc hoá thân trong cuộc đời ông. Làm thế nào người samurai cấp thấp Matsuo Munefusa đă trở thành ông thầy haikai Tôsei rồi cuối cùng là bậc đại sư haiku Bashô? Thế rồi, làm thế nào một kẻ lang bạt trở thành thi nhân và thi nhân đó đă chọn sống đời phiêu lăng?

                     

                     H́nh ảnh quen thuộc của nhiều thế hệ

Mùa xuân năm 1681, có hôm một bụi chuối đă được đem đến trồng bên túp lều con ở khu vực hoang sơ thuộc thành phố Edo, ngày nay được biết dưới cái tên Tôkyô. Bụi chuối ấy là món quà do một cư dân nơi đây đem tặng ông thầy dạy ḿnh làm thơ. Ông này vừa mới dọn vào túp lều ấy cách đó có mấy tháng. Vị thầy - người đàn ông khoảng 36 tuổi - rất hài ḷng với món quà. Ông yêu bụi chuối bởi v́ t́nh cảnh của nó ở nơi này có phần nào giống bản thân ḿnh. Những tàu lá rộng mềm mại, dễ bị rách tơi mỗi khi có trận gió mạnh thổi đến từ biển. Buồng hoa chuối nhỏ không đập vào mắt ai. Bụi chuối ấy có vẻ đơn chiếc làm như nó biết ḿnh không thể nào kết trái giữa cái thời tiết mát mẻ của xứ Nhật. Nhành lá dài và tươi tắn nhưng chẳng dùng được vào việc ǵ cụ thể.

Người thầy sống một ḿnh trong túp lều. Nhiều đêm, khi không có khách đến thăm, ông có thể ngồi trầm ngâm, nghe tiếng gió thổi qua những tàu chuối. Không khí đơn chiếc c̣n cảm thấy sâu lắng hơn nữa vào những đêm mưa. Nước dột từ trên mái rơi tí tách vào ḷng chậu đặt bên dưới. Trong đôi tai của nhà thơ đang ngồi trong gian pḥng lờ mờ tối, âm hưởng đó ḥa điệu một cách lạ lùng với tiếng lá chuối xào xạc bên ngoài.

Bashô nowaki shite
Tarai ni ame no
Kiku yo kana 

Chuối trụ giữa băo thu
Nước dột rơi vào chậu,
Tí tách đêm nằm nghe.

Bài haiku như gợi cho ta thấy nhà thơ biết rằng tâm cảnh của ḿnh có cái ǵ đồng điệu với bụi chuối kia.

Một vài người khách đến thăm nhà thơ đă nhận ra sự đồng điệu ấy. Một số khác có thể chỉ xem bụi chuối như cái mốc đánh dấu thông thường của một cuộc đất. Dù sao, lần hồi họ quen gọi chỗ đó là Am Bashô (芭蕉庵Ba Tiêu Am) và cái tên đó lại được đặt cho người cư trú ở đấy. Từ đó nhà thơ được biết như là Bashô, am chủ am Bashô hay Bashô tiên sinh. Khỏi phải nói, nhà thơ cũng vui ḷng chấp nhận danh hiệu ấy. Ông đă sử dụng nó cho đến cuối đời. 

I) Cuộc hóa thân thứ nhất: Kẻ lang bạt trở thành thi nhân:

Chúng ta không có bao nhiêu dử liệu liên quan đến cuộc đời của Bashô cho đến khi ông dọn vào Am Bashô. Người ta tin rằng ông đă chào đời vào năm 1644 một nơi gần Ueno thuộc phiên trấn Iga (伊賀上野 Iga Ueno), cách Kyôto chừng 30 dặm về phía nam và cách Edo 200 dặm về phía tây. Người ta gọi ông là Kinsaku金作(và vài cái tên khác) lúc ông c̣n thơ ấu. Ông có một anh trai và bốn chị em. Cha ông, Matsuo Monzaemon松尾門左衛門, có lẽ là một samurai thuộc cấp và theo nghiệp nông trong thời b́nh. Địa vị xă hội của gia đ́nh tuy đáng kính nhưng không thể hứa hẹn cho cậu bé Kinsaku một tương lai sáng sủa nào nếu cậu cứ tiếp tục sống cuộc sống b́nh lặng, giữ chặt nếp nhà.

Sự nghiệp của Bashô cũng bắt đầu một cách không có ǵ đặc biệt. Người ta phỏng định chàng trai đă vào hầu việc một ông chủ trẻ, Tôdô Yoshitada (藤堂良忠 Đằng Đường Lương Trung), thân thích của vị lănh chúa cai quản phiên trấn. Chàng Bashô buổi đầu phụng sự chủ nhân như một kẻ tùy tùng hay có một chức phận tương đương[1]. Chủ nhân, lớn hơn ông hai tuổi, có vẻ mến Bashô, hai người xem ra đồng điệu trong nhiều lănh vực khi họ cùng lớn lên bên nhau. Sợi giây ràng buộc họ chặt chẽ hơn cả là haikai, một thú tiêu khiển hàng đầu của những con người tao nhă thời ấy. H́nh như Yoshitada rất thích sáng tác thơ, ngay cả có riêng một bút hiệu, Sengin (蝉吟Thiền Ngâm). Không hiểu có phải là kích thích đầu tiên đến từ chủ nhân hay chăng mà Bashô đă bắt đầu học đ̣i sáng tác haikai dưới bút danh Tôsei (桃青Đào Thanh)[2]. Bài thơ đầu tiên của Bashô ngày nay c̣n được giữ lại viết ra vào năm 1662. Đến năm 1664, hai bài của Bashô và một bài của Yoshitada được đăng trong một tuyển tập xuất bản ở Kyôto. Năm sau, Bashô, Yoshitada và hai người khác họp nhau làm một renku (liên cú) gồm 100 vần (1 vần có thể là cú 3 câu và cú 2 câu), trong đó Bashô đóng góp 18 cú. Đó là những câu thơ đầu tiên của Bashô dưới loại h́nh này.

Cuộc đời của Bashô cứ như thế mà b́nh lặng trôi qua, và tưởng chừng như ông có thể thỏa măn với chức phận một samurai cấp thấp, có đủ thời giờ rảnh rổi làm thơ tiêu khiển cho đến cuối đời. Từ lúc đến tuổi thành nhân ông đă có cái tên chính thức kiểu samurai là Matsuo Munefusa hay Matsuo Sôbô (松尾宗房Tùng Vĩ Tông Pḥng). Thế nhưng vào đúng mùa hè năm 1666, một chuỗi biến cố hoàn toàn thay đổi cuộc sống của ông. Yoshitada đột ngột qua đời. Người em của ông ta tập ấm chức tước của anh như người đứng đầu ḍng họ và trở thành người chồng mới của vợ anh ḿnh. H́nh như Bashô đă từ giă chức vụ vào lúc đó và chẳng bao lâu sau, ông bắt đầu sống đời lang bạt.   

Nhiều giả thuyết được nêu ra để thử giải thích lư do ông “thoát phiên” (bỏ xứ mà đi), việc ấy có nghĩa là ông mất danh hiệu samurai. Một lư do có thể hiểu được là sự đau đớn của ông trước cái chết của Yoshitada, chủ nhân mà ông có mối giao t́nh thật gần gũi. Có một truyện kư về Bashô cho biết ông muốn tự sát để đi theo chủ về thế giới bên kia nhưng lúc đó pháp luật thời Edo đă ngăn cấm việc hủy ḿnh (tuẫn tử). Một lư do khác c̣n đầy tính thuyết phục hơn là việc Bashô cảm thấy hết sức bi quan cho tương lai của ḿnh v́ người chủ mới là kẻ ông không thân thiết v́ chưa hề được hầu cận trước đó. Cũng như Yoshitada có Bashô, người thừa kế này hẳn có những tôi tớ tay chân mà ông sủng ái v́ đă cùng lớn lên với ông ta. Những kẻ đó có thể ngăn cản Bashô gia nhập vào nhóm người thân cận của vị chủ mới cho dù Bashô không hề cảm thấy có một thái độ thù địch nào đến từ phía họ. Sự thực đến nay vẫn chưa được rơ nhưng chắc chắn rằng tương lai của Bashô như người samurai đă bị che lấp bởi một đám mây u ám từ sau cái chết của chủ nhân ḿnh.

Vài giả thuyết khác về việc Bashô bỏ phiên trấn ra đi dính líu đến cuộc đời t́nh ái của ông. Vài truyện kư về buổi đầu của ông cho biết ông có một mối quan hệ t́nh cảm với người vợ của ông anh hay với một người thị nữ của Yoshitada, thậm chí với một ái thiếp của Yoshitada. Có thể đây chỉ là cấu tưởng trong tâm trí của những nhà viết truyện kư muốn tô lục chuốc hồng để tuổi thanh xuân của nhà thơ có đôi phần cụp lạc. Thế nhưng trong đó một thuyết có thể gần với sự thực. Bashô quả là có một người t́nh nhân, sau trở thành ni cô với pháp danh Jutei (寿貞Thọ Trinh). Bà đă có thể sinh cho ông một hay vài người con. Dù sao, nó giải thích cho ta được một số việc: trong thời kỳ thanh niên, Bashô, như mọi người đồng lứa, đă nếm đủ mùi vị đau thương và vui thỏa của cuộc đời.

