Trong lănh vực văn bút, để tri ân một sự nghiệp hay
khẳng định một tài năng, người ta thường phát những giải thưởng,
quốc tế hay quốc nội. Trên thế giới, các giải Nobel văn chương,
Bookers’, Pulitzer, Goncourt, Interallié, Femina, Renaudot,
Medicis...là những giải được biết đến nhiều nhất. Ở Nhật, đó là
những giải Akutagawa, Naoki, Noma, Mainichi, Yomiuri, Gunzô vv...

Đôi bạn văn Kikuchi và Akutagawa
Tên chính thức của Giải Akutagawa là Akutagawa
Ryuunosuke Shô (Giải thưởng Akutagawa Ryuunosuke). Giải văn chương
này được lập ra bởi một người bạn thân của văn hào Akutagawa
Ryuunosuke (1892-1927) là Kikuchi Kan (1888-1948) vào năm 1934
(Shôwa 9) sau khi Akutagawa đă quá cố và giải chỉ được bắt đầu
trao từ mùa xuân năm 1935. Về Kikuchi Kan th́ ông không những là
một nhà văn tên tuổi mà c̣n là một nhà kinh doanh có tài, chủ nhân
của cơ sở phát hành tạp chí Bungei Shunjuu (Văn Nghệ Xuân Thu).
Lúc sinh tiền, ông được đánh giá như chủ tể của văn đàn Nhật Bản
và là người có thế lực trong lănh vực chính trị suốt khoảng thời
gian trước và giữa chiến tranh.
Giải có cơ sở vật chất là Công ty phát hành và tạp
chí Bungei Shunjuu, được điều hành bởi những người phụ tá của
Kikuchi Kan và các nhân viên của cơ sở này.
Nhật Bản có nhiều giải văn chương thật đấy nhưng
khi nói đến giải thưởng quan trọng và uy tín nhất, người thường
nghĩ ngay đến Giải Akutagawa.Trong khi chờ đợi những nhà văn và
tác phẩm Nhật Bản cận và hiện đại đi vào văn học sử, thiết tưởng
cũng nên t́m hiểu về Giải Akutagawa và những đóng góp dọn đường
rất quan trọng của nó. Giải tượng trưng cho một sinh hoạt văn hóa
toàn diện v́ ngoài tác giả, tác phẩm, giám khảo, nó c̣n liên quan
đến văn đàn nói chung, giới xuất bản, giới truyền thông và dĩ
nhiên là độc giả.
Đối tượng giải
Giải Akutagawa có mục đích khám phá những tài năng
mới (shinjin 新人).
Cho đến nay, các tác phẩm được tuyển thường là truyện ngắn hay
truyện nhỡ. Lư do thứ nhất là v́ bản thân văn hào Akutagawa chỉ
viết theo hai thể loại này. Lư do thứ hai là tác phẩm được đề
cử để đánh giá đều đă in trên nhật báo hay tạp chí
trước đó mà báo chí th́ số trang có hạn (trừ phi là truyện dài
đăng nhiều kỳ). V́ vậy, tuy phần đông các người lănh giải được xét
qua một tác phẩm nhưng có người cần phải xét trên hai hay ba mới
đủ tiêu chuẩn.
Nói chung th́ tác phẩm đoạt giải Akutagawa phải có
tính chất thuần túy văn học, nếu không th́ nó đă trở thành đối
tượng tuyển khảo của Giải Naoki, một giải vốn cũng do Kikuchi Kan
thành lập nhưng có tính đại chúng hơn. Tuy vậy, phân biệt thuần
văn học và văn học đại chúng là việc không dễ ǵ. Việc này đă đưa
đến tranh căi thường xuyên trong hàng ngũ ban giám khảo.
Nội dung giải thưởng
Nói về vật chất th́ ngày nay, người thắng giải được
tặng món quà kỷ niệm là một chiếc đồng hồ quả quưt bằng bạc và
tiền thưởng 1 triệu Yen (khoảng USD 10.000). Việc tặng đồng hồ
bằng bạc là một truyền thống đă có từ lâu trong các đại học để
tưởng thưởng các sinh viên có thành tích cực kỳ ưu tú. Một triệu
Yen thời giá bây giờ đối với một nhà văn Nhật th́ không nhiều ǵ
nhưng việc tác phẩm của họ được tự động đăng lại trên tạp chí
Bungei Shunjuu, được giới truyền thông, phát hành và độc giả chiếu
cố là một tặng vật vô giá v́ những vinh dự tinh thần ấy có thể mở
đường cho người trúng tuyển bước vào văn đàn.
Giám khảo
Ban giám khảo trên dưới 10 vị, thường gồm 3 loại
người: các nhà văn thành danh (như Kikuchi Kan, Kawabata Yasunari,
Tanizaki Jun.ichirô, Yokomitsu Riichi, Ôoka Shôhei, Mishima Yukio,
Ibuse Masuji...), các nhà phê b́nh văn học (như Nakamura Mitsuo,
Kawakami Tetsutarô...) và các nhà văn trong quá khứ từng đoạt giải
Akutagawa (như Endô Shuusaku, Ôe Kenzaburô, Yoshiyuki Junnosuke,
Ishihara Shintarô, Murakami Ryuu, Ogawa Yôko...) . Tuy nhiên, như
sẽ khai triển trong phần sau của bài viết này, áp lực của xă hội
bên ngoài đến việc trao giải rất quan trọng, điển h́nh là sự can
thiệp gián tiếp của cơ quan tổ chức và các nhà xuất bản, giới
truyền thông cũng như dư luận.

Nakamura Mitsuo
Tuy có những giám khảo gắn bó rất lâu với giải (như
Kawabata Yasunari (từ 1935 đến 1971), Satô Haruo, Nakamura Mitsuo
...) nhưng thành phần ban giám khảo thường được thay máu mới để
giải khỏi rơi vào bệnh xơ cứng, nhất là khi các thí sinh là những
khuôn mặt trẻ, cách viết và nội dung chưa chắc thích hợp với một
ban giám khảo qui tụ toàn những người lớn tuổi và đă giữ vị trí từ
lâu.
Các giám khảo họp nhiều lần để tuyển chọn và thẩm
nghị. Có lúc phải họp lâu và nhiều lần nhưng có lúc họp nhanh và
chỉ cần một lần nếu giữa họ sớm có sự đồng thuận.
Những lần không phát giải
Không hiểu có phải v́ do tạp chí Bungei Shunjuu
(Văn Nghệ Xuân Thu) tổ chức hay không mà giải được phát một
năm hai lần, vào mùa xuân (từ đây viết tắt
là X) và mùa Thu (T). Tuy vậy, giải không được trao một
cách liên tục. Có giai đoạn không phát giải (như thời kỳ bất ổn
1945-49) khi nhà đương cục Mỹ của lực lượng chiếm đóng (G.H.Q)
đang thanh lọc các nhà văn dính dấp đến chế độ quân phiệt (trong
đó có cả Kikuchi Kan) cũng như ảnh hưởng của họ đối với xă hội hậu
chiến.
Cho đến nay, có đến trên 30 lần giải đă không được
trao cho ai cả. Lư do của việc này khá phức tạp: có thể là vào
thời điểm ấy, không có ai xứng đáng hoặc đă có một sự bất đồng ư
kiến giữa các giám khảo và họ không t́m ra giải pháp thỏa hiệp.
Tuy vậy có lúc, hai người được lănh giải trong cùng một lần. Điều
này cũng có thể tạm giải thích bằng việc có nhiều tác giả ưu tú
xuất hiện đồng thời hoặc là dù hai nhóm giám khảo cực lực bảo vệ
thí sinh họ đưa ra nhưng đă biết nhượng bộ nhau.
Nhà nghiên
cứu Kawaguchi Norihiro
đă chia lịch sử Giải Akutagawa cho đến ngày nay làm 8 thời kỳ,
chiếu theo đặc tính của mỗi thời kỳ:
Tám thời
kỳ
1)
Thời kỳ khai sinh (1934-1944): giai đoạn Giải c̣n
đang trên đường thiết lập uy tín.
2)
Thời kỳ biến chất (1945-1954): khi quyền uy của
giám khảo sang tay các nhà xuất bản.
3)
Thời kỳ lệch hướng (1955-1968): Giải đi ra ngoài
khuôn khổ việc t́m kiếm những khuôn mặt mới.
4)
Thời kỳ náo nhiệt (1969-1979): thời gian các tác
phẩm ăn khách thay nhau ra đời.
5)
Thời kỳ trầm trệ (1980-1987): những năm thường
xuyên vắng giải.
6)
Thời kỳ mỏi ṃn (1988-1999): giai đoạn chất lượng
xuống thấp.
7)
Thời kỳ quyết định đơn độc (2000-2012): đặt nặng
vai tṛ chỉ đạo của tờ báo tổ chức Giải (Bungei Shunjuu).
8)
Thời kỳ tiếp nối (kể từ 2012 đến nay): những nhà
văn “không chính thống” bắt đầu đăng đàn.
Dưới đây, hăy thử theo dơi những nét đặc trưng của 8 giai đoạn đó:
Thời kỳ khai sinh (1935-1944):
Giải thưởng văn học xuất hiện ở Nhật từ lúc nào?
Thực ra có nhiều thuyết. Kawaguchi có nói đến loại “tiểu thuyết
được treo giải” (kenshô shôsetsu懸賞小説)
và cho rằng nó đă bắt đầu có khoảng thập niên 1890, trước sau cuộc
Chiến tranh Nhật Thanh. Ông cho biết nhà văn Takayama Chôgyuu
(1871-1902) khi lănh giải Nhật báo Yomiuri vào năm 1893 có lẽ đă
trở thành người đầu tiên ở Nhật nhận một giải thưởng văn chương.
Ngoài ra từ năm 1911, Bộ Quốc Gia Giáo Dục (Mombushô) cũng đă lập
ra một ủy ban đánh giá các tác phẩm để tặng thưởng và những tên
tuổi như Natsume Sôseki, Shimazaki Tôson, Nagai Kafuu, Tanizaki
Jun.ichirô, Masamune Hakuchô, Yosano Akiko...đều nằm trong tầm
nhắm của họ. H́nh như đề nghị tặng thưởng cho một tác phẩm văn
chương có thể đă đến từ Mori Ôgai (1862-1922), sau khi ông du học
bên Đức về, lấy cảm hứng từ tập quán ở các nước Âu châu.
Giai đoạn này Giải mới ra đời, cho đến phương châm
và cách điều hành cũng chưa được qui định rơ và hăy c̣n đang gây
uy tín. Tiền thưởng thời đó chỉ có 500 Yen. Ban giám khảo đầu tiên
có một số nhà văn nhà thơ đă thành danh như Kikuchi Kan (Bungei
Shunjuu), Kawabata Yasunari, Tanizaki Jun.ichirô, Kume Masao,
Muroi Saisei, Yamamoto Yuuzô, Yokomitsu Riichi, Satô Haruo, Sasaki
Môsaku (Bungei Shunjuu), Takii Kôsaku (Bungei Shunjuu) và Kojima
Masajirô góp mặt. Giải Akutagawa lần đầu tiên (X1935) được trao
cho Ishikawa Tatsuzô với Sôbô (Dân đen), tác phẩm miêu tả cuộc
sống của những người di dân sang Brazil đang đợi tàu thủy ở hải
cảng Kobe. Lần đầu tiên đó đă xuất hiện một ứng viên tên
là...Dazai Osamu, và như ta biết, tuy là một cây bút lớn, rất mực
tài hoa, ông mang một nỗi hận là không bao giờ được giải
Akutagawa!