Những năm tháng tiếp đến của Bashô không có mấy chi tiết. Thường thường, người ta bảo ông đă lên Kyôto, lúc đó là kinh đô của Nhật Bản. Nơi đây ông dă học triết lư, thi ca và thư pháp dưới sự chỉ đạo của nhiều vị thầy tên tuổi. Tuy vậy, có lẽ ông không sống thường xuyên ở Kyôto mà nhiều khi trở về quê hương qua những chuyến đi dài. Cũng có thể ông vẫn loanh quanh ở Ueno và các vùng phụ cận, lâu lâu mới lên Kyôto một lần. Chắc hẳn lúc bấy giờ, ông hăy chưa có ư định trở thành nhà thơ. Bởi v́ về sau, trong một bài viết, ông có lần ngỏ ư ḿnh đă “muốn trở thành quan lại để hưởng lộc điền”. Lúc ấy, ông c̣n trẻ và đầy tham vọng, tự tin vào tiềm năng của ḿnh. Chắc ông chỉ muốn trau giồi học vấn để bảo đảm một tương lai sáng sủa trong xă hội. Có lẽ ông muốn nh́n thấy thế giới bên ngoài nơi ḿnh sinh trưởng và gặp gỡ nhiều loại người.Với sự hiếu kỳ của tuổi trẻ, có lẽ ông đă thử hết những thú vui thời thượng mà lớp trẻ phóng đăng lúc ấy yêu chuộng. Có lần ông c̣n viết: “Đôi lúc tôi cũng bị ám ảnh bởi những chuyện đồng tính luyến ái!”.

Một điều không thể chối căi là cái thú sáng tác chưa hề giảm sút nơi Bashô. Một tuyển tập ra đời năm 1667 đăng đến 31 bài haiku ông viết. Ngoài ra thơ của ông c̣n được đăng tải trong 3 tuyển tập biên tập vào thời kỳ từ 1669 đến 1671. Tên tuổi của ông từ đấy được rất nhiều nhà thơ ở kinh đô biết tới. Và như thế, đồng thời ông cũng nhận được sự kính nể của những nhà thơ ở tỉnh nhà. Khi Bashô có ư định biên tập tuyển tập thơ haikai đầu tiên th́ đă có hơn 30 thi nhân đồng ư tham gia. Tuyển tập thơ đó mang tên Tṛ chơi bốc vỏ ṣ (貝ほひいKai Ôi) đă được đem cúng dường cho một ngôi đền ở Ueno rất sớm vào năm 1672.

Tṛ chơi bốc vỏ ṣ tŕnh bày những vần thơ được dự thi trong một cuộc thi thơ với 30 hiệp đấu, mỗi vần thơ là do một nhà thơ khác nhau làm ra. Chúng được ghép lại thành đôi và đánh giá bởi Bashô. Dù chính ông đă đóng góp 2 bài cho cuộc thi nhưng giá trị chủ yếu của thi tập nằm ở những lời b́nh luận và trọng tài của thi hào. Nổi bật lên trên toàn thể tập thơ là sự nhanh trí tuyệt vời và trí tưởng tượng giàu sắc thái của người chủ khảo này, chưa nói đến sự thông hiểu về thi ca dân gian, cách diễn tả thời thuợng cũng như về những hướng đi mới trong xă hội đương thời của ông. Dường như Bashô đă biên tập cuốn thơ đầu tiên ấy trong một tâm trạng vô cùng thoải mái nhưng tài năng thi ca của ông không v́ thế mà không được bộc lộ rơ ràng.

Sau đó, có lẽ vào mùa xuân năm 1672, Bashô đă quyết định đi Edo và hầu như không có ư định quay về miền Tây tức khắc. Khi lên đường, ông đă viết bài haiku sau đây để tạng người bạn c̣n ở lại Ueno:

Kumo to hedatsu
Tomo ka ya kari no
Ikiwakare 

Cḥm mây đă chia phôi,
Tôi bạn hai ngă đời
Sinh ly như hồng nhạn. 

Không hiểu Bashô muốn lên Edo với động cơ ǵ! Có lẽ sau khi đă thu thập được chút ít học vấn, ông muốn t́m một chức vị có tương lai ở Edo, lúc bấy giờ là một chốn phồn hoa đang đà phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều cơ hội công ăn việc làm. Hay có lẽ v́ được khuyến khích bởi những thành công ở quê nhà với Tṛ chơi bốc vỏ ṣ mà ông muốn trở thành nhà thơ chuyên nghiệp mà đến đó để t́m chút danh tiếng? Hoặc giả Bashô có cả hai mục đích một lúc bởi ông là một thanh niên đầy tham vọng. Dù ông muốn trở thành một viên chức nhà nước hay ông thầy dạy haikai th́ Edo - chứ không phải Kyôto - mới là nơi dễ thực hiện được giấc mộng ấy. Lúc đó, ḷng ông hăy c̣n đầy âu lo và muốn thử thách tài năng trong một môi trường khác, tự do hơn.

Cuộc đời Bashô từ đó cho đến tám năm về sau lại là một mảng tối khác. Có người kể lại là trong những ngày đầu tiên, ông sống lây lất từ nhà ân nhân này qua ân nhân kia. Điều này có thể xác thực nhưng chúng ta không nghĩ Bashô có thể nương tựa vào người khác một cách lâu dài. Nhiều giả thuyết, nhưng không giả thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục, cho biết ông lúc th́ phụ việc cho một ông lang, lúc th́ làm thư kư hàng quận, lúc đi giữ việc từ hàn cho một nhà thơ. Giả thuyết được đa số chấp nhận hơn cả là có thời Bashô làm việc trong ngành thủy lợi địa phương. Về sau, như để nhắc nhở lại giai đoạn này, ông có lần viết: “Có lúc ta đă ngán ngẩm với việc làm thơ và muốn ngưng quách nhưng có lúc ta lại định theo đuổi nghiệp thơ cho đến khi tên tuổi vuợt lên trên mọi người. Những lựa chọn đối nghịch này cứ dằn vặt tâm trí ta măi”.

Tuy vẫn mang trong ḷng mâu thuẫn như thế nhưng Bashô vẫn tiếp tục làm thơ trong khung cảnh thành phố mới này.Mùa hè năm 1675, ông có dịp tham gia cùng một số nhà thơ trong đó có một thi sĩ tên tuổi để làm một liên ngâm bách vận. Dưới bút hiệu Tôsei, ông đóng góp 8 cú. Mùa xuân năm sau, cùng với một nhà thơ khác, ông viết hai renku nữa và mỗi renku cũng đều có 100 vần. Cuối năm, ông lên dường về thăm tỉnh nhà và sau đó, ông dốc hết thời gian dành cho việc sáng tác. Có thể hiểu vào lúc này, ông đă quyết định trở thành nhà thơ chuyên nghiệp (haikaishi) nếu không phải là trước đó không lâu. Tác phẩm của ông bắt đầu được đăng tải ở nhiều tuyển tập và theo đà ấy, tên tuổi ông vang dậy.Vào dịp năm mới, h́nh như ông đă phát tặng một tập thơ nho nhỏ cho những người trong ṿng quen biết, một “thủ tục” chỉ được cho phép nơi một nhà thơ haikai đă thành danh.Vào mùa đông cùng năm, ông đứng ra làm chủ khảo hai cuộc thi thơ và khi người ta xuất bản tập kư lục nhan đề Cuộc thi thơ haiku 18 hiệp (十八番発句合わせJuuhachiban Hokku Awase) th́ trong đó thấy có lời b́nh của Bashô viết cho mỗi hiệp đấu. Đến mùa hè năm 1680 th́ xuất hiện tuyển tập Những vần thơ hay nhất của 20 môn đệ Tôsei (桃青門弟独吟二十歌仙Tôsei Montei Dokugin Nijikkasen) và điều này cho thấy lúc đó Bashô đă qui tụ được bên ḿnh một số đáng kể những thi nhân có tài. Cùng trong năm, hai đệ tử đầu đàn của ông đă “chạm trán” với nhau trong hai cuộc thi thơ mang tên Hội b́nh thơ dân dă (田舎句合わせInaka Ku-awase) và Hội b́nh thơ trường xuân (常盤屋句合わせTokiwaya Ku-awase). Vào những dịp ấy, Bashô cũng được mời đóng vai tṛ chủ khảo. Mùa đông, các đệ tử dựng một ngôi nhà nhỏ trong khu vực yên tĩnh, xưa cũ của thành Edo và biếu nó cho thầy. Vài tháng sau, họ mang một bụi chuối đến trồng trong sân và đặt tên cho túp lều ấy là Am Bashô (Bashô-an), một cái tên nổi tiếng măi đến bây giờ. Bashô đă trở thành nhà thơ tiếng tăm và lần đầu tiên trong đời có được mái nhà riêng.

II) Cuộc hóa thân thứ hai: thi nhân trở thành kẻ lang bạt:

Bashô rất biết ơn được tặng cho một mái nhà nhưng không sống được ở đấy một cách ấm êm. Danh tiếng thi ca của ông càng nổi như cồn và tiện nghi vật chất càng thoải mái th́ ông lại đâm ra bất măn với bản thân. Trong những năm tháng tranh đấu, ông có một mục đích cụ thể, một lư tưởng để đạt đến. Mục đích đó ngày nay đă toại nguyện nhưng sao ông thấy nó không xứng đáng với những công sức ḿnh bỏ ra. Ông có bao nhiêu là người tài trợ, bạn bè, học tṛ mà vẫn có cảm giác cô đơn hơn bao giờ hết. Sau đây là một trong những bài haiku ông viết lúc dọn đến Am Bashô:

Shiba no to ni
Cha wo konoha kaku
Arashi kana 

Bao nhiêu lá trà rụng,
Tấp vào cánh cửa sài.
Băo vừa dậy chăng ai?