Dazai Osamu
Nếu T1935 không có ai th́ kỳ tuyển khảo X1936, hai
người được phát giải: Tsuruta Tomoya với Koshamain ki (Truyện về
Koshamain) và Oda Takao với Jôgai (Bên ngoài bờ thành). Koshamain
là tên một người anh hùng kháng chiến của dân tộc Ainu. Truyện kư
lịch sử này đậm chất trữ t́nh. “Bên ngoài thành” nói về mối t́nh
của một viên lănh sự Nhật với cô gái người Hàng châu tên là A Ma
trong khung cảnh thành phố Trung Quốc này. Đến T1936 th́ Ishikawa
Jun với Fugen (Bồ tát Phổ Hiền) và Tomizawa Uio với Chichyuukai
(Địa Trung Hải) đều được giải. Trong “Bồ tát Phổ Hiền”, Ishikawa
Jun thuật lại mối giao t́nh giữa một người sống bằng ng̣i bút với
nhóm bạn bè trong đời thường của anh ta. “Địa Trung Hải” đưa người
đọc về với thế giới của tác giả, vốn là một nhà hội họa hiểu biết
nhiều về nước Ư và châu Âu.
Giải X1937 về tay Ozaki Kazuo với Nonki megane (Cặp
kính lạc quan). Đây là một tập gồm 9 truyện tả lại cuộc sống gia
đ́nh, có ly hôn, tái hôn...của tác giả.
Từ thời điểm này, giải Akutagawa bắt đầu có tiếng
vang. Người lănh giải, hôm trước c̣n không ai biết đến, hôm sau đă
được người ta t́m đọc. Giải T1937 được trao cho Hino Ashihei nhờ
Funnyôtan (Truyện cứt đái), tác phẩm độc đáo tả cuộc sống gian khổ
của những thường dân làm nghề đổ thùng. Lúc nhận giải thưởng, nhà
văn đang ṭng quân ở Trung Quốc. Nhân đó mà việc lănh giải của ông
được thổi phồng v́ từ năm 1937, cuộc chiến Nhật Trung đă mở màn từ
sau sự biến Lư Câu Kiều. Nhà phê b́nh Kobayashi Hideo được ủy thác
trao giải cho Hino ngoài chiến trường. Hino trở thành “nhà văn yêu
nước” ăn khách và được giới truyền thông đưa đón
X1938 chứng kiến Nakayama Gishu lên ngôi với tác
phẩm Atsumonozaki (Cúc đại đóa nở) với chủ đề về một t́nh bạn lâu
năm xen lẫn thèm thuồng và ganh tị giữa hai ông già. T1938 vinh
danh Nakazato Tsuneko qua hai tác phẩm của bà là Noriai basha
(Chuyến xe ngựa) và Nikkôshitsu (Căn pḥng ngập nắng). Đó là người
phụ nữ đầu tiên thắng giải. Tác phẩm của bà khai triển đề tài hôn
nhân quốc tế. Giám khảo Kume Masao ví văn phong của bà ngọt ngào
như vị bánh dâu kem.
Từ X1939, nhà văn Uno Kôji gia nhập ban giám khảo.
Đó cũng là năm giải được trao cho Hase Ken với Asakusa no kodomo
(Đứa bé ở Asakusa) và Handa Yoshiyuki với Tori sôdô (Ồn ào chuyện
gà qué). Tác phẩm trước nói về một đứa bé gái hoang đàng trong khu
Asakusa, tác phẩm thứ hai nói về t́nh bạn nẩy sinh giữa một bà già
làm nông bị xóm giềng ghét bỏ và một người Nga lưu lạc. T1939 cũng
là lần thứ 10 giải được trao. Kỳ này Samukawa Kôtarô gom được hết
phiếu để đánh bạt địch thủ gốc Hàn là Kim Saryan (Kim Sử Lương)
và thắng giải với Mitsuryôsha (Kẻ đi săn lậu). Tác phẩm mang màu
sắc lăng mạn, kể lại cuộc sống của phường săn miền Bắc, chiến đấu
với cả những con gấu trắng giữa một thiên nhiên hoang dă. Tuy
thành công một cách vinh quang như thế nhưng bước vào thời hậu
chiến, Samukawa đă bắt buộc phải chuyển hướng, chỉ viết văn theo
thị hiếu đại chúng một cách xô bồ để rồi biến mất khỏi ḍng văn
học sử. Trong khi đó, người thua cuộc là Kim lại trở thành trụ cột
của văn học của người Triều Tiên trên đất Nhật cho đến ngày ông
hồi hương năm 1942.
Ở X1940 xảy ra một chuyện lạ là Takagi Taku với Uta
to mon no tate (Khúc hát và tấm lá chắn của cánh cổng) đă từ chối
giải. Ông là một giáo sư
tiếng Đức, hay viết tiểu thuyết lịch sử và đă vào chung kết hồi
X1936 với Kentôsen (Thuyền đi sứ sang nhà Đường). Không biết v́
ông khiêm tốn cho rằng tác phẩm của ḿnh lần này không xứng đáng
được giải hay đă đánh mất ḷng tin nơi cách đánh giá của ban giám
khảo. Giải T1940 về tay Sakurada Tsunehisa qua tác phẩm Hiraga
Gennai (1728-1779), mang tên một nhà phát minh đại tài và cũng là
một nhân vật giàu tính huyền thoại của thời Edo.
Vào đầu thập niên 1940, chiến cuộc trở nên khốc
liệt, văn đàn chịu ảnh hưởng lây. Các nhà văn bắt đầu mượn bối
cảnh chiến trường làm đề tài. Tác phẩm được giải X1941 là Chôkô
Deruta (Châu thổ sông Dương Tử) của Tada Yuukei nói về liên hệ
giữa một anh tư chức Nhật và hai chị em cô gái Trung Quốc trong
khung cảnh vùng Giang Nam. Đối thủ của ông chọn một đề tài có tính
nghệ thuật nhiều hơn, đă bị đánh bại bởi một lá phiếu vào phút
cuối. Người đoạt giải T1941 là Shibaki Yoshiko cũng chọn đề tài là
khung cảnh thời chiến nhưng liên quan đến t́nh h́nh kinh tế quốc
nội. Trong Seika no ichi (Chợ rau quả), nhân vật chính là hai chị
em bán hàng đă nói lên tâm trạng bất măn của người dân thành phố
trước sự kiểm soát càng ngày càng chặt chẽ của chính phủ đối đời
sống kinh tế. Tuy trao giải, trước đó ban giám khảo đă bắt Shibaki
Yoshiko phải sửa một số đoạn mà họ xem là quá nhạy cảm để được
công bố.
Đến X1942, một ứng viên tài năng, người của chiến
trường phương Nam, là Nakajima Atsushi đă vào ṿng chung khảo
nhưng lần đó không ai được giải. Nakajima qua đời ngay năm đó.
Người đoạt giải T1942 là Kuramitsu Toshio. Tác phẩm Renrakuin
(Người giao liên) th́ mô tả đúng những ǵ như cái tựa. Cần nói
thêm rằng ngoài Giải Akutagawa, Kuramitsu c̣n được tặng thêm giải
thưởrng của Hôkokukai (Báo Quốc Hội), một tổ chức cổ vũ chiến
tranh do chính quyền quân phiệt lập ra. Lănh thưởng xong là được
gửi đi làm phóng viên chiến trường. Sau chiến tranh, ông chỉ c̣n
có thể khai thác mảng văn học đại chúng hoặc phải “viết chui”.
Nhiều giám khảo mới gia nhập kể từ X1943, trong đó
có Kataoka Teppei, Kawakami Tetsutarô, Kishida Kunio và Hino
Ashihei. Các người cũ như Kawabata, Satô, Yokomitsu và Takii vẫn
trụ lại được. Qua những gương mặt mới, ta thấy có một sự hữu
khuynh hóa trong thành phần ban giám khảo. Bungei Shunjuu cũng cử
người đi mở một cơ sở mới ở Măn châu. Ishizuka Kikuzô, thắng giải
X1943, kể chuyện t́nh cảnh cư dân Mông Cổ bị bắt phải theo tục bó
chân của người Tàu và tác phẩm Tensoku no koro (Thời c̣n bó chân)
của ông đă được đăng trên Tạp chí Mông Cương văn học (của Mông Cổ
và Tân Cương), chứng tỏ có một khuynh hướng mở rộng biên giới nếu
không nói là góp sức cho tuyên truyền chính trị trong cách chọn đề
tài của nhà văn thời đó, ít nhất là liên quan đến vùng Đông Bắc Á.
Như là một phản ứng ngược lại với trào lưu nói
trên, giải T1943 đă được tặng cho Washi (Giấy Nhật) của Tônobe
Kaoru, một tác phẩm nói về những người làm giấy theo phương pháp
thủ công truyền thống ở vùng Fukushima. Giải X1944 được trao cho
hai người: Yagi Yoshinori với Ryuu Kan Fuu (Lưu Quảng Phúc) và Ono
Juuzô với Tôhan (Bám núi leo lên).Tác phẩm trước kể chuyện nhân
vật Lưu Quảng Phúc, một người lao động Trung Quốc làm việc trong
một nhà máy ở Phụng Thiên, tác phẩm thứ hai nói về một ông giáo
Nhật đi dạy trẻ em Triều Tiên trên đất Triều. Ư đồ của hai tác giả
thế nào, ta cũng có thể h́nh dung được. Tuy nhiên cũng phải nói
rằng vào lúc này, những tạp chí tổng hợp kiểu Kaizô và Chuuô Kôron
...thường bị quân đối cảnh cáo và phải thi nhau đóng cửa nên giải
Akutagawa đă bị cắt bớt đi nguồn cung cấp tác phẩm.
Trong lần trao giải thứ 22 tức T1944, Shimizu
Motoyoshi đă thắng với Karitachi (Cánh nhạn lên không), mô tả câu
chuyện t́nh đẹp của một anh lính ra trận khi nghe tin người t́nh
đầu của ḿnh đi lấy chồng.
Danh sách người được giải thời kỳ
này:
1) X1935 Ishikawa Tatsuzô
石川達三với
Sōbō (蒼氓)
2) T1935 Không trao giải.
3) X1936 Oda Takeo
小田嶽夫với
Jōgai (城外)
4) X1936 Tsuruta Tomoya
鶴田知也với
Koshamain ki (コシャマイン記)
5) T1936 Ishikawa Jun
石川淳với
Fugen (普賢)
6) T1936 Tomisawa Uio
富沢有為夫với
Chichūkai (地中海)
7) X1937 Ozaki Kazuo
尾崎一雄với
Nonki megane (暢気眼鏡)
8) T1937 Hino Ashihei
日野葦平với
Fun'nyōtan (糞尿譚)
9) X1938 Nakayama Gishuu中山義秀
với Atsumonozaki (厚物咲)
10) T1938 Nakazato Tsuneko中里恒子
với Noriaibasha, Nikkōshitsu (乗合馬車,
日光室)
11) X1939 Handa Yoshiyuki
半田義之với
Niwatori sōdō (鶏騒動)
12) X1939 Hase Ken
長谷健với
Asakusa no kodomo (あさくさの子供)
13) T1939 Samukawa Kôtarô
寒川光太郎với
Mitsuryōsha (密猟者)
14) X1940 không trao giải.
15) T1940 Sakurada Tsunehisa桜田常久
với Hiraga Gen'nai (平賀源内)
16) X1941 Tada Yukei
多田裕計với
Chōkō deruta (長江デルタ)
17) T1941 Shibaki Yoshiko
芝木好子với
Seika no ichi (青果の市)
18) X1942 Không trao giải
19) T1942 Kuramitsu Toshio倉光俊夫
với Renrakuin (連絡員)
20) X1943 Ishizuka Kikuzô
石塚喜久三với
Tensoku no koro (纏足の頃)
21) T1943 Tonobe Kaoru
東野邊薫với
Washi (和紙)
22) X1944 Yagi Yoshinori
八木義徳với
Ryūkanfū (劉廣福)
23) X1944 Ono Juuzo小尾十三
với Tōhan (登攀)
24) T1944 Shimizu Motoyoshi
清水基吉với
Karitachi (雁立)
Thời kỳ biến chất (1945-1954):
Kể từ lần trao giải cuối năm 1944 (thường thường
giải được trao vào tháng giêng năm sau, trong trường hợp này là 1/
1945), chiến tranh trở nên khốc liệt. Tokyo bị không quân Đồng
Minh oanh kích dữ dội nên mọi hoạt động văn bút của giải phải
ngưng lại cho đến mùa xuân 1949.
Với X1949, trong bán giám khảo bớt đi vài khuôn mặt
cũ nhưng có thêm bốn người mới là Ishikawa Tatsuzô, Sakaguchi
Ango, Niwa Fumio và Funahashi Seiichi. Lần đó, hai khôi nguyên là
Yuki Shigeko với Hon no hanashi (Truyện của sách) và Otani
Tsuyoshi với Kakushô (Bằng cớ xác thực). Chính ra họ không phải là
những ứng viên nặng kư bởi v́ trong khoảng trống 1945-49, văn đàn
đă xuất hiện nhiều khuôn mặt sáng giá với lớp người gọi là “phái
hậu chiến” như Noma Hiroshi, Umezaki Haruo, Shiina Rinzô, Takeda
Taijun, Ôoka Shôhei và Mishima Yukio. Tiếc là những người này tuy
tài ba nhưng không được ban giám khảo xem như những nhà văn mới
(shinjin), tiêu chuẩn để có thể được tuyển lựa. Trong “Truyện của
sách”, Yuki Shigeko kể chuyện một người đàn bà phải chạy ngược
chạy xuôi để bán đi số sách vở mà người anh rễ, một giáo sư đại
học vừa qua đời, để lại. C̣n “Bằng cớ xác thực” là câu chuyện về
một bác sĩ ngành phụ khoa đă có vợ mà có liên hệ xác thịt với
nhiều con bệnh của ḿnh. Việc trao giải thưởng cho tác phẩm này
cũng đă làm cho các giám khảo khổ tâm v́ nó giống như đi cổ vũ
thêm cho loại văn chương nhục cảm vốn đă bắt đầu được yêu chuộng
từ thời hậu chiến.
Năm 1949, cuộc chỉnh lư chấm dứt, các nhà xuất bản
và các giải thưởng văn chương rầm rộ ra đời. Người được chọn để
được trao giải T1949 là Inoue Yasushi với Tôgyuu (Đấu ḅ) tuy
Ryôjuu (Khẩu súng săn) mới là tác phẩm gây ấn tượng về tài năng
của Inoue, trong đó ông tŕnh bày mối liên hệ giữa một người đàn
ông yêu súng săn và ba người đàn bà qua những biến chuyển tâm lư
giữa họ. Sau đó đến lượt Tsuji Ryôichi lănh giải X1950 với Ihôjin
(Người nước ngoài) thuật chuyện một người Nhật làm việc ở nước
ngoài trong một bệnh viện của Đảng Cộng Sản, bị ngược đăi v́ lư do
tư tưởng nhưng được người bạn ngoại quốc giúp đỡ mà vượt được khó
khăn và t́m lại hy vọng.

Inoue Yasushi
Kỳ T1950 không có ai trúng giải nhưng vào thời điểm
đó, một hiện tượng trong làng văn đă đập vào mắt mọi người. Nh́n
chung, các tạp chí văn nghệ có khuynh hướng đặt trọng tâm vào mục
đích thương mại hơn trước. Tiếng nói của các ủy viên ṿng sơ khảo
vốn là nhân viên của Bungei Shunjuu bắt đầu có trọng lượng hơn đối
với giải. Dĩ nhiên ban giám khảo cũng có tiếng nói trên các tác
phẩm được tuyển từ ṿng sơ khảo nhưng trên thực chất th́ từ năm
1950, chuyện đó dần dần không có nữa. Đó là chưa nói mỗi giám khảo
lại có dính líu đến một tạp chí và ảnh hưởng của tạp chí ấy lên vị
giám khảo ấy cũng không phải nhỏ. Có thể xem đây như nguồn gốc sự
biến chất của giải.
Giải X1951
về tay hai người. Ishikawa Toshimitsu với Haru no kusa (Cỏ mùa
xuân) và những truyện khác,
Abe Kôbô với Kabe - S. Karuma no hanzai (Bức tường – Tội của ông
S.Karuma).
Lần này đă có Yasuoka Shôtarô và Shibata Renzaburô, hai nhà văn về
sau sẽ nổi tiếng, vào ṿng chung kết nhưng chính Abe Kôbô đă làm
nên lịch sử. “Cỏ mùa xuân” của Ishikawa chỉ kể lại truyện anh bộ
đội phục viên bị vợ ngoại t́nh nhưng anh lại có mối liên hệ với vợ
người hàng xóm. Đề tài này xem ra cũ kỹ trong khi đó, truyện của
Abe có nội dung rất quái dị: một người vừa ngủ dậy không nhớ tên
ḿnh, anh ta bị chính tấm danh thiếp của ḿnh mang ra ṭa về tội
mạo danh vv...để rồi từ đó gặp liên tiếp nhiều t́nh huống cực kỳ
phi lư kiểu Kafka. Hầu hết các giám khảo đă không hết lời tán
thưởng bút lực và tài năng của Abe.

Abe Kôbô
Giải T1951 được trao cho Hotta Yoshie với Hiroba no
Kodoku (Cô độc giữa quảng trường) và Kankan (Tên Hán gian). Đây là
lần thứ ba Hotta vào đến ṿng chung kết. Nếu tác phẩm trên lấy bối
cảnh Triều Tiên th́ tác phẩm dưới lấy bối cảnh Thượng Hải, nơi một
công dân Pháp v́ lỡ sinh đẻ trên đất Trung Quốc mà bị kết tội Hán
gian vào năm Chiến tranh Thái B́nh Dương vừa kết thúc. Ṿng chung
khảo năm đó đă thấy bóng dáng các ứng viên như Yoshiyuki
Junnosuke, Akawa Hiroyuki và Kondô Keitarô.
X1952 không
t́m ra khôi nguyên nào dù có mặt các ứng viên tài năng như Miura
Shumon và thêm một lần nữa, Yoshiyuki Junnosuke. Ở T1952 thấy có
hai nhà văn Gomi Kôsuke và Matsumoto Seichô đồng thời xuất hiện.
Cả hai đều trúng giải. Họ là những tác giả có tính đại chúng hơn
là văn học thuần túy.
Sôshin (Kẻ mất trí) của Gomi là một tiểu thuyết kiếm hiệp và ma
quái, trong khi Aru Kokura nikki (Một phiên bản Nhật Kư Kokura) dĩ
nhiên có màu sắc suy lư và trinh thám, điểm mạnh của Matsumoto.
Nhà văn Yasuoka Shôtarô đoạt giải X1953 sau khi đă
vào ṿng chung kết suốt 4 mùa giải, được xem như một trong những
khôi nguyên lận đận. Hai truyện của ông là Warui nakama (Đồng bọn
xấu xa) và Inki na tanoshimi (Sở thích quái đản) có chung chủ đề
là vết thương tinh thần để lại trong tâm lư của những người từng
sống trong thời chiến. C̣n ở T1953 giải không được trao cho ai cả,
có lẽ v́ các giám khảo chưa vượt được rào cản tâm lư trước Kim Dal
Su (Kim Đạt Thọ), một nhà văn gốc Triều Tiên nhưng rất có tài và
đă từng vào ṿng chung khảo đôi lần trước đó.

Yoshiyuki Junnosuke
Giống như Yasuoka Shôtarô năm rồi, ứng viên
Yoshiyuki Junnosuke rốt cuộc đă đoạt giải X1954 với Shu.u (Mưa
rào) và Bara (Đóa hồng). “Mưa rào” nói lên tâm trạng của một thanh
niên tư chức độc thân, không thể nào tiến xa hơn với những người
phụ nữ anh hay lui tới nên rốt cuộc chỉ t́m ra nguồn an ủi và t́nh
yêu bên cạnh một cô gái làng chơi. Kỳ đó, trong số ứng viên ṿng
cuối đă thấy Sôno Ayako, nhà văn nữ có tài, vợ của Miura Shumon,
một ứng viên thất cử kỳ trước, và Kojima Nobuo (lần thứ hai), một
khôi nguyên tương lai.
Thực vậy, Kojima Nobuo đă được trao giải kỳ T1954
với hai tác phẩm là Amerikan Sukuuru (Trường học Mỹ) và Kami (Ông
thần) sau 3 lần vào chung kết. Ông thắng cử cùng một lượt với tác
giả của Puuru Saido shôkei (Một cảnh bên bể bơi) là nhà văn Shôno
Junzô, bản thân cũng là ứng viên kỳ cựu.”Trường học Mỹ” tả cảnh
cuộc thăm viếng của một nhóm thày cô người Nhật dạy tiếng Anh ngôi
trường do người Mỹ lập nên bằng một giọng văn phúng thích thời
thế. “Một cảnh bên hồ tắm” nói lên tâm t́nh của một bà vợ khi
chồng bị hăng buôn mà anh phục vụ lâu năm cho thôi việc.

Kojima Nobuo
Trong suốt giai đoạn này, có một hiện tượng lập đi
lập lại nhiều lần. Đó là việc giải đă được trao cho những ứng viên
đă góp mặt
thường
xuyên v́ được đánh giá “công lao đóng góp” của họ như cách tŕnh
bày của giám khảo Funahashi Seiichi. Xin nhắc lại đó là trường hợp
những ứng viên kỳ cựu cỡ Hotta Yoshie, Yasuoka Shôtarô, Yoshiyuki
Junnosuke và Kojima Nobuo. Dù sao, nếu đă được chọn vào ṿng chung
khảo ba đến bốn lần như họ th́ tuy có thực tài nhưng khó thể được
xem như là shinjin (tân nhân) nghĩa là một tác giả chưa có tên
tuổi.
Danh sách người được giải thời kỳ
này:
1) X1949 Kotani Tsuyoshi小谷剛
với Kakushō (確証)
2) T1949 Yuki Shigeko
由起しげ子với
Hon no hanashi (本の話)
3) T1949 Inoue Yasushi
井上靖với
Tōgyū (闘牛)
4) X1950 Tsuji Ryoichi
辻亮一for
Ihōjin (異邦人)
5) T1950 Không trao giải.
6) X1951 Abe Kôbô阿部公房
với Kabe—S. Karuma shi no hanzai (壁─S.カルマ氏の犯罪)
7) X1951 Ishikawa Toshimitsu石川利光
với Haru no kusa (春の草)
8) T1951 Hotta Yoshie
堀田善衛với
Hiroba no kodoku, Kankan (広場の孤独,
漢奸)
9) X1952 Không trao giải.
10) T1952 Gomi Kôsuke
五味康佑với
Sōshin (喪神)
11) T1952 Matsumoto Seichô
松本清張với
Aru "kokura nikki" den (或る「小倉日記」小伝)
12) X1953 Yasuoka Shôtarô
安岡章太郎với
Warui nakama, Inki na tanoshimi (悪い仲間,
陰気な愉しみ)
13) T1953 Không trao giải.
14) X1954 Yoshiyuki Junnosuke
吉行淳之介với
Shūu (驟雨)
và Bara〈薔薇〉.
15) T1954 Kojima Nobuo小島信夫
với Amerikan sukūru (アメリカン・スクール)
16) T1954 Shôno Junô庄野潤三
với Pūrusaido shōkei (プールサイド小景)
Thời kỳ lệch hướng (1955-1968):
Như thế, tuy Giải Akutagawa có mục đích khám phá
nhân tài mới nhưng ban giám khảo trong bao nhiêu năm lại tỏ ra
không có can đảm trao giải cho một người chỉ mới viết được một tác
phẩm đầu tiên, cho dù xuất sắc đi nữa. Điều này vẫn c̣n tiếp tục
xảy ra về sau. Thế nhưng kỳ phát giải X1955, họ đă vượt được trở
ngại đó khi chọn Shiroi hito (Người trắng) của Endô Shuusaku. Nhà
văn đă dùng bối cảnh thời Nazi ở Âu châu để mô tả xung đột nội tâm
nơi một thanh niên có hai ḍng máu Đức và Pháp. Tuy từng viết
nhiều dưới dạng tùy bút hay b́nh luận, nhưng đến lúc đó, ông chỉ
có kinh nghiệm về tiểu thuyết đúng trên một năm

Endô Shuusaku
Khôi nguyên T1955 là một người trẻ mới 23 tuổi,
sinh viên đang ṭng học Đại học Hitotsubashi, Ishihara Shintarô.
Tác phẩm đoạt giải là Taiyô no kisetsu (Mùa mặt trời) trở thành
hiện tượng xă hội v́ phản ánh được hành động của tuổi trẻ hậu
chiến. Nó đă gây lên một tiếng vang lớn và đưa Ishihara lên đài
vinh quang ngay lần đầu dự giải. Truyện nói về một mối t́nh cuồng
nhiệt giữa một học sinh cuối năm cấp 3 mê quyền Anh và một thiếu
nữ cùng lứa tuổi, tính t́nh phóng túng. Ishihara được giới truyền
thông tung hô và truyện ngắn được lên phim, do chính em trai ông,
Yuujirô, thủ vai chính. Cũng cần nói thêm là từ khi có hiện tượng
Ishihara, vai tṛ của truyền thông đối với giải trở thành quan
trọng và nhiều khi ảnh hưởng đến quyết định của ban giám khảo.

Ishihara Shintarô
Rồi đến lượt Kondô Keitarô được chiếu cố sau vài
lần vuột giải. Bản thân ông - một thầy giáo 37 tuổi dạy học ở vùng
biển Chiba- đă được trao giải X1956 sau khi đánh bại Ariyoshi
Wakako, một nhà văn nữ có tài, tác giả Jiuta (Khúc hát quê hương)
và vài ứng viên khác.Tác phẩm đoạt giải nhan đề Amabune (Thuyền
người thợ lặn) nói về cuộc sống của một thanh niên làng chài. Thế
nhưng hỗ trợ cho nó là quá khứ nỗ lực và trưởng thành của Kondô,
người đă 3 lần vào chung kết.
Một lư do khác để mệnh danh thời kỳ này là thời kỳ
mất định hướng của giải là v́ nó không c̣n đóng vai tṛ cánh cổng
Vũ Môn nữa. Nhiều giải thưởng khác đă đóng thay nó vai tṛ “cấp hộ
chiếu” cho những nhà văn mới. Một số đối tượng vừa được tuyển để
xét có khi đă nổi tiếng trước đó rồi. Giải Akutagawa v́ vậy đă mất
đi nhiều ảnh hưởng. Thêm vào đó, tính thuần túy văn học của giải
bắt đầu lu mờ v́ các tác phẩm vào thời này thường có tính cách nửa
vời, nghĩa là đứng giữa văn học thuần túy và văn học đại chúng.
Loại “tiểu thuyết trung gian” (chuukan shôsetsu) này được hưng
thịnh như thế cũng là nhờ ở sự phát triển rầm rộ của ngành báo chí
và truyền thông. Nó đă khiến cho thời sự xă hội được đem ra làm đề
tài nhiều hơn.
Kỳ T1956 cũng không có ai trúng giải dù ở ṿng
chung kết đă thấy bóng Kita Morio.
Lúc đó c̣n có một nhà văn mới trở thành nổi tiếng
cùng thời với Ishihara nhưng bản thân ông lại không qua khỏi ṿng
sơ khảo. Đó là Fukuzawa Shichirô. Tác phẩm Narayama Bushikô (T́m
hiểu dân ca vùng Narayama) của ông đă gây một cú sốc v́ tính dữ
dội của nó.
Đến X1957, giải về tay Kikumura Itaru với Iojima
(Đảo Iwojima), trong đó, tác giả thuật lại cái chết của một người
lính hải quân khi về thăm lại chiến trường xưa nơi từng có một
trận đánh khốc liệt giữa Mỹ và Nhật trong Thế chiến thứ hai. Anh
ta đă tự sát tại đấy và theo tác giả th́ câu chuyện về anh đă được
một kư giả quen biết kể lại. Đến T1957, người chiến thắng là Kaikô
Takeshi, một nhà báo, từng làm phóng viên ở Sài G̣n trong chiến
tranh Việt Nam, với Hadaka no Ôsama (Ông vua trần truồng) sau khi
loại được một đối thủ nặng kư là Ôe Kenzaburô với Shisha no Ogori
(Sự xa hoa của người chết). Ôe lúc đó c̣n là một sinh viên khoa
tiếng Pháp ở Đại học Tokyo. Người ta ngờ rằng giới truyền thông v́
những hành động cuồng nhiệt ủng hộ Kaikô, một đồng nghiệp, đă làm
lệch cán cân.