Nhiều bài thơ làm trong giai đoạn này - kể cả bài viết về bụi chuối – luôn luôn có một giọng điệu ưu tư quá mức. Trong lời đề từ trên đầu một bài thơ ấy, Bashô đă viết: “Khi ngắm vầng trăng, ta cảm thấy cô đơn. Cô đơn nghĩ về bản thân và ta cảm thấy nỗi cô đơn đó khi suy tư về cuộc đời chẳng ra ǵ của ḿnh. Ta muốn gào to lên là tôi đang cô độc đây nhưng chẳng một ai đặt câu hỏi xem tâm trạng của ta như thế nào!”.

Dường như để thoát ra khỏi sự hoảng loạn tinh thần đó mà Bashô bắt đầu tập tu thiền dưới sự chỉ đạo của nhà sư Butchô仏頂 (Phật Đính, 1642-1715), t́nh cờ lại là láng giềng của ông. Lúc ấy, chắc chắn ông phải rất quyết tâm và đă tu hành nghiêm cẩn như về sau có lần nhắc lại: “...và vào một thời điểm khác, ta đă lo rằng sẽ khép ḿnh giữa bốn bức tường tự viện”. Cô độc, buồn khổ, đánh mất ảo ảnh, bất an...không hiểu đâu là vấn đề chính nhưng rơ ràng là ông đă khốn đốn v́ chúng.

Một số sự việc đă xảy ra trong ṿng hai năm sau đó, lại làm cho ông khốn khổ thêm. Mùa đông năm 1682, am Bashô đă bị lửa thiêu trụi khi một trận hỏa hoạn lớn tàn phá cả một vùng lân cận. Bashô lại trở thành kẻ không nhà và có lẽ ư tưởng “con người vĩnh viễn là kẻ lang thang không bến đỗ” bắt đầu xuất hiện và càng ngày càng ám ảnh tâm hồn ông. Chỉ vài tháng sau ông lại nhận được tin từ quê nhà cho hay mẫu thân đă qua đời. Nhân v́ thân phụ ông măn phần từ năm 1656, bây giờ chẳng những ông không c̣n nhà cửa mà cũng chẳng c̣n có mái ấm mẹ cha để có thể trở về.

Riêng về mặt tiếng tăm giữa làng thơ th́ lúc đó Bashô và các đệ tử của ông đă đi từ thành công này sang thành công khác. Mùa hè 1683, họ đă xuất bản Những hạt dẻ rỗng (Minashiguri), một tuyển tập haikai mà nội dung của nó cho thấy có một sự khước từ những chủ đề thô kệch và hạ cấp và đă biết sự sử dụng nhuần nhuyễn cách phát âm có hương vị Trung Quốc, làm cho ta phân biệt được nhóm tác giả của nó với những người làm thơ đương thời. Mùa đông năm ấy, khi kẻ không nhà là Bashô trở về từ một chuyến đi ngắn xuống tỉnh Kai, bè bạn và học tṛ một lần nữa lại quyên góp để dựng lại cho thầy một Am Bashô mới. Ông rất hài ḷng nhưng không v́ thể mà vơi được nỗi buồn cố hữu. Ông có bài thơ viết lúc nhập cư như sau:

Arare kiku ya
Kono mi wa moto no
Furugashiwa 

Nghe tiếng mưa đá rơi,
Nhưng ḿnh nào khác xưa,
Một thân sồi già cỗi.

Cả thành công về mặt thi ca lẫn sự yên ổn được sống dưới một mái nhà không đem lại cho ông một nguồn an ủi đáng kể nào. Trong tâm tưởng, từ lâu ông đă trở thành một kẻ lang bạt mất rồi và ông chỉ có nước tiếp tục sống bằng cách tuân theo sự thôi thúc đó.

V́ thế mà vào mùa thu 1684, Bashô đă làm cuộc hành tŕnh đáng kể đầu tiên của ông. Trước đó, ông đă đi rất nhiều nhưng chưa có cuộc lữ hành nào nhắm vào mục đích tư duy hoặc thi ca. Qua cuộc hành tŕnh này, ông chờ đợi nhiều điều, trong đó có cả sự đối mặt với cái chết và những khả năng như thế sẽ giúp ông chỉnh lư lại được tâm trí cũng như thi ca của ḿnh. Ông gọi chuyến đi đó là chuyến đi “xương trắng bị mưa vùi gió dập” (ư tưởng thấy trong Dọc đường mưa gió, Nozarashi Kikô) nghĩa là ông đă sẵn sàng để bỏ rơi thân xác cho thiên nhiên tha hồ tàn phá nếu như đó là định mệnh của ḿnh. Đối với chúng ta th́ ư tưởng này có vẻ cực đoan nhưng phải nên nhớ rằng thân thể Bashô sinh ra đă rất èo uột và ông lại mắc vài chứng bệnh kinh niên. Ngoài ra, vào thế kỷ 17, việc di chuyển ở Nhật hăy c̣n vô vàn nguy hiểm và đầy bất trắc chứ không như bây giờ.

Chuyến đi nói trên rất dài, nó đưa ông qua hơn một chục tỉnh nằm giữa Edo và Kyôto. Từ Edo, ông men theo con đường lớn dọc bờ biển Thái B́nh Dương đi về miền Tây, đă có dịp đến dưới chân ngọn Fuji, vượt nhiều con sông rộng và thăm được cả Đại thần cung Ise. Cuối cùng, ông đặt chân lên Ueno quê nhà, đoàn tụ với thân thích bạn bè. Người anh lớn đă mở cái túi đựng di vật và cho ông xem một nhúm tóc bạc mà người mẹ quá cố đă để lại:

Te ni toreba
Kien namida zo atsuki
Aki no shimo

Cầm lấy giữa ḷng tay,
Tan theo lệ nóng bỏng,
Là một giải sương thu.

Đây là một bài thơ hiếm hoi của Bashô v́ nó không ḱm hăm được t́nh cảm của ông. Có lẽ sự đau đớn v́ mất đi người mẹ đối với ông quá ư to tát, không sao chịu nổi.

Được vài hôm sau, Bashô đă giă từ cố hương Ueno để nối dài cuộc hành tŕnh. Lần này, ông đến thăm một ngôi đền trong núi và cùng các nhà thơ địa phương mở một hội thơ. Đó là thời điểm sáng tác Mặt trời mùa đông (Fuyu no hi), một chùm thơ gồm 5 renku (thơ liên ngâm), trong đó lời thơ không c̣n có tính cách trí thức hay cơ trí mà đă trở nên trữ t́nh, đánh dấu được giai đoạn chín muồi của thi pháp Bashô. Thế rồi ông quay về đón Tết Nguyên Đán ở Ueno lần đầu tiên sau bao năm xa quê. Ông c̣n đi thăm Nara và Kyôto thêm một vài lần nữa và cuối cùng khi Bashô trở lại Edo th́ đă là mùa hạ năm 1685.

Chuyến đi đem lại nhiều thành quả. Bashô đă gặp được bao nhiêu bạn bè cũ mới. Ông đă sáng tác được một số haiku và renku nhờ những kinh nghiệm thu thập được trong chuyến lữ hành này, kể cả những bài trong Mặt trời mùa đông. Ông đă viết được tập văn du kư đầu tiên Dọc đường mưa gió (Dă sái kỷ hành, Nozarashi Kikô). Thông qua chuỗi kinh nghiệm này, Bashô đă dần dần biến hóa. Trong phần sau của tập văn du kư nói trên, ta thấy có bài thơ ông dịp vào dịp cuối năm:

Toshi kurenu
Kasa kite waraji
Hakinagara 

Một năm nữa vừa tàn,
Trên đầu vẫn nón lá,
Dép cỏ ruổi đường xa.

Bài thơ cho ta thấy Bashô thoải mái với cuộc hành tŕnh. Cái cảm tưởng khó ở đă làm ông có một thái độ gượng gạo ngày ra đi dần dần biến mất theo bước chân đi. Hiện giờ th́ ông có thể ngoái đầu nh́n lại con người lang bạt của ḿnh một cách khách quan hơn, không c̣n tự coi như một người hùng hay quá đặt nặng chuyện t́nh cảm.

Ông tiếp tục sống thêm hai năm lặng lẽ ở Am Bashô. Đó là một cuộc sống khiêm tốn nhưng nhàn hạ, khiến cho ông có thể tự cười ḿnh là “lăo già lười nhác”. Ông lặng ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên thay đổi theo bốn mùa và viết những bài haiku mỗi khi nguồn cảm hứng t́m đến. Bạn bè và học tṛ đến thăm đều chia sẻ với ông thú vui ấy. Họ cùng nhau tụ tập ngắm trăng thanh, tuyết phủ và hoa nở. Những ḍng văn thơ của bài haibun ngắn dưới đây đă được viết ra vào mùa đông 1686, dường như tiêu biểu cho cuộc sống của ông lúc bấy giờ:

Một anh bạn tên Sora đang sống tạm thời bên cạnh chiếc am con của ta cho nên ta thường đến viếng thăm anh và anh cũng hay đến chơi. Khi ta nấu ăn, anh giúp chụm lửa, c̣n ban đêm khi ta pha trà, anh nhâm nhi với ta. Tính anh ít nói, thích hưởng nhàn, nên chi anh trở thành một người bạn tâm đầu ư hợp. Một đêm tuyết rơi, anh ghé qua thăm và nhân đó, ta mới viết câu thơ:

Kimi hi wo take
Yoki mono misen,
Yukimaroge 

Nhen lửa giùm ta nhé,
Này anh xem vật lạ,
Một ḥn tuyết cực to

Lửa nói đến trong bài thơ là lửa nhóm lên để pha trà. Sora[3] có lẽ đang sửa soạn nấu nước sôi trong bếp và khi ấy, Bashô trở ra ngoài, cho tay vọc tuyết và nắn những ḥn tuyết cực lớn, nghịch ngợm như một đứa trẻ con Khi trà đă sẳn sàng, họ mới ngồi lại bên nhau, vừa nhấp trà nóng vừa ngắm những ḥn tuyết ngoài sân. Bài thơ này là một trong những bài mang không khí vui nhộn nhất của haiku Bashô, đă có thể gợi cho ta thấy cái tâm cảnh nhẹ nhàng thoải mái của thi hào trong những năm tháng ấy.