Ôe Kenzaburô
Dù sao,
không phải đợi lâu, ở X1958, Ôe Kenzaburô đă chiến thắng với
Shiiku (Nuôi thú)
và Hato (Bồ câu). “Nuôi thú” kể lại câu chuyện dân chúng một thôn
làng hẻo lánh đă bắt giam một phi công Mỹ da đen bị bắn rơi và
nuôi như con thú trong hầm. Khi họ đủ sức thông cảm với anh như
một con người th́ anh lại bị một kẻ trong bọn giết chết. T1958
không ai trúng giải dù trong danh sách kỳ chung khảo có Yoshimura
Akira, sau này sẽ trở thành một nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử
thực chứng tên tuổi.
X 1959, Shiba Shirô đoạt giải nhờ tác phẩm Santô
((Chùa trên núi). Đó là câu chuyện của một người đàn ông lâm trọng
bệnh về lại quê hương và t́m được lẽ sống bên cạnh cô bạn thời thơ
ấu nay đă là bà mẹ năm con. Lần đó, hai ứng viên Yoshimura Akira
và Kita Morio cũng lọt vào ṿng chung kết nhưng bị xem như chưa
phải là đối thủ xứng tầm. T1959 không có ai trúng giải và phải đợi
X1960 mới thấy Kita Morio đăng quang với Yoru to kiri no sumi de
(Bên góc đêm và sương mù). Là một bác sĩ y khoa nên không lạ ǵ
trong tác phẩm ấy, Kita chọn bối cảnh là một bệnh viên tâm thần
dưới thời Đức Quốc Xă và khai thác đề tài trợ tử (euthanasie).
Nhân đây cũng nên nhắc đến tên Kawakami Sôkun, một ứng viên bất
hạnh dù đă 5 lần được lọt vào ṿng chung kết, một kỷ lục. Người
đoạt giải T1960 là Miura Tetsuo với Shinobukawa (Ḍng sông ẩn
khuất), tiểu thuyết có tính tự thuật, nói về kinh nghiệm luyến ái
và cuộc hôn nhân của ḿnh. Truyện với nội dung dễ thương, gây được
cảm t́nh, nhưng cũng có tiếng chê trách trong ṿng các giám khảo
là quá cổ phong và dễ dăi.
Ở X1961, thêm một lần nữa, giải không được trao v́
tuy mỗi ứng viên đều có sở trường sở đoản, chẳng thấy ai đủ sức
gom phiếu về ḿnh. Unô Kôichirô đoạt giải T1961 với Kujiragami (Cá
voi thần) kể truyện ba đời một gia đ́nh dân chài ở Nagasaki tiếp
tục đi lùng bắt một con cá voi khổng lồ. Yoshimura Akira cũng có
mặt ở kỳ chung kết này và trở thành một ứng viên tuy có tài nhưng
vô duyên với giải v́ ông c̣n dự thi một lần tới nữa nhưng vẫn
không được kết quả như ư. Dù sao, trong nhà ông cũng có chỗ để
treo giải ấy nhờ người vợ là nữ văn sĩ Tsumura Setsuko (khôi
nguyên kỳ T1965).
Người đoạt giải kỳ X1962 là Kawamura Akira với
Bitan no shuppatsu (Khởi đầu của một câu chuyện đẹp). Đây là một
tiểu thuyết tự thuật về cuộc đời một nhà văn sống chung với người
đàn bà đă có con riêng. Chuyện “sống chung nhưng không hôn thú”
(dôsei
同棲
) và “nuôi con riêng của vợ hay chồng” (tsureko連れ子)
là một hiện tượng xă hội thời đó. Thực ra, Kawamura chỉ được giải
vào phút chót v́ lần đó, tưởng chừng ban giám khảo không trao giải
cho ai cả. Riêng kỳ T1962, giải không được phát v́ thiếu tác phẩm
xứng đáng.
Dù vậy, Gotô Kiichi với Shônen no Hashi (Chiếc cầu
tuổi thơ) và Kôno Taeko với Kani (Con cua) đă được trao giải
X1963. Bà Kôno đă hụt lần trước (T1962) với Bishôjo (Cô gái đẹp),
nay được đền bù xứng đáng. Truyện của ông Gotô nói về hoàn cảnh
một thiếu niên sống trong một gia đ́nh họa sĩ tranh Nhật Bản, cha
th́ trụy lạc, mẹ v́ có lư tưởng nên bỏ nhà ra đi. Truyện bà Kôno
cũng nói về một người vợ có cá tính, lấy cớ có bệnh lao để cắt đứt
với chồng và đến một vùng biển sinh sống. Người được giải T1963
lại là một nhà văn nữ, Tanabe Seiko. Tác phẩm đem đến cho bà vinh
quang nhan đề Senchimentaru Jaanii (Sentimental Journey, Chuyến lữ
hành t́nh cảm), trong đó kể lại sinh hoạt của một người đàn bà làm
nghề viết kịch bản phim sống chung với người yêu, cũng là nhà văn
nhưng bất tài.
Shibata Shô nhận giải X1964 với Saredo warera ga
hibi...(Dù thế, cuộc đời chúng ta vẫn cứ trôi...), một tác phẩm
lấy cảm hứng từ phong trào tranh đấu của sinh viên học sinh, có đủ
t́nh yêu, chia ly, dằn vặt, tự sát vv...Thế nhưng ban giám khảo
không t́m ra một kết luận nào cho T1964. Bà Tsumura Setsuko, vợ
của Yoshimura và ứng viên T1964 trở thành người thắng cuộc của
X1965 với Gangu (Món đồ chơi), trong đó bà miêu tả tâm t́nh của
một phụ nữ đang mang thai khi đối mặt với chồng ḿnh.
Nhà văn Takai Yuuichi đoạt giải T1965 với Kita no
kawa (Ḍng sông miền Bắc) với chủ đề cuộc sống của hai mẹ con một
thiếu niên từ trong chiến tranh bước sang thời hậu chiến ở một
vùng quê hẻo lánh cho đến lúc người mẹ tự sát. Tác phẩm được viết
kỹ lưỡng, chân phương, nhưng đề tài không có ǵ khởi sắc. Sự xuống
dốc của các tác phẩm dự thi được xem như hiện tượng chung của thời
đó. Có thể v́ vậy mà đến X1966, các giám khảo cũng không t́m ra
tác phẩm nào xứng đáng để trao giải.
Một nhân viên hăng tư mới có 23 tuổi, Maruyama
Kenji, được trao giải T1966 với Natsu no nagare (Những ngày hè). Ở
cái tuổi khá trẻ này mà đoạt giải, cho đến thời đó, chỉ có 3
người: Otani Tsuyoshi, Ishihara Shintarô và Ôe Kenzaburô! Đồng
thời với giải Akutagawa, Maruyama c̣n nhận thêm giải của Tạp chí
Bungakukai (Văn học giới). Chuyện này cũng chỉ có Ishihara làm
được trước ông thôi. Mới 23 tuổi mà đi khai thác chủ đề nói về mối
liên hệ giữa một người giám ngục và một tù tử h́nh đang đợi đem đi
hành quyết, c̣n là một điều lạ lùng khác.
Giải kỳ X1967 về tay Ôshiro Tatsuhiro với tác phẩm
Kakuteru Paatii (Coctail Party, Bữa tiệc nhẹ), mô tả hành động
hung bạo của lính Mỹ đối với một phụ nữ người Nhật trong bối cảnh
Okinawa, nơi có căn cứ quân sự của lực lượng chiếm đóng. Những câu
chuyện như vậy đến nay vẫn c̣n tính thời sự v́ đôi khi vẫn thường
xảy ra nhưng Ôshiro đă sớm nói lên điều đó. Báo chí Okinawa lúc ấy
tỏ ra rất bằng ḷng, có tờ c̣n ca tụng ông là “nhà văn đầu tiên
xứng đáng với giải Akutagawa”. Kashiwahara Heizô nhận giải T1967
với Tokuyama Dôsuke no kikyô (Chuyến về quê của Tokuyama Dôsuke),
nói về ngày hồi hương của một viên cựu trung tướng lục quân để cầu
siêu cho người mẹ cũng như thuật lại chuỗi đời c̣n lại của ông
trên quê hương, tỉnh Oita.

Ôba Minako
Chuyện khá hiếm có đă xảy ra ở X1968 bởi v́ lâu lắm
mới có hai người cùng nhận giải: nhà văn nữ Ôba Minako và nhà văn
nam Maruya Saiichi. Trong khi Ôba là một người nội trợ mới bước
vào làng văn, viết lách cho qua thời giờ ở vùng tuyết giá Alaska,
th́ Maruya đă nổi tiếng trên văn đàn và từng vào ṿng chung kết cả
thảy 3 lần. Trong Sanbiki no kani (Ba con cua), Ôba tả lại cuộc
sống nhàm chán và giả dối của một bà vợ Nhật theo chồng nhận nhiệm
sở ở Mỹ, một hôm đă qua đêm với một chàng trai t́nh cờ gặp trên
đường. Trong Toshi no nokori (Tháng năm c̣n lại), Maruya kể cho
độc giả cuộc đời một viên giám đốc bệnh viện về già đứng trước cái
chết của vợ chồng một người bạn.
T1968 lại không có ai trúng giải dù đă thấy ở ṿng
chung khảo những tên tuổi như Abe Akira và Kuroi Senji. Cùng lúc
với sự khô cạn của ḍng văn học thuần túy, người ta đă chứng kiến
sự ra đời của một số tạp chí chuyên ngành “tiểu thuyết trung
gian”, trong đó có 3 tờ lớn là Shôsetsu Shinchô (Tân Trào),
Shôsetsu Gendai (Hiện Đại), Ôôru Shôsetsu (All) vv.... Bên phía
giải Naoki (dành cho văn học đại chúng) đă thấy những nhà văn mới
và có tầm cỡ như Nosaka Akiyuki và Itsuki Hiroyuki xuất hiện.
Danh sách người được giải thời kỳ
này:
1) X1955 Endô Shusaku
遠藤周作với
Shiroi hito (白い人)
2) T1955 Ishihara Shintarô
石原慎太郎với
Taiyō no kisetsu (太陽の季節)
3) X1956 Kondô Keitarô
近藤啓太郎với
Amabune (海人舟)
4) T1956 Không trao giải.
5) X1957 Kikumura Itaru
菊村到với
Iōjima (硫黄島
Iwo Jima)
6) T1957 Kaikô Takeshi
開高健với
Hadaka no ōsama (裸の王様)
7) X1958 Ôe Kenzaburō大江健三郎
với Shiiku (飼育)
8) T1958 Không trao giải.
9) X1959 Shiba Shirô斯波四郎
với Santō (山塔)
10) T1959 Không trao giải.
11) X1960 Kita Morio
北杜夫với
Yoru to kiri no sumi de (夜と霧の隅で)
12) T1960 Miura Tetsuo三浦哲郎
với Shinobukawa (忍ぶ川)
13) X1961 Không trao giải.
14) T1961 Uno Kôichiro
宇能鴻一郎
với Kujiragami (鯨神)
15) X1962 Kawamura Akira川村晁
với Bidan no shuppatsu (美談の出発)
16) T1962 Không trao giải.
17) X1963 Gotô Kiichi
後藤紀一với
Shōnen no hashi (少年の橋)
18) X1963 Kôno Taeko
河野多恵子với
Kani (蟹)
19) T1963 Tanabe Seiko田辺聖子
với Senchimentaru Jaanî (感傷旅行
Sentimental Journey)
20) X1964 Shibata Shô
柴田翔với
Saredo wareraga hibi (されどわれらが日々─)
21) T1964 Không trao giải.
22) X1965 Tsumura Setsuko
津村節子với
Gangu (玩具)
23) T1965 Takai Yuichi
高井有一
với Kita no kawa (北の河)
24) X1966 Không trao giải.
25) T1966 Maruyama Kenji丸山健二
với Natsu no nagare (夏の流れ)
26) X1967 Oshiro Tatsuhiro
大城立裕với
Kakuteru Paatî (カクテル・パーティー
The Cocktail Party)
27) T1967 Kashiwabara Hyozô
柏原兵三với
Tokuyama Dōsuke no kikyō (徳山道助の帰郷)
28) X1968 Maruya Saiichi
丸谷才一với
Toshi no nokori (年の残り)
29) X1968 Ôba Minako
大庭みな子với
Sanbiki no kani (三匹の蟹)
30) T1968 Không trao giải.
Thời kỳ náo nhiệt (1969-1979):
Thời kỳ này đánh dấu một sự thay đổi lớn v́ Giải
Akutagawa nói chung thường xuyên đem đến những tác phẩm ăn khách.
Trước đó con số phát hành các tác phẩm không đồng đều cho lắm. Tuy
có những tác phẩm bán chạy như Taiyô no Kisetsu (1956) của
Ishihara Shintarô (200.000 quyển) nhưng cũng có tác phẩm ế ẩm như
Natsu no nagare (1966) của Maruyama Kenji (8.000 quyển trong lần
ra mắt đầu tiên). Điều này không hẳn v́ có sự hơn kém về mặt văn
tài của các tác giả trúng giải.
Kỳ trao giải X1969, có hai người trúng tuyển: Shôji
Kaoru với Akazukin, ki wo tsukete (Em bé quàng khăn đỏ, cẩn thận
nhé!) và Takubo Hideo với Fukai kawa (Sông sâu). ”Em bé quàng khăn
đỏ” trở thành một “betseller”. Đó là một tác phẩm đă ăn khách nhờ
sự tươi mát nhẹ nhàng và gây ngạc nhiên. Nó tả lại thế giới chung
quanh qua lời kể của một học sinh cấp 3 đang soạn thi vào đại học.
Trong khi đó, “Sông sâu” của Takubo với bối cảnh một trại lính Mỹ
thời chiến tranh Triều Tiên th́ tỏ ra sâu sắc hơn.
Người lănh giải T1969 là Kiyooka Takayuki, một nhà
thơ đă có tiếng nhưng mới bước vào lănh vực tiểu thuyết chưa bao
lâu. Tác phẩm của ông nhan đề Akashiya no Dairen (Hoa nhục quế ở
Đại Liên). Hoa nhục quế (acacia) tượng trưng cho t́nh yêu thuần
khiết của nhân vật chính trong truyện, một người đàn ông trung
niên. Ông hồi tưởng về cuộc gặp gỡ với một nàng con gái trong bối
cảnh hoang tàn đổ nát của thành phố Đại Liên ở Măn Châu khi chiến
tranh vừa kết thúc. Tác phẩm này cũng rất ăn khách, mới có nửa năm
mà đă phát hành trên 200.000 cuốn. Khôi nguyên X1970 là một nam
một nữ: Furuyama Komao với Pureô 8 no yoake (Hừng đông trong pḥng
chơi số 8) và Yoshida Tomoko với Mumyôchôya (Vô minh trường dạ).
Furuyama tả kinh nghiệm bị giam v́ một tội nhẹ trong một đề lao ở
Sài G̣n (Pureô đến từ tiếng Pháp “préau”) cùng với tù nhân đủ loại
ở đấy. Yoshida kể chuyện một người đàn bà không có ǵ đặc sắc,
chồng bị mất tích, sống trong bầu không khí thống khổ và u ám, lẫn
lộn thực tế với huyễn tưởng.
Các giám khảo mất rất ít thời gian thảo luận để
chọn Furui Yoshikichi như người thắng giải T1970 với Yôko (Cô
Yôko) và Tsumakakure (Người vợ ẩn dấu). Truyện đầu nói về một
người con gái bị chứng tâm thần, truyện sau nói về một tuần lễ tác
giả sống bên người vợ của ḿnh nhân một kỳ nghỉ ốm v́ cảm mạo và
nhân đó, khám phá được nhiều điều.
Năm sau, ở X1971, không có ai được giải. Theo giám
khảo Nakamura Mitsuo th́ các tác giả vào ṿng chung kết đều cho
thấy họ có kỹ thuật cao nhưng lại thiếu sự hấp dẫn. Đến T1971 th́
có nhà văn gốc Triều Tiên là Ri Kai Sei (Lư Khôi Thành), ứng viên
kỳ cựu với 5 lần vào chung kết, trong đó có một bận để vuột giải
v́ một lư do h́nh thức. Lần đó, dù nội dung xuất sắc nhưng ông bị
chê là viết quá dài bởi v́ giải giới hạn tác phẩm dự thi trong
ṿng 150 trang. May thay, kỳ này, Ri đă thắng với Kinuta wo utsu
onna (Người đàn bà đập áo). “Đập áo” ư nói “mong chồng” theo như
điển cố về chinh phụ. Đây là một mẩu đời của chính tác giả: mẹ ông
là một phụ nữ Triều Tiên, rời quê hương sang Nhật và sống nhiều
năm trên đảo Sakhaline, một nơi băng giá vùng cực bắc. Cùng đoạt
giải với ông là Higashi Mineo với tác phẩm Okinawa no shônen (Cậu
bé ở Okinawa). Đó là tâm t́nh của một cậu bé sống trong một gia
đ́nh mà cha phục vụ, mẹ bán bar trong một căn cứ Mỹ trên đảo.
X1972 có một sự kiện không mấy tốt lành đă xảy ra
và làm mất uy tín của Giải một cách trầm trọng. Số là kỳ đó, có
hai nhà văn đoạt giải là Hatayama Hiroshi với Itsuka kiteki wo
narashite (Khi nào đó, nhớ hú c̣i tàu nhé!) và Miyahara Akio với
Dare ka ga futta (Có ai đó đă sờ phải). Tác phẩm của Hatayama nói
về một cậu bé đă sứt môi c̣n đi yêu một cô gái gốc Hàn nên bị
người chung quanh kỳ thị. Miyahara tả lại cuộc sống của những
người bị phung cùi, cũng là những kẻ bị cuộc đời khiếp sợ. Chẳng
ngờ một ít lâu sau, Miyahara bị cáo buộc đă đạo văn của một người
khác viết vào năm 1963 với cùng một đề tài. Cũng trong lần này,
vào ṿng chung kết có sự góp mặt của Tsushima Yuuko, con gái của
nhà văn quá cố Dazai Osamu, một sự kiện đă gây xôn xao trong làng
báo v́ người ta kỳ vọng “hổ phụ” sẽ sinh ra “hổ tử”.
T1972 có hai nhà văn nữ đồng thời được giải:
Yamamoto Michiko với tác phẩm Beti-san no niwa (Khu vườn của bà
Betty) và Gô Shizuko với Rekuiemu (Requiem, Kinh cầu hồn). Cuốn
truyện trên nói về cuộc hôn nhân của một phụ nữ Nhật với một người
đàn ông Úc, truyện dưới tả lại cảnh tượng một thiếu nữ 17 tuổi nằm
hấp hối trong một hố pḥng không vào lúc chiến tranh vừa chấm dứt
và hồi tưởng về cuộc chiến đă đi qua.
Miki Taku nhận giải X1973 với Hiwa (Con chim sẻ
vàng), một câu chuyện mượn bối cảnh Tân Kinh ở Măn Châu cũng vào
thời chiến tranh vừa chấm dứt. Trong đó, tác giả tŕnh bày t́nh
cảm bất lực của ḿnh, một thiếu niên, trước những biến động của
thời cuộc. Một ứng viên khác, Noro Kuninobu, đă thua ông suưt
soát. Trong lần này, bà Tsushima Yuuko cũng có tác phẩm vào ṿng
chung khảo.
Dù sao, Noro Kuninobu đă thắng giải mùa sau, T1973,
với Kusa no tsurugi (Thanh kiếm bằng lá cỏ) nói về đời quân ngũ
của một thanh niên gia nhập Jieitai (Tự vệ đội) tức đạo quân Nhật
tái lập sau chiến tranh. Cùng với ông, một khôi nguyên khác là
Mori Atsushi. Gassan (Ngọn núi Gassan), tác phẩm trúng giải của
Mori nói về một thanh niên đi vào trong núi sâu và sống suốt mùa
đông ở một ngôi làng bao vây bởi tuyết dày.
Tuy ứng viên Hino Keizô đă có mặt và suưt thắng
nhưng kỳ X1974, không ai được trao giải cả. Lư do hơi vô lư là
Hino vừa mới được giải Hirabayashi (Hirabayashi Taiko, 1905-72)
xong. Để đền bù hay chăng mà ban giám khảo đă trao giải T1974 cho
ông với Aru yuhi (Một buổi trời chiều), tác phẩm miêu tả sinh hoạt
của một nhà báo với vợ ḿnh và hố ngăn cách tạo ra giữa hai người.
Một tác giả khác, Sakata Hiroo cũng được trao giải kỳ đó với
Tsuchi no utsuwa (Món đồ bằng đất), mô tả thời gian lâm bệnh và
cái chết của một bà cụ theo Ki-tô giáo, nh́n dưới con mắt của
người con trai.
Kỳ X1975 chỉ có một người được giải: Hayashi Kyôko.
Matsuri no ba (Nơi hành lễ) nói về một nữ học sinh Nagasaki bị
động viên trúng bom nguyên tử. Phải nói là truyện của bà chỉ gây
xúc động cho các giảm khảo lăo thành lứa tuổi 70, những người đă
sống giữa ḷng cuộc chiến, chứ không được các giám khảo trẻ hơn
tán thưởng.
T1975 có được hai người trúng giải. Đó là Nakagami
Kenji với Misaki (Mũi đất) và Okamatsu Kazuo với Shika no shima
(Đảo Shika). Nakagami kể lại tâm t́nh phức tạp giữa một thanh niên
lao động với cha của ḿnh, người mà anh ta gọi xách mé là “ano
otoko” (gă đàn ông ấy). C̣n Okamoto th́ mô tả cuộc sống nhọc nhằn
nhưng biết vượt khó của một người bạn cùng quê Hakata với ông từ
trong chiến tranh cho đến thời hậu chiến.

Murakami Ryuu
Murakami Ryuu lănh giải X1976 với Kagirinaku tômei
ni chikai buruu (Một màu xanh trong suốt hầu như vô biên). Tác
phẩm ấy nói về đám thanh niên nghiện hút và nghiện sex sống ở một
khu vực gần căn cứ lính Mỹ. Tác phẩm vừa ra mắt đă có người ví
ngay Murakami như một phiên bản mới của Ishihara Shintarô với tất
cả ḷng mong đợi đặt vào tài năng mới nổi này.
T1976 không có ai trúng giải nhưng chung quanh việc
trao giải văn chương nói chung, nhiều nguồn dư luận đa chiều đă
nổi lên, có cả nhà văn lấy việc tuyển khảo và những áp lực của
giói truyền thông đối với ban giám khảo làm để làm đề tài viết
truyện châm biếm. Điều đó không ngăn được việc vào mùa sau, X
1977, các giám khảo đă t́m ra được hai tác giả để trao giải: Mita
Masahiro và Ikeda Masuo. Bokutte nani? (Tôi là ai vậy?) của Mita
mượn bối cảnh cuộc biến động chính trị xảy ra ở các đại học để nói
lên tâm sự của một sinh viên sống trong vùng Tokyo. Egêkai ni
sasagu (Kính dâng biển Egée) của Ikeda nói về kinh nghiệm của một
nhà điêu khắc Nhật sống ở Mỹ mắc chứng huyễn tưởng. Dù vậy, sự
xung đột trong hàng ngũ các giám khảo đă hiện ra một cách trầm
trong. Giám khảo Nagai Tatsuo chẳng hạn, v́ triệt để chống việc
trao giải cho Ikeda, đă từ chức.
Phải nói thêm rằng lúc này cơ sở Bungei Shunjuu đă
đóng vai chính trong sự tuyển lựa các tác phẩm, lư do là ở ṿng sơ
tuyển, có rất nhiều tác phẩm đáng để ư tới và các giám khảo không
có phương tiện đọc hết. Ban giám khảo càng ngày càng giới hạn sự
can thiệp của họ vào khoảng 10 tác phẩm lọt vào kỳ chung khảo.
Trong bối cảnh đó, giải T1977 đă được trao cho Miyamoto Teru và
Taki Shuuzô. Hotarugawa (Sông đom đóm) của Miyamoto là một tác
phẩm đầy tính hoài niệm, trong đó, tác giả kể lại những ngày thơ
ấu ở quê hương Toyama, t́nh bạn, t́nh yêu và cái chết của những
người thân. Tuy phong phú tính trữ t́nh nhưng nó lại bị xem là
không có chiều sâu. Kaya no ki matsuri (Lễ hội cây Kaya) của Taki
lấy chủ đề tiếp nối truyền thống qua việc cữ hành một lễ hội thời
xưa dành cho lứa tuổi thành nhân. Qua việc đến lượt ḿnh tham gia
lễ hội này mà một thanh niên đă cảm thấy ḥa nhập được với quê
hương của anh.
Hai người cùng họ Takahashi được giải kỳ X1978:
Takahashi Michitsuna tả lại cuộc đời một sinh viên sinh hoạt trong
câu lạc bộ kiếm đạo của nhà trường qua tác phẩm Kugatsu no sora
(Bầu trời tháng 9), trong khi đó, Takahashi Kiichirô, với Nobuyo,
nói về cuộc trùng phùng và biệt ly giữa một nữ giáo sư tên Nobuyo
và anh học tṛ cũ của cô.
Mùa thu năm đó, T1978 vắng bóng người lănh giải
nhưng sang đến X1979 th́ có đến hai: Shigekane Yoshiko với Yamaai
no kemuri (Khói trong thung lũng) và Aono Satoshi với Gusha no
yoru (Đêm của bọn ngốc). “Khói trong thung lũng” là khói ḷ thiêu
xác, nơi một chàng thanh niên đang làm việc. “Đêm của bọn ngốc” tả
lại mối liên hệ giữa một người đàn ông ở nước ngoài về lại Nhật và
một người đàn bà có chồng Hà Lan. Lần này có một ứng viên vừa được
giải của Tạp chí Gunzô là Murakami Haruki với Kaze no uta wo kike
(Lắng nghe gió hát) nhưng ông không lọt được vào mắt xanh của ban
giám khảo. Giám khảo Ôe Kenzaburô có lên tiếng trong số báo Bungei
Shunjuu tháng 9/79: “Hồi này, có nhiều nhà văn khéo bắt chước cách
viết tiểu thuyết của người Mỹ” và được xem như một phản ứng tiêu
cực trước hiện tượng Haruki.
Nhà văn nữ Mori Reiko thắng ở T1979 với truyện
Mokkingubaado no iru machi (Thành phố có con chim nhại) kể lại
những khó khăn của một hôn nhân quốc tế. Trong một thành phố ở Mỹ,
những người phụ nữ Nhật lấy chồng bên đó hàng ngày đă sinh hoạt và
mơ về quê hương như thế nào.
Danh sách người được giải thời kỳ
này:
1) X1969 Shoji Kaoru庄司薫
với Akazukin-chan ki o tsukete (赤頭巾ちゃん気をつけて)
2) X1969 Takubo Hideo
田久保英雄với
Fukai kawa (深い河)
3) T1969 KiyookaTakayuki
清岡卓行với
Akashiya no dairen (アカシヤの大連)
4) X1970 Yoshida Tomoko
吉田知子với
Mumyōjōya (無明長夜)
5) X1970 Furuyama Komao古山高麗夫
với Pureō 8 no yoake (プレオー8の夜明け)
6) T1970 Furui Yoshikichi
古井由吉với
Yōko (杳子)
7) X1971 Không trao giải.
8) T1971 Ri Kaisei
李恢成với
Kinuta o utsu onna (砧をうつ女)
9) T1971 Higashi Mineo東峰夫
với Okinawa no shōnen (オキナワの少年)
10) X1972 Hatayama Hỉoshi
畑山博với
Itsuka kiteki o narashite (いつか汽笛を鳴らして)
11) X1972 Miyahara Akio
宮原昭夫với
Dareka ga sawatta (誰かが触った)
12) T1972 Yamamoto Michiko
山本道子với
Beti san no niwa (ベティさんの庭)
13) T1972 Gô Shizuko
郷静子với
Rekuiemu (れくいえむ
Requiem)
14) X1973 Miki Taku 三木卓
với Hiwa (鶸)
15) T1973 Noro Kuninobu野呂邦暢
với Kusa no tsurugi (草のつるぎ)
16) T1973 Mori Atsushi
森敦với
Gassan (月山)
17) X1974E Không trao giải.
18) T1974 Hino Keizô
日野啓三với
Ano yūhi (あの夕陽)
19) T1974 Sakata Hiroo坂田寛夫
với Tsuchi no utsuwa (土の器)
20) X1975 Hayashi Kyoko
林京子với
Matsuri no ba (祭りの場)
21) T1975 Nakagami Kenji
中上健次với
Misaki (岬)
22) T1975 Okamatsu Kazuo
岡松和夫với
Shikanoshima (志賀島)
23) X1976 Murakami Ryuu
村上龍với
Kagirinaku tōmei ni chikai burū (限りなく透明に近いブルー)
24) T1976 Không trao giải.
25) X1977 Mita Masahiro
三田誠広với
Bokutte nani (僕って何)
26) X1977 Ikeda Masuo池田満寿夫
với Êgekai ni sasagu (エーゲ海に捧ぐ)
27) T1977 Miyamoto Teru
宮本輝với
Hotarugawa (螢川)
28) Taki Shuuzô
高城修三với
Kaya no ki matsuri (榧の木祭り
The Nutmeg Tree Festival)
29) X1978 Takahashi Kiichirô
高橋揆一郎với
Nobuyo (伸予)
30) X1978 Takahashi Michitsuna
高橋三千綱với
Kugatsu no sora (九月の空
)
31) T1978 Không trao giải.
32) X1979 Shigekane Yoshiko
重兼芳子với
Yamaai no kemuri (やまあいの煙)
33) X1979 Aono Sô
青野聰với
Gusha no yoru (愚者の夜)
34) T1979 Mori Reiko森礼子với
Mokkingubaado no iru machi (モッキングバードのいる町)
Thời kỳ trầm trệ (1980-1987): .
Ở X1980, một lần nữa Murakami Haruki lọt vào ṿng
chung kết với 1973 nen no pinbôru (Tṛ bắn bi sắt năm 1973) nhưng
không một nhà văn nào trúng giải. Việc Murakami vào ṿng chung
khảo hai lần và ra về tay không khiến cho về sau, người ta đặt câu
hỏi tại sao một kết cuộc như vậy đă có thể xảy ra. Như chúng ta
đều biết, Murakami Haruki là tác giả của nhiều “betsellers”, tên
tuổi nổi như sóng cồn trong và ngoài nước, nhiều lần được đề cử
giải Nobel văn học. Có người xem đây là một bất công của giải
nhưng có thể các giảm khảo giải Akutagawa thời đó đă có những tiêu
chuẩn phán xét khác để mà “không tặng giải cho một nhà văn xứng
đáng được giải”.