Tâm t́nh thoải mái đầy chất thơ đă đưa bước chân Bashô đền Kashima trong một chuyến đi ngắn. Kashima là một thị trấn cách Edo chừng 50 dặm về hướng Đông, nổi tiếng v́ ngôi đền Thần Đạo. Bashô đă đến đây với mục đích ngắm đêm trăng ngày mùa. Sora và một thiền tăng đă tháp tùng ông trong chuyến đi vào mùa thu năm 1687. Rủi thay đúng đêm rằm th́ trời lại đổ mưa, họ chỉ có dịp ngắm trăng được đôi chút lúc trời hừng sáng. Dù vậy, Bashô đă nhân cơ hội đó đến thăm thiền sư Butchô, người thầy cũ, lúc ấy đă qui ẩn ở Kashima. Cuộc du hành trở thành đề tài cho một du kư khác của ông: Chuyến hành hương đền Kashima (鹿嶋詣Kashima Môde), c̣n được biết dưới tên鹿嶋紀行 Kashima Kikô.

Hồ Kasumigaura gần Kashima

Thế rồi, chỉ hai tháng sau, Bashô đă bắt đầu một cuộc du hành mới về miền Tây. Kỳ này ông tỏ ra thanh thản hơn là cuộc du hành đầu tiên cách đó ba năm v́ ông đă trở thành nhà thơ có tiếng, qui tụ được nhiều bạn thơ và đệ tử. Họ biếu ông nhiều món quà tiễn biệt, mời ông đi du ngoạn hoặc dự tiệc cũng như tổ chức các hội b́nh thơ để chào đón. Những người không đến được cũng gửi thơ tham dự. Con số thơ thu thập được trong những dịp này lên đến hơn 350 bài, sau đó đă được xuất bản với nhan đề Những vần thơ đưa tiễn (句餞別Kusenbetsu). Nhiều cơ hội lễ lạc như vậy đă làm cho Bashô có ấn tượng là ḿnh được cư xử như một kẻ quyền cao chức trọng.

Trong chuyến đi này, ông hầu như cũng theo cùng một tuyến đường với chuyến đi trước hồi năm 1684. Vẫn gặp gỡ bạn bè và để lại những vần thơ đó đây suốt đoạn đường. Ông đặt chân lên Ueno vào một ngày cuối năm và được chào đón và tôn vinh với danh dự một nhà thơ tên tuổi đất Edo. Ngay cả người thủ lănh của ḍng họ chủ nhân mà ông từng phục vụ thuở thiếu thời cũng đă mời ông đến chơi. Trong khu vườn phủ đệ của họ, hăy c̣n cây anh đào ngày xưa Yoshitada yêu thích, nay đang độ ra hoa:

Samazama no
Koto omoidasu
Sakura kana 

Bao nhiêu chuyện đă qua,
Hiện về trong tâm trí,
Hay anh đào đơm hoa.

Đến giữa mùa xuân, Bashô từ giă cố hương Ueno, cùng với một người đệ tử, trước tiên viếng thăm núi Yoshino để ngắm hoa anh đào. Ông đi tiếp tới vùng Wakanoura  thưởng thức vẻ đẹp của mùa xuân bên bờ Thái B́nh Dương rồi dừng ở cố đô Nara đúng vào dịp lá xanh non. Thăm Ôsaka xong, ông ghé hai băi biển Suma và Akashi trên bờ biển nội địa Seto, vốn là hai “gối thơ” (utamakura) thường được nhắc đến trong những áng thi văn cổ điển. 

Tù Akashi, Bashô quặt ngược về miền Đông, đi ngang qua Kyôto để đặt chân lên Nagoya đúng giữa mùa hè. Sau khi dừng chân ở đây một ít lâu, nhà thơ của chúng ta hướng về vùng núi non nằm sâu trên đảo Honshuu, một vùng được mọi người ca tụng như rặng Alps của Nhật Bản. Cùng đi với ông có một lăo hữu và một kẻ tùy tùng - nhân có người lo lắng cho cuộc hành tŕnh vào vùng núi cheo leo - gửi đến giúp ông. Mục đích của ông lần này là xem trăng ngày mùa ở Sarashina, một thị trấn cổ xưa. Như đă dự đoán, chuyến đi này cực kỳ gian khổ nhưng ông đă có may mắn nh́n được mảnh trăng tṛn đầy ở nơi danh thắng mà văn học Nhật Bản từng nhắc đến nhiều lần.Thế rồi, Bashô đă len lỏi trong vùng núi non ấy để tiến về miền Đông và đến Edo cuối mùa thu năm ấy, sau chuyến đi kéo dài ngót nghét một năm.

Đường núi lên thôn Sarashina

Có lẽ đây là chuyến đi đem đến cho Bashô những tháng ngày hạnh phúc hơn cả. Ông hầu như đă trở lại nhiều nơi trên tuyến đường quen thuộc, ở những nơi ông chưa đến th́ vẫn có một người bạn đồng hành và một kẻ tùy tùng giúp đỡ ông. Danh tiếng nhà thơ haiku của ông đă được lan truyền khá rộng răi cho nên đi đến đâu ông cũng được mọi người tiếp đón thảo lảo. Đó cũng là một chuyến hành tŕnh có thành quả. Ngoài một số haiku và renku sáng tác được, ông c̣n viết thêm hai tập văn du kư là Tráp đeo lưng cũ (笈の小文Oi no kobumi) kể lại đoạn đường từ Edo đến Akashi, và Chuyến viếng thăm thôn Sarashina (更科紀行Sarashina Kikô) vốn tập trung vào cuộc du hành đến Sarashina để ngắm trăng. Bút kư trước có một địa vị đặc biệt quan trọng đối với qui phạm của trường phái Bashô, bởi v́ trong đó, bên cạnh những lời phát biểu khác ông đă viết một đoạn văn tuyên cáo rằng haikai là một trong những thể thơ chính yếu của thi ca Nhật Bản. Lúc này ông đă thấu hiểu ư nghĩa của sự sáng tác haikai, tin tưởng rằng haikai - một h́nh thức nghệ thuật nghiêm túc - có thể chỉ đường cho con người t́m đến một lối sống hết sức cao thượng.

Không có ǵ đáng làm ta ngạc nhiên nếu lúc ấy Bashô đă sửa soạn ngay cho một chuyến đi tiếp. Như chính ông phát biểu, đó là v́ vị Thần Đi Đường (道祖神Dôsojin) đă mời mọc ḿnh. Bị mê hoặc bởi cái thú của cuộc đời lữ khách, ông muốn vượt cả mọi giới hạn của các chuyến đi trước đây và trở thành một kẻ thực sự sống đời phiêu lăng hơn bao giờ hết. Trong một bức thư gửi đi trong thời gian đó, ông cho biết ḿnh ngưỡng mộ cuộc đời của những vị du tăng khất thực, chỉ có trong tay cái b́nh bát xin cơm. Giờ đây, Bashô quyết định làm chuyến hành tŕnh không phải với tư cách của một nhà thơ danh tiếng nhưng như một ông sư khắc khổ. Cũng chính v́ thế mà trong chuyến hành hương sắp tới, ông sẽ thăm viếng phần đất phía bắc đảo Honshuu, nơi đây hăy c̣n là nơi hẻo lánh nếu không nói là hoang dă mà ông chưa hề đặt chân lên và không chút quen thuộc với nó. Ông đă phải đi trọn một đoạn đường dài đến 1.500 dặm (1.609 m x 1500 = tương đương 2.500 km, NNT). Dĩ nhiên cuộc lữ hành này là chuyến đi dài nhất trong đời ông.

 

  Cao nguyên có suối nước nóng Nasu

Với Sora tháp tùng, ông từ giă Edo vào cuối mùa xuân năm 1689. Có lẽ với thái độ khắc khổ và cấm dục mà ông tính giữ cho được trong suốt hành tŕnh, cuộc tiễn biệt chỉ lặng lẽ v́ không lễ nghi phiền phức và cũng chẳng có bao nhiêu người tham dự. Ông tiến lên miền Bắc theo con đường cái, dừng lại ở một vài chỗ danh tiếng như đền Toshôguu (Đông Chiếu Cung) ở Nikkô, suối nước nóng trên cao nguyên Nasu và khu thành quách lịch sử Iizuka. Thế rồi ông đi lần ra bờ biển Thái B́nh Dương giáp với Sendai và có dịp chiêm ngưỡng cảnh sắc của cḥm đảo trong vịnh Matsushima.Từ Hiraizumi, một thị trấn nổi tiếng v́ thời trung cổ từng là băi chiến trường, Bashô quay qua hướng Tây và đến Sakata, nằm bên bờ Biển Nhật Bản.