Murakami Haruki
Sau 3 lần vào chung kết, Ôtsuji Katsuhiko một ḿnh
được trao giải T1980 với Chichi ga kiera (Cha tôi biến mất) nói về
một cuộc viếng thăm nghĩa trang Hachioji của một người con mất bố.
Nó chứng minh sự đúc kết văn tài của tác giả đến sau hai tác phẩm
dự giải trước đó.. Kỳ này, trong số những người vào chung kết có
Tanaka Yasuo, một sinh viên 24 tuổi ở Đại học Hitotsubashi, với
tác phẩm mang tựa đề khó hiểu Nan to naku kurisutaru (Dù sao cũng
là pha lê).
Giải X1981 về tay nhà văn nữ Yoshiyuki Rie với
Chiisana kifujin (Bà mệnh phụ nho nhỏ), kể lại chuyện xảy ra giữa
một cô hàng xén chuyên khâu những con mèo nhồi bông, một nhà văn
thích mèo nhưng không bán được văn và một nhà thơ luống tuổi. Đây
là một tiểu thuyết không có cốt truyện, đáng lư ra không thể được
giải nhưng v́ các tác phẩm dự thi khác lại c̣n yếu hơn nữa nên nó
mới có thể ngóc đầu lên được.
Giải đi đến chỗ trầm trệ. Kỳ T1981 không ai thắng.
Giám khảo Kaikô Takeshi đánh giá là trong 8 tác phẩm chung khảo kỳ
đó không có quyển nào hấp dẫn. X1982 tiếp theo cũng vậy. Sau hai
lần vắng giải, đến T1982 mới có hai người. Đó là Kara Juuzô với
Sagawa-kun kara no tegami (Thư anh Sagawa) và Katô Sachiko với
Yume no kabe (Bức tường của mộng). Kara Juuzô đă gây một chấn
động. Trước tiên, ông là một nhà kịch nghê đă thành danh của sân
khấu địa đạo (underground), sau đó chủ đề ông tŕnh bày lần này
lấy từ một vụ án mạng xảy ra một năm trước đó. Thủ phạm là một
thanh niên Nhật, một cậu ấm mang bệnh tâm thần, du học Paris, đă
giết một cô bạn gái người Hà-Lan rồi xẻ xác và để dành thịt cô
trong tủ lạnh ăn dần. Tính cách tàn nhẫn và phi nhân của vụ án
mạng và việc một nhà văn đem nó ra làm đề tài đă chia rẽ hàng ngũ
giám khảo. Maruya quyết liệt chống đối nhưng Kara lại nhận được sự
ủng hộ của số đông, trong đó có Yoshiyuki Junnosuke, Ôe Kenzaburô
và Niwa Fumio. Truyện của người đồng trúng giải là Katô Sachiko
th́ hiền lành hơn, bà chỉ nói về kỷ niệm của một thiếu nữ với một
thiếu niên Trung Quốc trong bối cảnh thành phố Bắc Kinh Việc Katô
cùng đoạt giải với một đề tài lành mạnh đă giữ cho kỳ giải này một
thế thăng bằng.
Tuy nhiên, sau cú sốc với Kara Juuzô, t́nh trạng
trầm trệ vẫn tiếp diễn. X1983 cũng không có ai được giải. Đến
T1983 th́ lại sinh đôi, một nam một nữ. Trước tiên là Kasahara Jun
với Mokuji no sekai (Thế giới của Mokuji) và Takagi Nobuko với
Hikari idaku tomo yo (Hỡi người bạn ôm choàng ánh sáng). Truyện
của Kasahara tŕnh bày cuộc đời của một cậu em công việc vất vưởng
(arubaito) sống qua ngày dưới cặp mắt của ông anh có công ăn việc
làm và vợ con ổn định. Takagi th́ tả lại mối liên hệ giữa một cô
nữ sinh viên, con giáo sư đại học, với một bạn cùng lớp bị đồng
bọn lôi kéo thành kẻ hoang đàng.
X 1984, không ai được trao giải, ngay X 1985 cũng
vậy, chứng tỏ giải chưa thoát ra khỏi băi lầy. Xen kẽ vào đó, mỗi
bà Kizaki Satoko được trao giải T 1984 với Aogiri (Cây ngô đồng
xanh) nhưng chỉ sau 6 lần vào chung kết. Dù sao, nội dung tác phẩm
rất lư thú v́ nó đả động đến một ưu tư của thời buổi, đó là việc
săn sóc, cưu mang người già. Một cô gái mồ côi sớm phải lo chăm
sóc bà cô đă nuôi dạy ḿnh nên người trong khi bà đang chiến đấu
chống lại căn bệnh ung thư vú. Tuy văn từ cổ xưa, bị chê là thiếu
sự tươi mới, nhưng cách chọn đề tài hợp thời của Kizaki đă được
ban giám khảo và dư luận tán thưởng.
Bốn mươi tám tuổi mới bắt đầu viết nhưng cũng chưa
quá đỗi muộn màng với Kometani Fumiko, quán quân của T1985, người
đă lănh giải năm 54 tuổi. Chủ đề tác phẩm Sugikoshi no matsuri (Lễ
Vượt Qua = Passover) của bà cũng như một số ứng viên trước đây,
khai thác cuộc sống của những người phụ nữ Nhật lấy chồng nước
ngoài, đặc biệt lần này là một người Do Thái. Điều đó nói lên nhu
cầu của người Nhật càng ngày càng muốn t́m hiểu văn hóa những đất
nước xa lạ.
Vào mùa xuân 1986 cũng là lần tuyển khảo thứ 95
(X1986), không có ai đoạt giải. Chắc là thấy cần đổi mới cái nh́n
hay sao mà trong thành phần ban giám khảo bắt đầu có vài sự xê
dịch. Nakamura Mitsuo, Yasuoka Shôtarô, Endô Shuusaku ra đi và
được thay thế bằng Ôba Minako, Kuroi Senji, Kôno Taeko và Hino
Keizô. Đặc biệt lần đầu tiên giải có hai nữ giám khảo là Ôba và
Kôno. Tuy vậy, T 1986 cũng không có người trúng giải dù có mặt các
ứng viên quen thuộc như Shimada Masahiko và Yamada Eimi ở ṿng
chung kết.
Một nhà văn nữ là Murata Kiyoko được giải X1987.
Tác phẩm Nabe no naka (Trong nồi xúp hầm) kể lại chuyện 4 đứa trẻ
đến thăm người bà lú lẫn của chúng, đặt vấn đề sự thiếu thông cảm
trong sự giao tiếp giữa hai thế hệ trẻ già. Giải bắt đầu sinh động
trở lại v́ T1987 có hai người được giải: Ikezawa Natsuki với
Sutiru Raifu (Still Life) và Miura Kiyohiro với Chônan Shukke (Cậu
con cả đi tu). “Still Life” kể chuyện một người đàn ông đi làm
công ăn tiền giờ bị bạn đồng nghiệp lôi kéo vào tṛ chứng khoán.
Trong ”Cậu con cả đi tu”, Miura tự kể chuyện đời ḿnh, cho ta biết
cha mẹ ông đă phản ứng thế nào khi một cậu con cả c̣n trẻ đáng lẽ
là cột trụ của gia đ́nh và ḍng họ, mà đi chọn con đường rời xa
thế tục. Thực vậy, ở Nhật, chuyện con thứ đi tu là thường nhưng
con cả th́ rất hiếm.
Danh sách những người được giải
thời kỳ này:
1) X1980 Không trao giải.
2) T1980 Otsuji Katsuhiko尾辻克彦
với Chichi ga kieta (父が消えた)
3) X1981 Yoshiyuki Rie
吉行理恵với
Chisana kifujin (小さな貴婦人)
4) T1981 Không trao giải.
5) X1982 Không trao giải.
6) T1982 Katô Yukiko
加藤幸子với
Yume no kabe (夢の壁)
7) T1982 Kara Juuzô
唐十郎với
Sagawa-kun kara no tegami (佐川君からの手紙)
8) X1983 Không trao giải.
9) T1983 Kasahara Jun
笠原淳với
Mokuji no sekai (杢二の世界
)
10) T1983 Takagi Nobuko
高樹のぶ子với
Hikari idaku tomo yo (光抱く友よ)
11) X1984 Không trao giải.
12) T1984 Kizaki Satoko
木崎さと子với
Aogiri (青桐)
13) X1985 Không trao giải.
14) T1985 Kometani Fumiko
米谷ふみ子với
Sugikoshi no matsuri (過越しの祭)
15) X1986 Không trao giải.
16) T1986 Không trao giải.
17) X1987 Murata Kiyoko
村田喜代子với
Nabe no naka (鍋の中)
18) T1987 Ikezawa Natsuki
池澤夏樹với
Sutiru Raifu (スティル・ライフ
Still Life)
19) T1987 Miura Kiyohiro
三浦清宏với
Chōnan no shukke (長男の出家)
Thời kỳ mỏi ṃn (1988-1999):
Năm 1988, khi Giải Mishima vinh danh văn hào
Mishima Yukio (1925-70) được thành lập th́ mọi con mắt đổ dồn về
phía đó. Nhiều người chê trách Giải Akutagawa quá hạn hẹp so với
giải mới này. Giải Mishima có lẽ thích hợp với khung cảnh thời đại
hơn v́ không gian tuyển khảo bao trùm cả một lănh vực lớn từ
truyện ngắn đến truyện dài, chấp nhận cả thơ, mỗi năm chỉ phát một
lần và có nhiều nhà phê b́nh văn học vào trong thành phần ban giám
khảo.
Tuy nhiên Giải Akutagawa vẫn tiếp tục con đường của
ḿnh. Người nhận giải kỳ X 1988 là Arai Man với Tazunebito no
Jikan (Thời giờ của người mất tích). Truyện kể lại hoàn cảnh của
một nhà nhiếp ảnh bị liệt dương, không c̣n ham sống, bỏ vợ bỏ con
ra đi. Arai chỉ được số phiếu vừa khít để trúng giải. Nên nhớ lần
này, trong ṿng chung kết đă thấy xuất hiện cây bút trẻ Yoshimoto
Banana với Utakata (Tăm bọt).
Yoshimoto Banana c̣n vào chung tuyển năm sau ở
T1988 với Sanchuari (Sanctuary, Thánh địa) nhưng cô không thành
công. Kỳ ấy, có hai người khác nhận giải: Nagi Keishi với
Daiamondo dasuto (Diamond Dust) và Ri Yanji (Lư Lương Chi) với
Yuhi (Cô Yuhi). Truyện của Nagi nói về công việc của một người
khán hộ trong một bệnh viện vùng cao. Ri th́ như hầu hết mọi cây
bút gốc Hàn, đặt trọng tâm vào cuộc đời con cháu những kiều dân
Hàn thời thuộc địa bị bó buộc sang Nhật lao động. Ri đă tả lại
cuộc xung đột nội tâm của một thiếu nữ Hàn sinh ra trên đất Nhật
khi thấy ḿnh không ḥa hợp được với tiếng Hàn (Hangul) và văn hóa
của tổ tiên mà cô tiếp nhận qua gia đ́nh.
X 1989 không có ai trúng giải dù ở ṿng chung kết
đă thấy bóng dáng hai quán quân tương lai là Ogawa Yôko và Ogino
Anna. Không c̣n thấy Yoshimoto Banana tham gia nữa. Đến T 1989 th́
hai người đoạt giải có tên là Takizawa Mieko với Nekobaba no iru
machi (Phố có Bà Măo) và Ôoka Akira với Hyôsô seikatsu (Sinh hoạt
trên bề mặt). Tác phẩm trước kể chuyện một thiếu nữ Nhật sinh ra
trên đất Mỹ đă quan sát sinh hoạt của người bà và người cô ḿnh
thế nào khi được gửi về thăm đất nước.Truyện thứ hai nói về một
người sử dụng cơ năng máy tính để thăm ḍ tiềm thức của con người
và ghi lại bằng video.
Tsujihara Noboru đoạt giải X1990 với Mura no namae
(Tên của ngôi làng). Truyện kể lại chuyến đi thăm một ngôi làng
Trung Quốc của một nhân viên hăng buôn Nhật, anh t́nh cờ đối mặt
với nhiều sự cố lạ lùng nơi đó. Đây là một câu chuyện về một ngôi
làng bí mật chỉ có trong thế giới ảo.
Vào lần tuyển khảo thứ 104 (T1990), nhà văn nữ
Ogawa Yôko đă trúng giải sau 4 lần vào chung kết. Tác phẩm kỳ này
nhan đề Ninshin karendaa (Lịch mang thai), trong đó một phụ nữ
quan sát quá tŕnh mang thai của một phụ nữ khác, bạn cùng nhà, từ
lúc đầu cho đến ngày sinh nở.
Đây là một
thành công
thương mại
cho tác giả v́
đă
bán
được
ngay 300 ngh́n cuốn.
Henmi Yô nhận giải trong kỳ tuyển khảo X1991 với
tác phẩm Jidô kisô sôchi (Thiết bị đánh thức tự động) nói về một
anh nhân viên được thông tấn xă của ḿnh cắt đặt để đánh thức các
bạn đồng nghiệp đang ngủ tạm trong pḥng trực, đặt vấn đề mang
tính thời sự là về vai tṛ của giấc ngủ trong đời sống con người.
Có thể đề tài bắt nguồn từ kinh nghiệm của Henmi, một nhà báo đă
sống qua cảnh đó. Người chia giải với ông kỳ đó không ai khác hơn
là nữ văn sĩ Ogino Anna vốn đă vào chung kết nhiều lần cùng Ogawa
Yôko. Truyện Seoi mizu (Gánh nước) của Ogino mô tả mối liên hệ
giữa một thanh niên và cô gái độc thân sống chung dưới một mái
nhà. Tuy văn từ được đánh giá là tinh tế, điều đă thấy trong tác
phẩm dự thi của bà từ hai mùa trước, Ogino chỉ vừa đủ phiếu để
được giải.
Giải T1991 về tay Matsumura Eiko với tác phẩm có
nhan đề hơi khác thường là Abatôn (Chỗ thiêng liêng nhất), kể lại
cuộc sống chung của hai nữ sinh viên trong cư xá một đại học. Phái
thuận và phái chống ngang ngửa nhau nhưng rốt cuộc Matsumura vẫn
thắng cho dù kỳ đó có sự tham gia của Tada Hỉroko, một ứng viên đă
xuất hiện đến 6 lần ở kỳ chung khảo.
Fujiwara Tomomi khai thác cuộc sống của những người
lái xe điện ngầm. Untenshi (Người lái tàu) đă giúp bà đoạt giải kỳ
X1992. Fujiwara là một nhà văn đến từ thế giới của kịch bản phim,
30 tuổi và đây là tác phẩm thứ hai, đáng gọi là nhà văn mới. Lần
đó, ứng viên vừa đoạt giải của Tạp chí Gunzô là Tawada Yôko cũng
có tác phẩm dự thi nhan đề Persona (Mặt nạ / Nhân cách). Tuy tài
năng đă sớm được ban giám khảo giải Akutagawa tấm tắc nhưng họ chỉ
trao cho bà giải vào kỳ sau. Thực vậy, Tawada đă đăng quang trong
kỳ T1992 với Inu mukoiri (Con chó ở rễ), đề tài khởi hứng từ
truyện cổ dân gian. Truyện mô tả cuộc sống chung giữa một thiếu nữ
độc thân mở một lớp dạy tư và một chàng trai mà tính nết làm nàng
liên tưởng đến một con chó. Tác phẩm kỳ này không được đánh giá
cao như Persona nhưng cứu xét bằng cách đem cộng cả hai lại th́
cũng đủ để bà được trao giải.
Người được giải của X1993 là Yoshimeki Haruhiko với
Sekiryô Kôgai (Cành đồng ngoại ô vắng vẻ). Tác phẩm này do một
người đàn ông viết nhưng cũng nói về một cuộc hôn nhân quốc tế
giữa một cựu binh Mỹ ở một tiểu bang miền Nam và người vợ Nhật của
ông ta. Khác chăng là nó c̣n đề cập đến bệnh lú lẫn (Alzheimer) và
cuộc sống cô lập ở vùng quê hẻo lánh. Với Yoshimeki, đă lâu mới
thấy một ứng viên đoạt giải với số phiếu bỏ xa người về nh́.
Giải T1993 vào tay Okuizumi Hikaru với Ishi no
raireki (Lai lịch của đá). Okuizumi cũng đă từng dự 3 lần giải và
đều thất cử. Lần này, nhà văn khai triển một đề tài đă cũ nghĩa là
nói về cuộc sống thời hậu chiến của một người lính đă tham dự trận
đánh kinh hoàng trên đảo Leyte (Phi luật tân) trong thế chiến thứ
hai.Trong bao cảnh khổ tâm và ác mộng gia đ́nh, ông vẫn miệt mài
với thú vui duy nhất là sưu tập những ḥn đá cũ.
Có hai nhà văn trúng giải X1994: Shôno Yoriko và
Muroi Mitsuhiro. Tác phẩm của Shôno mang một cái tên Mỹ là Taimu
Surippu Conbinaato (Time Slip Combination) nhưng dĩ nhiên dưới tự
dạng katakana. Trong đó tác giả kể lại câu chuyện một người sau
khi nghe một cú điện thoại không rơ của ai đă t́m đến một nhà ga
tên là Umishibaura trên tuyến đường Tsurumi (phía bắc thành phố
Yokohama)... Câu truyện khó hiểu và thiếu đặc sắc nhưng có lẽ
Shôno được trao giải v́ bước tiến của bà so với lần góp mặt trước
qua Nihyakushuki (Ngày giỗ thứ 200) vào kỳ T1993. Muroi Mitsuhiro
là nhà văn nam cùng đoạt giải với bà năm đó nhưng với nhiều phiếu
hơn. Qua Odorudeku (Những con rối nhảy múa), ông đă triển khai câu
chuyện của một người t́m ra được trong nhà kho nơi ḿnh ở một cuốn
nhật kư viết bằng mẫu tự Nga và kể lại nội dung trong đó. Một số
giám khảo cho rằng tác phẩm của ông không phải tiểu thuyết mà chỉ
là văn nghị luận hay b́nh luận nhưng rồi Muroi cũng đă trúng giải
cùng với Shôno.
Kỳ T1994 không ai được giải dù đây là lần nhà văn
trẻ Uchida Shungiku – một người có văn phong đậm màu nhục cảm và
gây sốc - lọt vào ṿng chung kết. T́nh cờ là năm đó bên giải Naoki
cũng không trao giải. Đây là lần đầu tiên từ năm 1971 mới thấy tái
hiện câu chuyện buồn tẻ này. Các giám khảo như Miura Tetsuo, Ôba
Minako đều tỏ ra thất vọng về một thời đại mà số giải thưởng th́
nhiều nhưng tác phẩm xứng đáng lại chẳng có bao nhiêu.
Hosaka Kazushi được trao giải kỳ X1995 với Kono
hito no iki (Ngưỡng cửa của người này) kể lại chuyến viếng thăm
của người đàn ông 30 tuổi nơi nhà một đàn chị học trên lớp ḿnh ở
đại học. Hosaka từng được biết là nhà văn có phong cách hay kể lại
những mẩu vụn rời rạc của cuộc sống đời thường. Ngoài Hosaka, tham
dự lần này c̣n có Yu Miri, Kawakami Hiromi, Fujisawa Shu là những
nhà văn mà chúng ta sẽ c̣n có cơ hội nhắc đến.
T1995 đăng quang Matayoshi Eiki với Buta no mukui
(Phần thưởng của con heo). Một lần nữa bối cảnh câu chuyện là đảo
Okinawa, câu chuyện về ba người con gái làm việc trong một snack
bar và một sinh viên đại học làm một cuộc hành hương đến đỉnh núi
Utaki, được biết như thánh địa của người dân trên đảo. Đáng chú ư
là từ kỳ 114 này (T1995), sau cái chết của Yoshiyuki Junnosuke, có
3 giám khảo mới là Ikezawa Natsuki, Ishihara Shintarô và Miyamoto
Teru, đều là những người có kinh nghiệm trúng giải, đưa con số
giám khảo lên 12 người.