 

Đầm Kisagata

Sau một chuyến đi ngắn ghé đầm Kisagata phía bắc, ông men theo con đường lớn dọc bờ biển đi về hướng tây nam. Chính là từ bờ biển này, ông đă nh́n thấy đảo Sado và nhân đó đă viết nên một trong những vần thơ được ca ngợi nhất của ḿnh: 

Araumi ya
Sado ni yokotau
Amanogawa

Trên biển gầm sóng dữ,
Giải Ngân Hà bắc ngang,
Tận phía đảo Sado.
         

V́ gió mưa, v́ nắng nỏ và cung đường hiểm trở, đoạn này gây nhiều khó khăn cho Bashô và Sora nên cuối cùng, khi đến được Kanazawa, cả hai đều mệt lả. Họ dừng chân ở xóm suối nước nóng nổi tiếng Yamanaka (thuộc thị trấn Kaga, tỉnh Ishikawa bây giờ) thêm một vài hôm nhưng Sora, có lẽ sức khoẻ suy sụp do ảnh hưởng của nhiều chứng bệnh kinh niên, quyết định chấm dứt cuộc hành tŕnh và từ giă thầy nơi đây. Bashô tiếp tục đi một ḿnh cho đến Fukui rồi gặp được một người quen biết chịu đưa ông tới Tsuruga. Từ chỗ này, một người bạn cũ khác đă đến gặp Bashô. Cả hai tiếp tục đi về hướng nam, xuống tận Ôgaki, thành phố Bashô biết khá rơ. Một số bằng hữu và môn đệ đă đến đón rước và như thế, cuộc hành tŕnh dài dằng dặc qua những vùng đất xa lạ, đầy gian nguy của ông đă hoàn toàn kết thúc. Nó đánh dấu 156 ngày đường kể từ khi nhà thơ khởi hành từ Edo.

Cuộc hành tŕnh lên miền Bắc đánh dấu đỉnh cao của sự nghiệp văn chương của Bashô. Ông đă viết được những áng thơ hay trong cuộc hành tŕnh này. Cuốn du kư Đường ṃn miền Bắc (Oku no hosomichi)[4] có thể được xem là thành quả to lớn nhất trong lịch sử thể văn nhật kư du hành Nhật Bản (紀行文学Kikô bungaku). Những ǵ Bashô đạt được dĩ nhiên đến từ những chiêm nghiệm sâu sắc của một con người đă chín chắn. Ông đă t́m ra một cách sống và nhờ đó, giải quyết được những mâu thuẫn nội tâm khó gỡ và t́m được sự b́nh yên trong tâm hồn. Nó đă dựa lên ư tưởng sabi 寂び (cô quạnh, cô tịch), một khái niệm cho rằng người ta có thể đạt đến sự thanh thản và trong sáng của tâm hồn khi biết ḥa nhập bản ngă của ḿnh vào trong sức sống vô ngă của thiên nhiên. Sự thu hút hoàn toàn cái bản ngă nhỏ bé, ti tiện của cá nhân vào trong vũ trụ bao la, hoành tráng với sức mạnh siêu nhiên, chính là chủ đề mà Bashô đă nhấn mạnh trong rất nhiều bài haiku của ḿnh, kể cả bài viết về giải Ngân Hà bắc qua đảo Sado mà chúng ta mới vừa xem. Khoảnh khắc c̣n người đồng hóa với thiên nhiên phi nhân tính, vô t́nh, theo ông, hết sức quan trọng cho sự sáng tạo thi ca. Dù Bashô chưa hề viết một cương lĩnh nhưng, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, trong giai đoạn sau của đời ḿnh, quả t́nh ông đă phát hiện ra một số ư kiến độc đáo về phong cách làm thơ. Dường như ông đă bắt đầu suy nghĩ về nguyên lư thi ca một cách đứng đắn hơn, triết học hơn khi bắt đầu cuộc hành tŕnh lên miền Bắc. Hai tác phẩm sớm nhất ghi lại một số tư duy của Bashô về thi ca là Ghi chép lời nghe được trong bảy ngày (聞き書き七日草Kikigaki Nanukagusa)[5] và Trao đổi ở Yamanaka (山中問答Yamanaka Mondo)[6] đă bắt nguồn từ đó.

 

Am Huyễn Trú (Genjuuan) vào đông

Trong ṿng hai năm sau, Bashô đă dành nhiều thời gian để thăm các bạn cũ và môn đệ sống ở Ueno, Kyôto và những thị trấn nhỏ bên bờ phía nam hồ Biwa. Mỗi lần, cùng với một người trong bọn họ, ông thường làm những cuộc du ngoạn ngắn đến những nơi khác như Ise, Nara...Trong những nơi trú ngụ vào giai đoạn này, ông đặc biết yêu thích hai chốn hơn cả, đó là Am đời hư ảo (幻住庵Genjuuan) và Ngôi nhà quả hồng rụng (落柿舎Rakushisha). Am Huyễn Trú tức “Am đời hư ảo” nằm trong vùng rừng rậm cực nam hồ Biwa là một nơi rất khuất nẻo và yên tĩnh mà Bashô đă tạm trú từ đầu hè cho giữa mùa thu 1690. Ở đây, ông tận hưởng một cuộc sống ẩn dật chây lười. Nó đă được miêu tả trong một đoạn văn xuôi tuy ngắn nhưng tuyệt đẹp như sau:

Ban ngày, ông từ già canh gác ngôi đền ở địa phương hay vài người dân làng sống ở dưới chân núi lên chơi với ta và kể những chuyện chẳng mấy khi ta được nghe, chẳng hạn như nạn lợn ḷi xuống dày xéo ruộng lúa hay thỏ rừng đôi lúc về quấy phá những nương đậu. Mặt trời lặn xuống bên kia đồi và màn chiều buông xuống, ta lẳng lặng ngồi chờ trăng lên.Trăng vừa ló dạng là ta bắt đầu đi dạo, bóng cũng theo người in đó đây trên mặt đất. Khi trời vào khuya, ta mới trở lại túp lều và suy ngẫm về những điều phải trái, mắt đăm đăm nh́n vào chỗ cách chia cái bóng lù mù với ánh đèn đêm.  

Bashô c̣n có dịp được sống cuộc đời ẩn dật như vậy thêm một lần nữa ở Ngôi nhà quả hồng rụng (Rakushisha) ở Saga, ngoại ô tây bắc Kyôto. Chủ nhân của nó là Mukai Kyorai (1651-1704), một đệ tử. Gọi tên như thế v́ ngoài sân nhà có trồng dăm gốc cây quả hồng (cây thị). Ở đó cũng có nhiều lùm tre và chúng đă được Bashô lấy làm bối cảnh cho một bài thơ nổi tiếng của ông:

Hototogisu
Ôtakeyabu wo
Moru tsukiyo 

Tiếng chim kêu cuốc cuốc,
Len qua bụi trúc dày,

Để lọt ánh trăng thanh. 

Bashô ngụ lại ngôi nhà này 17 hôm vào mùa hè 1691. Thời gian này đă hun đúc nên Nhật kư Saga (嵯峨日記Saga Nikki), tác phẩm văn xuôi dài cuối cùng của ông.

Trong suốt thời gian trú ẩn ở hai địa chỉ này và một số nơi khác trong khu vực Kyôto và Hồ Biwa, nhiều khách đồng điệu với quan niệm thi ca của ông đă đến viếng. Đặc biệt là hai đệ tử đầu đàn của ông: Kyorai và Nozawa Bonchô (16? – 1714). Chính hai người này phụ trách việc biên tập một thi tuyển haikai dưới sự chỉ đạo của ông. Tuyển tập đó mang tên Áo tơi cho khỉ (猿蓑Sarumino) xuất bản đầu mùa hè 1691. Nó dược đánh giá như tác phẩm tượng trưng cho cao điểm của thơ haikai theo phong cách Bashô. Quan niệm sabi và những nguyên tắc khác về cách làm thơ chung đúc trong thời gian của cuộc lữ hành đi về miền Bắc đă được bày tỏ rơ ràng ở đây. Qua những ví dụ được dẫn ra từ thi tuyển mới này, người ta thấy rằng haikai là một nghệ thuật đứng đắn, trang trọng, có nội dung thâm sâu, hàm chứa những nhận xét chín chắn về con người và thế giới chung quanh họ.

Bashô về lại Edo vào mùa thu năm 1691. Bằng hữu và môn sinh ở đó, không gặp thầy đă hơn 2 năm, tiếp đón ông nồng nhiệt. Họ bèn chung tiền góp vốn để dựng lại cho ông lần thứ ba Am Bashô v́ ông đă bỏ cái am cũ từ cuộc du hành cuối cùng.Thế nhưng trong Am Bashô thứ ba này, nhà thơ không thể sống cuộc đời b́nh lặng như ông mong mỏi bởi v́ có nhiều người ông phải nuôi nấng. Chẳng hạn một người cháu tật nguyền đă đến ở với ông. Ông chăm nom cậu cho đến khi cậu ta qua đời vào mùa xuân 1693. Một người đàn bà tên Jutei 寿貞, dường như có mối liên hệ đặc biệt với ông thời trẻ, cũng đă đến nương tựa. Bà ta không được mạnh khoẻ, c̣n dắt theo mấy người con. Dù phải lo liệu mọi chuyện không liên quan ǵ đến thi phú như vậy, ông vẫn có nhiều hoạt động nghệ thuật v́ tiếng tăm của ông đă nổi như cồn. Nhiều người t́m đến hoặc mời ông tới chơi với họ. Chẳng hạn, trong một bức thư viết vào ngày 8 tháng chạp năm 1693[7], ông đă thông báo cho một người khách muốn gặp là ông sẽ không có nhà vào các ngày 9, 10, 11, 12, 14, 15 và 16 để nhắn rằng nếu khách có đến, xin chọn ngày 13 hoặc 18. Trong một bức thư khác viết cùng lúc, ông nói thẳng thừng: “ Bị quấy quả bởi người khác, tâm trí ta không một chút b́nh yên!”. Tết Nguyên Đán năm đó, ông làm bài haiku sau đây:

Toshidoshi ya
Saru ni kisetaru
Saru no men 
 

Năm tháng nối nhau qua,
Trên khuôn mặt khỉ kia,
Mang thêm mặt nạ khỉ

Bài thơ này đượm một màu cay đắng hiếm khi thấy trong thơ Bashô. Ông có vẻ như không hài ḷng về những bước tiến qua chậm chạp của ông (và có thể của một vài đệ tử).

Những trách nhiệm này trở thành một áp lực trên ông, lần hồi Bashô trở thành bi quan yếm thế, hầu như không c̣n tin tưởng vào ǵ nữa. Sở dĩ ông muốn trở thành thi sĩ là để vượt lên trên những ràng buộc của cuộc đời nhưng bây giờ ông thấy việc đời hoàn toàn trói buộc khi ḿnh đă đạt được danh vọng. Giải pháp lúc đó là từ chối làm thi sĩ hay đóng cửa không gặp ai cả. Bashô đă thử giải pháp thứ nhất nhưng vô hiệu: “Ta đă thử từ bỏ thi ca và giữ im lặng nhưng cứ mỗi lần như thế th́ t́nh thơ lại sống dậy trong tim và có cái ǵ giống như tia chớp lóe lên trong trí. Đó chính là tiếng kêu gọi đầy ma lực của thi ca vậy”. Ông đă lún quá sâu trong lănh vực thi ca rồi. Bây giờ chỉ c̣n có giải pháp thứ hai để thay thế : đóng cửa tạ khách. Ông bắt đầu làm như thế vào mùa thu năm 1693, tuyên bố như sau:

Những lần người khác đến chơi, họ đều bàn những chuyện vô ích. C̣n mỗi lần ta đi thăm ai, lại có cảm giác khó chịu là đang can thiệp vào công việc của người. Bây giờ ta không c̣n cách nào hơn là theo gương Sun Ching hay Tu Wu-lang[8] cửa đóng then cài, không giao tiếp với thế nhân. Việc không có bạn trở thành người bạn của ta, cái nghèo túng là sự giàu sang. Với một lăo già 50 ngoan cố như ta th́ những vần sau đây có thể làm câu răn ḿnh:

Asagao ya
Hiru wa jô orosu
Mon no kaki

Mở lúc triêu nhan nở,
Trưa đến ta cài then,
Trên hàng dậu cổng nhà.

Hiển nhiên Bashô mong được ngắm vẻ đẹp của hoa triêu nhan[9] mà không phải cài then trên cánh cổng. Muốn được, tất phải mất nhiều thời giờ ngồi một ḿnh trong nhà suy nghĩ cho ra giải pháp. Ông đă giải quyết vấn đề như thế, ít nhất đủ cho ḿnh tạm thời thỏa măn, và lại mở cổng sau một tháng khép kín.

Giải pháp của Bashô dựa trên khái niệm karumi 軽み(nhẹ lâng), một biện chứng vượt qua khỏi khái niệm sabi寂び(cô quạnh). Nếu sabi khuyến khích người ta tách rời ra những ràng buộc của cuộc đời th́ karumi giúp cho việc đó trở thành khả thi, nghĩa là nếu ai đạt được đến tâm cảnh ấy rồi, người ấy thể trở lại với thế giới hằng ngày. Trên phương diện tinh thần, người ấy sẽ là khách bàng quan giữa cuộc đời ô trọc. Ông ta không trốn chạy khỏi những đau thương của cuộc sống nhưng đứng bên lề, mỉm cười nh́n nó trôi qua. Bashô bắt đầu viết theo nguyên lư này và đă khuyên học tṛ đi cùng hướng với ḿnh.Nỗ lực đó đă đưa tới việc họ đă hoàn thành những tuyển tập haikai như Bị đựng than (炭俵Sumidawara), Gian pḥng biệt lập (別座敷Betsuzashiki), Áo tơi cho khỉ, tập tiếp theo (続猿蓑Zoku-Sarumino). Những bài thơ tiêu biểu trong những tập này thường chối từ chủ nghĩa cảm thương (sentimentalism) mà giữ một sự b́nh tĩnh và có thái độ thanh thản đối với mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời. Nhiều khi chúng c̣n được tô điểm thêm bằng một nét hài hước ư nhị. 

T́m lại được sự quân b́nh trong tâm hồn như thế rồi, Bashô bắt đầu dự tính một cuộc hành tŕnh khác. Có lẽ ông cũng lo truyền bá karumi, nguyên tắc thi ca mới của ḿnh, cho những nhà thơ sống xa Edo. Chính v́ vậy, mùa hè năm 1694, ông lại làm một chuyến đi mới nhưng vẫn trên lộ tŕnh quen thuộc về hướng tây. Lần này, đi theo ông có anh Jirôbe, một trong những người con trai của bà Jutei. Ông dừng chân một tẹo ở Ueno rồi đi thăm một số môn đệ ở Kyôto và những thành phố kế cận mạn nam hồ Biwa. Bà Jutei寿貞, sức khoẻ đă sa sút trong những ngày sống ở Am Bashô, qua đời lúc đó, buộc ḷng Jirôbe phải trở lại Edo một thời gian. Quá đỗi thương xót, Bashô phải lui về nghĩ dưỡng ở Ueno độ chừng một tháng. Sau đó, cùng với dăm người bà con bạn bè kể cả Mataemon, con trai anh ḿnh, và cậu Jirôbe, ông lên đường đi Ôsaka. Thế nhưng sức khỏe của nhà thơ suy sụp nhanh chóng dù rằng ông c̣n chút sức để viết đôi vần thơ thật xuất sắc. Một trong những bài thơ đó là:

Kono aki wa
Nan de toshiyoru
Kumo ni tori 

Cớ sao mùa thu này,
Ta già đi quá đổi,
Chim bay vào trong mây.

Bài thơ cho thấy Bashô ư thức rằng ông đă bước vào những ngày tàn của cuộc đời. Sau khi phải nằm liệt giường v́ những cơn đau bao tử hoành hành, ông không c̣n có thể hồi phục nữa. Rất nhiều đồ đệ đă hối hả đến Ôsaka, tụ tập bên ông[10]. Dường như Bashô vẫn giữ được sự b́nh tĩnh trong những ngày cuối. Trên giường bệnh, ông đă chép lời căn dặn gửi đến cho người anh, có đoạn: “Em rất buồn phải bỏ bác ra đi. Em mong cháu Mataemon hiếu thảo để bác có thể hưởng được một tuổi già hạnh phúc! Ngoài ra, em không c̣n điều ǵ thưa với bác nữa.” Điều duy nhất c̣n quấy rầy tâm trí ông chỉ là thi ca. Theo ghi chép của các đệ tử, Bashô hoàn toàn ư thức rằng đây là giờ phút để đọc kinh khấn nguyện chứ không phải để làm thơ nhưng ông vẫn không khỏi tiếp tục nghĩ về nó. Thi ca đă trở thành một ám ảnh - “một sự gắn bó tội lỗi” - theo lối ông đặt tên cho nó. Bài thơ tuyệt mệnh như sau:

Tabi ni yande
Yume wa kareno
Kakemeguru

Lữ thứ thân nằm bệnh,
Mộng hồn c̣n luẩn quẩn,
Trên cánh đồng hoang vu.

 

Phụ Lục: Niên Biểu Bashô

Hành tŕnh của một nhà thơ giữa ḷng thời đại

1644  ( 1 tuổi ta):

Matsuo Bashô ra đời gần thị trấn Ueno xứ Iga (thành phố Ueno tỉnh Mie ngày nay).

Cha ông, Matsuo Yozaemon, là một samurai thuộc hạ của phiên Tôdô (ḍng dơi Đại tướng Tôdô Takatora, 1556-1630). Bashô là con thứ hai. Lúc nhỏ tên Kinsaku, lớn lên là Munefusa (c̣n đọc là Sôbô) hay Jinshichirô. Ngoài anh trai Hanzaemon Norimasa (mất năm 1701), ông c̣n có 1 chị và 3 em gái.

Nhật lúc đó đang ở vào đời thịnh trị của Shôgun Tokugawa đời thứ 3 là Iemitsu. Nhà Minh vừa bị diệt vong (1368-1644) bên Trung Quốc. 

1656  (13 tuổi):

Bố mất. Có lẽ lúc này, Bashô đă vào giúp việc cho nhà Yoshitada, thân nhân trẻ của vị lănh chúa cai quản địa phương.

Nhật Bản đang ở giữa thời Shôgun Tokugawa đời thứ 4 Ietsuna. Hoàng đế Khang Hy nhà Thanh mới tức vị.

1662  (19 tuổi):

Viết vần thơ đầu tiên (chủ đề năm mới) được biết cho đến nay.

Có lẽ lúc này Bashô vào giúp việc bếp núc cho gia đ́nh Tôdô Yoshitada, kế tử của một lănh chúa lương 5.000 thạch thóc. Từ năm 1661, ông đă bắt đầu theo học haikai với Kitamura Kigin北村季吟, một nhân vật quan trọng của phái Matsunaga Teitoku. Bashô mang bút hiệu Sôbô (Tông Pḥng) từ dạo này.

Tokugawa Mitsukuni, phiên chủ phiên Mito mời di thần nhà Minh là Chu Thuấn Thủy sang Nhật.