Kawakami Hiromi
Như đă tiên đoán, bà Kawakami Hiromi – một nhà văn
có ngoại h́nh như người mẫu - thắng giải X1996 với Hebi wo fumu
(Dẫm lên con rắn). Điều này không hề làm giảm sút tài năng và uy
tín của bà v́ sau này Kawakami c̣n trở thành giám khảo của giải.
Truyện mang tính cách huyền ảo, kể về một cô con gái dẫm lên con
rắn và sau đó, một người đàn bà sinh từ xác rắn đă t́m đến nhà,
xưng là mẹ và sống chung với cô. Kỳ này, có một ứng viên cha Mỹ mẹ
Nhật là Levy Hideo lọt vào ṿng chung kết với Tenanmon (Thiên An
Môn). Levy là một giáo sư đại học và là người đă dịch Man.yôshuu
sang tiếng Anh.
Với Kazoku no shinema (Cuốn phim cảnh gia đ́nh),
nhà văn nữ gốc Hàn Yu Miri (Liễu Mỹ Lư) được trao giải T1996. Cùng
nhận thưởng với bà là nhà văn kiêm nhạc sĩ rock kiêm nhà biên kịch
Tsuji Hitonari với Kaikyô no hikari (Ánh sáng bên eo biển). Với
Tsuji và Kawakami trước đó, các nhà văn được giải bắt đầu mang màu
sắc “tarento”(talent) trong cái nghĩa tiếng Nhật gốc Anh là “người
có một kỹ năng đặc biệt không cần rơ ràng, trở thành nổi tiếng và
được khán giả các phương tiện truyền thông yêu chuộng”.