1664  (21 tuổi): 

Hai bài thơ của Sôbô (Bashô buổi đầu) đă được đăng trong Hẻm núi Sayo no Nakayama (Sayo no Nakayama) do Junrai biên tập.

1665  ( 22 tuổi): 

Ông tham dự vào hội thơ kỷ niệm lần thứ 13 húy nhật của Matsunaga Teitoku松永貞徳 do Yoshitada (bút hiệu Sengin) chủ tŕ.

1666  (23 tuổi):

Yoshitada mất v́ bệnh (25 tuổi). Bashô từ chức và bước vào cuộc đời lang bạt trong một khoảng thời gian dài. H́nh như ông lên sống ở Kyôto một thời gian. Có khi ông đến nương tựa người anh, khi lại giao du với Kigin, khi th́ muốn đi tu. Có ít nhất bốn bài haiku của Bashô dưới bút hiệu Sôbô đă được đăng trong tuyển tập Gấm đêm (夜の錦Yo no nishiki) do Naitô Fuuko, lănh chúa phiên Iwaki Taira, biên tập.

Nhà tư tưởng Yamaga Sokô bị mạc phủ giam lỏng.

 1667 (24 tuổi)

Tác phẩm Giếng núi, tập tiếp theo (Zoku-Yamanoi) do Kitayama Koshun biên tập có đăng 28 hokku của Sôbô (Bashô).

Bên Anh, John Milton viết xong Thiên đàng lỡ (Paradise Lost).

 1669  (26 tuổi)

Tác phẩm Ngọc như ư ( Nyoihôshu) của Ogino Ansei có cho vào tập 6 bài thơ của Sôbô (Bashô).

1670  (27 tuổi):

 Tác phẩm Hành hương trên đất Yamato (Yamato Junrei) của Okamoto Seishin có đăng 2 bài của Sôbô (Bashô).

Ở Pháp, Pascal hoàn thành tập nghị luận Suy tưởng (Pensée).

 1672  (29 tuổi):

Cúng dường (tiếng Nhật dùng từ Hán phụng nạp) Tṛ chơi bốc vỏ ṣ (Kaiôi) - thành quả của Hội b́nh thơ 30 hiệp (Sanjuuban Hokkuawase) - cho một ngôi đền ở Ueno. Sau đó lên Edo đi t́m cuộc đời mới và chuyển hẳn từ phong cách Teimon của Matsunaga Teitoku sang phong cách Danrin của Nishiyama Sôin.

Nhà thám hiểm Kawamura Zuiken t́m ra đường biển ṿng phía Tây nối kinh đô với miền bắc Nhật Bản.

 1674  (31 tuổi):

 Được Kitamura Kigin phái Danrin truyền cho Haikai bị chôn vùi Haikai Umoregi 俳諧埋もれ木, tác phẩm ghi chép bí quyết của renku và haiku.

 1675  (32 tuổi):

Tham dự cuộc tiếp rước người lănh đạo phái Danrin là Nishiyama Sôin 西山宗因lúc ông này qua miền Đông. Bashô đổi bút hiệu từ Sôbô sang Tôsei.

Các xứ Yamato, Settsu, Kawachi đều bị nạn đói. Mạc phủ phải cứu trợ.

1676  (33 tuổi):

Cùng với Yamaguchi Shinshô山口信章 (Tín Chương) 山口素堂 (hiệu Sodô = Tố Đường) viết một bài song ngâm (ryôgin), sau có biên thành tập hai trăm vần nhan đề Tập song ngâm ở Edo (江戸両吟集Edo ryôginshuu) và cúng dường cho đền Tenmanguu. Về thăm Ueno trong một chuyến đi ngắn ngủi vào dịp hè, có cháu là Yuushi 猶子và học tṛ là Tôin桃印 theo cùng.Trong Liên châu, tập tiếp theo (続連珠Zoku Renju) của Kitamura Kigin thấy chép  6 hokku và 4 tsuiku của Sôbô-Tôsei (Bashô).

1677  (34 tuổi):

Mùa đông, cùng soạn với Shintoku 信徳 và Shinshô信章 một renku tam ngâm bách vận hai quyển.

Tháng 8, xảy ra vụ dân oan ở phiên Gujô xuống Edo khiếu kiện.

1678  (35 tuổi):

Soạn thêm tam ngâm bách vận với Shintoku và Shinshô. Cho in tất cả thành Edo tam ngâm bách vận (江戸三吟百韻Edo sangin hyakuin). Viết những lời b́nh luận cho Hội b́nh thơ mười tám hiệp đấu (Juuhachiban kuawase) của nhóm Kishimoto Chôwa.

 Kép Kabuki Sakata Juujirô đời thứ nhất lần đầu lên sân khấu ở Ôsaka diễn loại tuồng Wagoto với chủ đề t́nh yêu, luyến ái nam nữ.

1680  (37 tuổi):

Xuất bản Những vần thơ hay nhất của 20 môn đệ Tôsei (Tôsei Montei Dokugin Nijikkasen), tuyển tập của hai mươi đệ tử đắc ư. Làm chủ khảo Hội b́nh thơ dân dă (Inaka kuawase) do đệ tử là Sampuu và Hội b́nh thơ trường xuân (Tokiwaya kuawase) do đệ tử là Kyorai đề xướng. Nhập cư am Bashô đầu tiên (Am Bashô I).

Tướng quân đời thứ 4 là Ietsuna mất (40 tuổi). Theo di chúc của ông, Tsunayoshi trở thành Shôgun đời thứ 5.

 1681  (38 tuổi):

 Mùa thu, bắt đầu dùng Haseo, Baseo, Baseu tức những tự dạng khác nhau của Bashô để làm biệt hiệu.

 1682  (39 tuổi):

Am Bashô I bị thần hỏa thiêu rụi v́ ngọn lửa phát ra từ chùa Daienji. Ông xuống vùng Kai (gần Tôkyô, thuộc tỉnh Yamanashi bây giờ), tạm trú ít lâu.

Nishiyama Sôin mất (78 tuổi)

 1683  (40 tuổi)]

Việc biên tập Những hạt dẻ rỗng (Minashiguri) hoàn thành. Mẹ ông qua đời ở Ueno. Am Bashô mới (Am Bashô II) được dựng lên.

Mitsui Takatoshi (tổ tập đoàn tài phiệt Mitsui) mở hăng đổi chác tiền bạc quí kim ở Edo.

1684 (41 tuổi):

Cùng với đệ tử là Naemura Chiri 苗村千里bắt đầu làm chuyến hành tŕnh về miền Tây mà thành quả là tập du kư mang tên Dọc đường mưa gió (Nozarashi Kikô) tức Giáp Tư ngâm hành (Kasshi Ginkô). Khi ghé Nagoya, ông hướng dẫn những nhà thơ trẻ địa phương và cùng soạn liên ngâm Mặt trời mùa đông (Fuyu no hi). Sau khi về đến Iga Ueno được dăm hôm, ông đă tiếp tục thăm những vùng Yamato, Yoshino, Yamashiro... đến tháng 9 th́ đặt chân ở Ôgaki (tỉnh Gifu bây giờ) để thăm Tani Bokuin谷木因. . 

Mạc phủ ban lệnh kiểm soát ngành xuất bản.

 1685  (42 tuổi):

Về cố hương Iga Ueno ăn Tết. Sau đó đi Nara xem lễ múc nước (mizutori) ở chùa Tôdaiji. Giữa tháng 3, ghé Ôtsu (tỉnh Shiga), Atsuta, Narumi (tỉnh Aichi) ... ở đâu cũng tham dự các hội b́nh thơ.

Takimoto Gidayu sáng lập rạp kabuki Takemoto-za ở Ôsaka. Họa sư phái Tosa là Sumitomo Tomoyoshi được vời vào làm việc cho Mạc phủ.

1686  (43 tuổi):

Viết những lời b́nh mà ngày nay được biết dưới cái tên Lời b́nh cho những vần thơ đầu năm (Hatsukaichi Hyôchuu). Bài thơ nổi tiếng Furuikeya/ Kawadzu tobikomu /Mizu no oto được làm ra và đăng trong tập Hội b́nh thơ con ếch (Kawadzu Awase) gồm 20 hiệp đấu.

Nhà văn Ihara Saikaku xuất bản tiểu thuyết Năm người đàn bà đa t́nh (Kôshoku Gonin Onna).

1687  (44 tuổi):

Tháng 8, đi thăm đền Kashima có Sora 曽良và Sôha宗波 tháp tùng. Viết nên Chuyến hành hương đền Kashima (Kashima Môde). Chủ khảo một cuộc thi thơ mà về sau nội dung được ghi lại trong tập Cánh đồng bất tận (Tsuzuki no hara). Tháng 10, làm chuyến lữ hành để viết nên Tráp đeo lưng cũ (Oi no kobumi) . Cuối năm về lại quê nhà Iga Ueno.

1688  (45 tuổi):

Đầu năm, tham bái Thần cung Ise. Tháng ba, sau khi xem hoa anh đào với Tokoku 杜国ở Yoshino (tỉnh Nara), du lịch các vùng Kôyasan, Nara, Ôsaka, Suma, Akashi, tháng tư th́ về Kyôto. Tháng 5 đi thăm các vùng Ôtsu, Owari, Nagoya, Atsuta, Narumi... đâu đâu cũng tham dự các cuộc b́nh thơ. Trở về Edo vào mùa thu rồi cùng Etsujin 越人làm chuyến du ngoạn ở Sarashina, viết thành Chuyến viếng thăm thôn Sarashina (Sarashina Kikô).

Thời Genroku, một giai đoạn văn hóa xán lạn bắt đầu. Nhà nghiên cứu Keichuu viết Vạn Diệp Đại Tượng Kư Man.yô Daishôki nghiên cứu Vạn Diệp Tập (Man.yôshuu)

 1689  (46 tuổi):

Với Sora, hành tŕnh suốt những tỉnh miền bắc trên đảo Honshuu (Nikkô, Shirakawa, Matsushima, Hiraizumi, Obanazawa, Dewa sanzan, Sakata, Kisagata, Izumozaki, Kanazawa, Fukui, Tsuruga...), cuối cùng ngừng bước ở Ôgaki. Chuyến đi đă giúp tư liệu để viết Đường ṃn miền Bắc (Oku no hosomichi), sẽ được biên tập ít lâu sau. Tháng 9 về quê rồi đi thăm lại Nara, Kyôto, Ôtsu. Cuối năm, đón xuân ở Zeze. Gichuuji 膳所義仲寺 (tỉnh Shiga). Chùa Gichuuji (Nghĩa Trọng Tự) là nơi có ngôi mộ của danh tướng thời Kamakura là Minamoto no Yoshinaka (Nguyên Nghĩa Trọng, 源義仲) tức Mộc Tăng Nghĩa Trọng (木層義仲).

Tháng 11, Shibukawa Shunkai thiết lập đài thiên văn ngay trong phủ đệ của ḿnh ở Honjô (thuộc Edo).Tháng 12, Kitamura Kigin và cha con Koshun trở thành cố vấn về thi ca cho Mạc phủ.

1690  (47 tuổi):

Rời Gijuujii, thăm bạn bè và học tṛ vùng Kyôto. Ở lại Am Huyễn Trú (Genjuuan) bên bờ hồ Biwa một vài tháng hè. Kỷ niệm về thời gian này được đúc kết trong Ghi chép về am Huyễn Trú (Genjuuan ki). Lại bỏ Genjuuan về Zeze ngụ ở Am Vô Danh (無名庵Mumyôan) trong khuôn viên Gijuuji đến tận năm sau.

Mạc phủ ra lệnh cho nho gia Hayashi Hôkô dời nhà học từ tư dinh về khu Yushima nhằm nâng cao vai tṛ Khổng giáo. Y sư người Đức Engelbert Kaempfer của Thương quán Hà Lan đến Nhật.

1691  (48 tuổi):

Dừng chân ở Ngôi nhà những quả hồng rụng (Rakushisha) khoảng hơn hai tuần trong mùa hè và viết Nhật kư Saga (Saga Nikki). Xuất bản Áo tơi cho khỉ (Sarumino). Từ tháng 5, dọn đến nhà học tṛ là Bonchô ở Kyôto rồi tháng 6 lại về Zeze. Gichuuji. Chỉ trở lại Edo vào khoảng cuối năm.

Mạc phủ bắt nho gia để tóc, cấm phái Hiden của tông Nichiren hoạt động. Mitsui Takatoshi trở thành người đổi tiền cho nhà nước.

 1692  (49 tuổi):

Am Bashô được dựng lại lần thứ hai (Am Bashô III) nhờ sự quyên góp do các môn đệ như Sampuu, Sora và Tarasui岱水... thực hiện. Bashô nhân đấy viết một bài haibun về việc chuyển trồng mấy bụi chuối.

Tháng 1, Ihara Saikaku cho in tiểu thuyết Những tính toán người đời vào ngày cuối năm Seken munesanyô .

1693  (50 tuổi):

Viết b́nh luận về thơ nay được biết dưới tên Những lời b́nh đêm thu (Aki no Yo Hyôgo). Đóng cửa tạ khách một thời gian.

1694  (51 tuổi ta):

Cho xuất bản Bị đựng than (Sumidawara). Tháng năm, cùng con trai bà Jutei là Jirôbe về Iga Ueno. Cho đến trung tuần tháng bảy, đi thăm Ôtsu, Kyôto và có ghé lại Rakushisha ở Saga. Luôn miệng giảng giải về khái niệm nhẹ lâng (karumi). Bà Jutei mất trong thời gian giữ am cho Bashô ở Fukagawa (Edo). Buồn, ông lui về Vô Danh Am (Mumyôan) ở Zeze. Gichuuji tĩnh dưỡng. Ngày Vu Lan trở lại quê nhà nhưng không bao lâu lên đường đến Ôsaka sau một đêm ghé Nara. Bệnh cũ tái phát. Lại mắc chứng cảm lạnh, nhức đầu phải nằm liệt giường ở nhà trọ của Hanaya Niemon ở Ôsaka. Thần sắc ngày càng suy sụp. Nhờ học tṛ là Shikô 支考 thảo ba bức di chúc trong đó có một dành cho người anh cả, Hanzaemon. Chết ở Ôsaka vào đầu mùa thu và theo nguyện vọng, được chôn trong khu vực Gichuuji bên bờ hồ Biwa.


 

[1] Gần đây có thuyết cho rằng được thuê làm người hầu cận hay giữ việc bếp núc, trông coi lương thực cho gia đ́nh Yoshitada.

[2] Theo Takeda Tomohiro trong luận đề của ông về Oku no hosomichi, cho biết v́ ngưỡng mộ Lư Bạch, Bashô đă lấy hài hiệu (biệt hiệu để viết haiku) là Đào Thanh. Đào đối với Lư và Thanh đối với Bạch.  

[3] Kawai Sora ( 河合曽良, 1649-1710), học tṛ yêu của Bashô. Ông sống gần bên Am thầy, ngày thường vẫn lui tới viếng thăm. Có lẽ v́ mối liên hệ thân thiết ấy nên Bashô thường chọn ông làm người tháp tùng trong những chuyến đi.

[4] Tiếng Anh trong tác phẩm Ueda Makoto là The Narrow Road to the Deep North. Có thể dịch: Lối nhỏ lên vùng Oku hay Đường hẹp vào nơi sâu thẳm, tùy theo cách hiểu.

[5] Tác phẩm của Kondô Sakichi近藤佐吉tức Kondô Romaru近藤呂丸 (năm sinh và mất không rơ) , một nhà thơ lớp sau, gốc nhà thợ nhuộm, ngưỡng mộ Bashô, đă có lần được gặp. Ông đă đề cập đến lư luận “bất dịch lưu hành” (mọi vật lưu chuyển trong sự bất biến) của Bashô và khuyên người làm thơ “không được rời xa cái hồn của đại tự nhiên”, đúng như điều thi hào đă chủ trương.

[6] Tác phẩm của Tachibana Hokushi 立花北枝 ( ? – 1718) một đệ tử đến muộn (1689) của Bashô, nhập môn ông trong chuyến nhà thơ đi lên miền Bắc. Ông trước làm nghề mài kiếm. Ca ngợi t́nh cảm yêu chuộng sự cao khiết thanh bần, xa rời thế tục thấy trong thơ của thầy. Nhan đề c̣n có thể lồng ư “Sơn trung vấn đáp” (Chuyện văn trong núi) từ một bài thơ của Lư Bạch ca tụng cảnh nhàn.

[7] Người Nhật chỉ dùng Dương lịch kể từ năm 1873. Cho đến lúc đó họ theo âm lịch . Năm của họ lúc đó bắt đầu chậm hơn lịch Gregorian khoảng một tháng.

[8] Trong nguyên văn Ueda Makoto viết bằng mẫu tự La Tinh nên người dịch không rơ âm Hán tên hai vị này. Tuy nhiên trong phần ghi chú Ueda có giải thích: Sun Ching là một học giả đời Tam Quốc, đóng cửa đọc sách suốt ngày. Nghe kể rằng ông treo tḥng lọng vào cổ để khỏi ngủ gật khi đọc sách ban đêm. C̣n Tu Wu-lang là một học giả lập dị đời Tống, chỉ thích nằm nhà, có sách chép 30 năm ông ta không ra khỏi cửa một lần.

[9] Cái tên triêu nhan trong tiếng Hán hay morning glory trong tiếng Anh dễ làm ta lạc hướng v́ tưởng nó phải là một thứ hoa đài các. Triêu nhan (mặt tươi tỉnh như người vừa dậy sớm) chỉ là hoa b́m b́m, một loài hoa dân dă, thân dây leo, ḅ lan và v́ sinh ra quá nhiều nên không được quí. Thực ra loại hoa này có nhiều màu từ trắng, hồng, xanh đến tím, nhàn nhạt, rất quyến rũ. Ở Nhật, nó tượng trưng cho cuộc sống ẩn dật, thanh nhàn.

[10] Quang cảnh bên giường bệnh này tả lại trong Kareno (Cánh đồng khô) một đoản thiên phúng thích của Akutagawa Ryuunosuke (NNT dịch trong Trinh Tiết, 2004, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội).

 


* Nguyễn Nam Trân :

Một trong những bút hiệu của Đào Hữu Dũng, sinh năm 1945 gần Đà Lạt. Nguyên quán Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo học Chu Văn An (1960~1963) và Đại Học Sư Phạm Sài G̣n trước khi đến Nhật năm 1965. Tốt nghiệp Đại Học Đông Kinh (University of Tokyo) và Đại Học Paris (Pantheon-Sorbonne). Tiến sĩ khoa học truyền thông. Giáo sư đại học. Hiện sống ở Tokyo và Paris. E-mail: dhdungjp@yahoo.com

.........................

® "Khi phát hành lại bài viết của trang này cần phải có sự đồng ư của tác giả (dhdungjp@yahoo.com)
và ghi rơ nguồn lấy từ www.erct.com