Yu Miri
Truyện của Yu viết về cảnh tái tạo h́nh ảnh một gia
đ́nh ( gồm 5 người và đă tan vỡ) nhân khi họ được chọn để quay một
cuốn phim nói về một gia đ́nh... hạnh phúc. Truyện của Yu rất ăn
khách cũng như Kawakami lần trước, được in ra đến 200.000 bản. Tác
phẩm thắng cử của Tsuji mang đề tài mối liên hệ giữa một người
quản giáo nhà tù ở Hakodate và cậu bạn thời tiểu học, tuy học giỏi
nhưng sống đạo đức giả, có thời đă hiếp đáp anh. Trong kỳ giải
này, lại có một người ngoại quốc diễn tả bằng tiếng Nhật khác (kể
từ Levy Hideo) tham dự. Đó là David Zopety. Tuy nhiên bức rào chắn
tâm lư vẫn c̣n được đặt ra trước một nhà văn mà Nhật ngữ không
phải là tiếng mẹ đẻ.
Người đoạt giải tiếp theo (X1997) là Medoruma Shun
với Suiteki (Giọt nước). Medoruma sinh sống ở Okinawa và cũng đặt
bối cảnh câu chuyện ông kể ở đó. Truyện có tính ngụ ư
(allegorical), nói về một anh chàng dân Okinawa, một hôm thấy chân
ḿnh sưng phù lên rồi rịn nước và từ những giọt nước ấy, hồn ma
của những người lính Nhật cũ bắt đầu trở về.
Kỳ T1997, thêm một lần nữa lại vắng giải. Chỉ có 5
tác phẩm vào chung kết nhưng không tác phẩm nào gom nổi số phiếu
qui định. Phải đợi đến kỳ sau (X1998) mới có ứng viên trúng giải
và những hai người: Fujisawa Shu, một khuôn mặt quen biết, với
Buenosu Airesu gozen reiji (Nửa khuya ở Buenos Aires) và Hanamura
Mangetsu với Gerumaniumu no yoru (Đêm Germanium). Truyện của
Fujisawa nói về cuộc gặp gỡ của anh người làm trong một khách sạn
vùng tuyết giá với một bà lăo mù, trong khi Hamakura kể chuyện bạo
lực, hiếp dâm của một thanh niên được nuôi dạy trong một cơ sở
giáo dục của nhà chung. Nh́n các tác phẩm dự thi, các giám khảo
như Ishihara Shintarô và Hino Keizô đều đă than phiền về sự xuất
hiện của quá nhiều cuốn truyện mà nhân vật chính là những kẻ cuồng
bạo, đánh mất tương lai, phản xă hội nhưng người đọc lại yêu
thích. Chúng được mệnh danh đó là loại akkan shôsetsu
悪漢小説
(ác hán tiểu thuyết, picaresque). Thời kỳ này, có
nhiều kư sự và phê b́nh đă nêu ra những khái niệm mới như “văn
chương không biên giới” (borderless literature), “bùng nổ của văn
chương” (literature big bang), “tiểu thuyết tiêu khiển”
(entertainment novel), “văn chương vượt giới tuyến” (literature’s
crossover), chung qui họ muốn xóa bỏ biên giới giữa văn học thuần
túy và văn học đại chúng, giữa giải Akutagawa và giải Naoki.
Một sinh viên 23 tuổi c̣n ngồi trên ghế phân khoa
Luật của Đại học Kyôto đă thắng giải T1998. Đó là Hino Keiichirô
với Nisshoku (Nhật thực), tác phẩm đầu tay của ông. Truyện nói về
một sinh viên Thần học ở Âu châu thời Trung cổ, trong khi du lịch
để t́m hiểu triết thuyết của các tôn giáo khác lạ đă có những cuộc
tao ngộ khác thường. Hino gom được một số phiếu lớn kỳ đó v́ nói
như giám khảo Miyamoto Teru, ông đă đánh tan được bầu không khí
nặng nề tạo ra bởi hai tác phẩm đoạt giải mùa trước. Tài năng của
Hino c̣n làm cho có người xem ông như một “Mishima tái sinh”.
Hai tài năng là Fujino Chiya với Koi no kyuujitsu
(Ngày nghỉ mệt của t́nh yêu) và Gengetsu với Oppai (Vú) đă được đề
cử cho X1999 nhưng rốt cuộc, kỳ đó không ai trúng giải. Tuy vậy,
hai người không phải đợi lâu. Đến T1999, cả hai đều đạt mục đích.
Fujino với Natsu no yakusoku (Lời hứa mùa hè) và Gengetsu với Kage
no sumika (Chỗ giả ngụ). Fujino vốn là một người đang ở trong quá
tŕnh “chuyển giới” (transgender) đă kể lại câu chuyện đồng tính
luyến ái của hai nhân vật nam trong tác phẩm của ḿnh, gây được
tiếng vang lớn nhờ sự mới mẻ của đề tài. Cho đến lúc đó, “đời sống
t́nh dục của thiểu số ” (minority’s sex) vẫn bị ém nhẹm, không ai
nhắc tới. Gengetsu, một người Triều Tiên ở Ôsaka th́ bày tỏ sự ngỡ
ngàng khi thấy vai tṛ của người di dân Trung Quốc đang lấn át sự
có mặt của người di dân gốc Hàn trên một thành phố xưa nay vốn là
cứ điểm của họ.
Danh sách những người được giải
thời kỳ này:
1) X1988 Arai Man
新井満với
Tazunebito no jikan (尋ね人の時間)
2) T1988 Nagi Keishi
南木佳士với
Daiyamondo dasuto (ダイヤモンドダスト
, Diamond Dust)
3) T1988 Ri Yanji
李良枝với
Yuhi (由煕)
4) X1989 Không trao giải.
5) T1989 Ôoka Akira
大岡玲với
Hyōsō seikatsu (表層生活)
6) T1989 Takizawa Mieko瀧澤美恵子
với Nekobaba no iru machi de (ネコババのいる町で)
7) X1990 Tsujihara Noboru
辻原登với
Mura no namae (村の名前)
8) T1990 Ogawa Yôko小川洋子
với Ninshin karendaa (妊娠カレンダー)
9) X1991 Henmi Yô
辺見庸với
Jidô kishō sōchi (自動起床装置)
10) X1991 Ogino Anna
荻野アンナvới
Seoi mizu (背負い水)
11) T1991 Matsumura Eiko松村栄子
với Abatōn (至高聖所)
12) X1992 Fujiwara Tomomi
藤原智美với
Untenshi (運転士)
13) T1992 Tawada Yôko多和田葉子
for Inumuko iri (犬婿入り)
14) X1993 Yoshimeki Haruhiko吉目木晴彦
với Sekiryōkōya (寂寥郊野)
15) T1993 Okuizumi Hikaru
奥泉光với
Ishi no raireki (石の来歴)
16) X1994 Muroi Mitsuhiro
室井充弘với
Odorodeku (おどるでく)
17) X1994 Shôno Yoriko
笙野頼子với
Taimu surippu konbinaato (タイムスリップ・コンビナート
The Time Slip Industrial Complex)
18) T1994 Không trao giải.
19) X1995 Hosaka Kazushi
保坂和志với
Kono hito no iki (この人の閾)
20) T1995 Matayoshi Eiki
又吉栄喜với
Buta no mukui (豚の報い)
21) X1996 Kawakami Hiromi
川上弘美với
Hebi o fumu (蛇を踏む)
22) T1996 Tsuji Hitonari
辻仁成với
Kaikyō no hikari (海峡の光)
23) T1996 Yu Miri
柳美里với
Kazoku shinema (家族シネマ)
24) X1997 Medoruma Shun
目取真俊với
Suiteki (水滴)
25) T1997 Không trao giải.
26) X1998 Hanamura Mangetsu花村萬月
với Gerumaniamu no yoru (ゲルマニウムの夜Germanium
Nights)
27) X1998 Fujisawa Shu
藤沢周với
Buenosu Airesu gozen reiji (ブエノスアイレス午前零時
Midnight in Buenos Aires)
28) T1998 Hirano Keiichirô
平野啓一郎với
Nisshoku (日蝕)
29) X1999 Không trao giải.
30) T1999 Gengetsu玄月
với Kage no sumika (蔭の棲みか)
31) T1999 Fujino Chiya
藤野千夜với
Natsu no yakusoku (夏の約束)
Thời kỳ quyết định đơn độc
(2000-2012):
Quyết định đơn độc có nghĩa là trong giai đoạn 12
năm này, có sự can thiệp của cơ sở Bungei Shunjuu để mỗi năm có
thể có được bốn tác giả đoạt giải. Như thế, dù là một tác giả được
ban giám khảo chấp nhận một cách tương đối cũng có thể thắng cử.
Đường lối được cho là quá dễ dăi này đă gặp nhiều ư kiến phản bác
từ giới truyền thông.
Năm đầu tiên, mọi sự đă diễn ra êm xuôi. Kỳ X2000,
giải đă được trao cho Machida Kô với Kiregire (Dở dang) và
Matsumura Hisaki với Hana kudashi (Hoa thối ủng). Truyện trên tả
lại tâm t́nh của một họa sĩ nghèo, không thiết làm ăn, những ghen
tức, yêu ghét và ảo tưởng trong đầu anh. Truyện dưới cũng u ám như
thế v́ nhân vật chính là một nhà thiết kế bị phá sản, rút lui về
làm ăn trong một căn hộ nhỏ trong khu Ôkubo-Shinjuku, ngay giữa
Tokyo. Tuy không phải là những tác phẩm có chất lượng cao nhưng
theo giám khảo Ishihara Shintarô th́ chúng đă phân tích và tŕnh
bày được hoàn cảnh xă hội khó khăn mà mà các nhà kinh doanh đang
phải đối đầu.
Hai người được giải T2000 là Seirai Yuuichi và
Horie Toshiyuki. Tác phẩm Seisui (Nước thánh) của Seirai viết về
một gia đ́nh ḍng dơi Ki-tô giáo kinh doanh siêu thị mà một thân
nhân nằm trong ban quản trị lại có tư tưởng buôn thần bán thánh.
Kuma no shikiishi (Đá lót đường của gấu) nói về chuyến đi của một
nhà phiên dịch từ Paris xuống vùng Normandie để gặp một người
bạn.Tuy văn phong đượm màu triết lư và dạy đời nhưng Horie đă nhận
được sự ủng hộ của nhiều giám khảo. Nói chung th́ 5 người vào
chung kết kỳ đó (kể cả Daidô Tamaki và Genyuu Sôkyuu, hai người sẽ
trúng giải trong tương lai) đều là những nhà văn có thực lực.
Như đă dự đoán, Genyuu Sôkyuu đoạt giải kỳ X2001 mà
không phải chia sẻ với ai cả. Tác phẩm Chuuin no hana (Hoa lễ 49
ngày) tả lại một trải nghiệm thần bí của nhà sư tông Lâm Tế, biết
trước được phút lâm chung của ḿnh. Chính tác giả cũng là một nhà
sư trụ tŕ ở một ngôi chùa vùng Fukushima và đă viết văn từ thời
sinh viên. Sau khi đoạt giải, ông tiếp tục tích cực viết tiểu
thuyết, nghị luận và đi diễn thuyết ... với lập trường tăng lữ. Kỳ
X2001 này, ứng viên Nagashima Yuu cũng đă được ban giám khảo lưu ư
v́ bút pháp nhẹ nhàng của Saidoka ni inu (Xe sidecar chở chó), một
tác phẩm vào đến ṿng chung khảo.
Có lẽ nhờ sự chú ư đó mà đến T2001, Nagashima Yuu
đă thắng giải với tác phẩm mới nhan đề Môsupiido de haha wa (Bà mẹ
siêu tốc lực của tôi). Truyện nói về h́nh ảnh một bà mẹ độc thân
nuôi con, đă nỗ lực chiến đấu, can đảm sống c̣n, cũng như chuyện
yêu đương ngoài lề của bà. Tất cả đă diễn ra dưới mắt của đứa con.
Đây cũng là một bức tranh sống động của xă hội mới với những gia
đ́nh đơn lẻ, chỉ có mẹ hoặc cha (kataoya kazoku片親家族).
Paruku raifu (Park Life), y như cái tựa của nó, là
tác phẩm kể lại một cuộc gặp gỡ t́nh cờ trong Công viên Hibiya,
trung tâm Tokyo, vào giờ nghỉ để ăn trưa giữa một anh tư chức và
một thiếu nữ rồi là cuộc đối thoại giữa hai người. Nó đă gom được
nhiều phiếu ngay từ ṿng đầu và giúp ứng viên kỳ cựu Yoshida
Shuuichi trúng giải X2002 sau 5 lần tham dự. Giải T2002 về tay một
ứng viên quen thuộc khác, nhà văn nữ Daidô Tamaki. Bà đă 4 lần vào
chung tuyển. Tác phẩm Shoppai doraibu (Shoppai drive, Cuộc dạo
chơi bằng xe mằn mặn) nói về mối liên hệ giữa một cô gái trẻ và
một ông bạn của gia đ́nh đang ở vào cái tuổi chớm già đă giúp
Daidô đánh bạt một tài năng trẻ 19 tuổi, cô nữ sinh cấp ba
Shimamoto Risei, người đă vào tận ṿng chung kết với tác phẩm mà
nhan đề cũng viết bằng Japanese English (chữ Nhật kiểu Anh):
Ritoru bai ritoru (Little by little, Từ từ).
Yoshimura
Man.ichi thắng giải X2003 với Hariganemushi (Con sâu róm). Tác giả
kể lại câu chuyện một cô gái làm nghề tắm cho khách trong cửa tiệm
tắm hơi (soap musume)
đă “ḅ” được vào trong gia đ́nh một ông giáo rồi từ đó trong nhà
xảy ra lắm cảnh thô bạo Tuy có người như Miyamoto Teru lên tiếng
cho biết ông đă chán ngấy loại văn chương đầy bạo lực, dục t́nh và
thú tính nhưng trong ban giám khảo không có ai khác tỏ ra tuyệt
đối chống Yoshimura nên cuối cùng ông này đă đánh bại hai đối thủ
nặng cân để thắng giải.
Kể từ năm 2000 trở đi, khuynh hướng chung là chỉ đề
cử các tác phẩm in ở 5 tạp chí văn học thuần túy. Tác phẩm được
thưởng phần nhiều đến từ tờ Bungakukai, tạp chí có liên hệ mật
thiết với ban tổ chức giải. Một hiện tượng khác là vai tṛ của
Internet trong việc đánh giá các tác phẩm được tuyển. Sự phổ biến
của của các trang mạng chuyên đề (portal site) đă phần nào dân chủ
hóa ư kiến về giải tuy cũng đem lại ảnh hưởng xấu như việc biến nó
thành một kịch trường để những kẻ có dụng ư mặc t́nh “băm vằm”
(mettagiri) ứng viên đối địch.

Kanehara Hitomi
Ban giám
khảo từ T2003 trở đi gồm có Ishihara Shintarô, Ikezawa Natsuki,
Kuroi Senji, Kôno Taeko, Takagi Nobuko, Furui Yoshikichi, Miura
Tetsuo, Miyamoto Teru, Murakami Ryuu và Yamada Eimi. Họ đă b́nh
chọn Kanehara Hitomi và Wataya Risa để trao giải kỳ T2003. Hai
người đều là tác giả trẻ. Kanehara mới 19 tuổi, trở thành khôi
nguyên nhỏ tuổi nhất, trong khi Wataya hai năm trước, khi dự giải
lần đầu, cũng chỉ là một nữ sinh trung học. Hebi ni piasu (Khoen
tai cho rắn)
của Kanehara nói về thế giới của những người muốn cải trang thân
thể bằng xâm h́nh và đeo khoen. C̣n Keritai senaka (Cái lưng muốn
đá) của Wataya th́ tŕnh bày những cảm nghĩ về cuộc sống đời
thường của một nữ sinh trung học. Nếu kể thêm Shimamoto Risei (một
lần nữa vào được chung kết nhưng ra về tay không) th́ kỳ này,
chúng ta có một lượt 3 nữ ứng viên xấp xỉ tuổi 20. Tác phẩm của họ
đều toát ra một bầu không khí phi hiện thực, vô nghĩa và một t́nh
cảm uể oải mệt mỏi. Tuy nhiên các cô đă thành công v́ giới truyền
thông thổi phồng cái chuyện những người trẻ đoạt giải như một hiện
tượng hi hữu khiến cho con số sách phát hành rất cao. “Cái lưng
muốn đá” của Wataya bán được trên 1 triệu cuốn, đạt kỷ lục
Murakami Ryuu từng lập ra năm 1976 với “Một màu xanh trong suốt
đến vô biên”.
Mobu Norio lănh giải X2004 khi đưa ra chủ đề săn
sóc người già trong Kaigo nyuumon (Nhập môn về điều dưỡng). Đây là
câu chuyện về một thanh niên có nhiệm vụ săn sóc người bà của anh.
Kể từ khi Nhật Bản trở thành xă hội lăo hóa nhanh nhất thế giới
th́ vấn đề trông nom người lớn tuổi cũng như người khuyết tật đă
trở thành mối quan tâm hàng đầu. Điểm đặc biệt đáng đề cập nơi đây
là Mobu đă dùng một thể văn kể truyện tự do kiểu hát “rap”, làm
cho các giám khảo thích thú v́ nó đi ra ngoài khuôn phép.

Abe Kazushige
Kỳ T2004 có hai nhà văn trở lại “đấu trường”
Akutagawa sau 10 năm vắng bóng, một chuyện hiếm có nữa. Abe
Kazushige là một trong hai người ấy. Ông đă thắng giải với Gurando
Finaaaru (Grand Final, Ṿng chung kết), một cái tên có hương vị
ngoại quốc để kể lại một hành động ấu dâm (pedophile) của nhân vật
chính, một người đă có vợ con đề huề. Trong ban giám khảo, nhiều
người phê b́nh gay gắt nội dung này đến độ kỳ đó, họ không muốn
phát giải. Thêm nữa, trong khoảng 10 năm không đi lại với
Akutagawa, Abe đă ra đến 9 đầu sách nên cũng khó có thể gọi là
...nhà văn trẻ. Ông được giải có lẽ chỉ là nhờ ở văn tài và bút
lực của ḿnh.
Với sự thắng giải của những tác giả trẻ, người ta
nghĩ rằng một trào lưu mới (New Age) đă thành h́nh và có lẽ Abe
xứng đáng là một “thủ lănh”. Đến kỳ X2005 th́ giải về tay Nakamura
Fuminori với Tsuchi no naka no kodomo (Đứa trẻ nằm trong ḷng đất)
với một đề tài thời thượng khác là chuyện ngược đăi trẻ em. Tác
phẩm nói về một người đàn ông mang kinh nghiệm đau thương của thời
thơ ấu bị gia đ́nh bỏ rơi, được một người bà con xa nhận về nhưng
chỉ để mà hành hạ anh ta. Nakamura cũng là một nhà văn đoạt giải ở
lứa tuổi đôi mươi.
Itoyama Akiko lănh giải T2005 với Oki de matsu (Đợi
ở ngoài khơi) là lời tự thuật của một anh tư chức về mối giao t́nh
của anh với anh bạn đồng liêu vào hăng cùng thời với ḿnh. Cơ hội
kể chuyện là lúc cái chết của người ấy xảy ra. Đây là lần thứ 4
Itoyama có tác phẩm dự thi. Bà là một cây bút có thực lực v́ chỉ
trong ṿng hai năm rưỡi, đă vào chung kết giải Naoki, đoạt các
giải Akutagawa, giải Nghệ Thuật của Bộ Giáo Dục và giải Kawabata.
Người bị Itoyama đánh bại năm trước là Itô Takami
trở thành khôi nguyên kỳ X2006 với Hachigatsu no rojô ni suteru
(Vứt lại trên mặt đường tháng tám). Trong đó, một người đàn ông
tâm sự với cô bạn đồng nghiệp ở cửa hàng tiện lợi (convenience
store) đầu đuôi câu chuyện ly hôn của ḿnh.
Kôno Taeko rời vị trí giám khảo sau T2006 nhưng từ
lần tới (X 2007) sẽ có Ogawa Yôko và Kawakami Hiromi, hai nhà văn
được xem như thuộc khuynh hướng thuần văn học, đến để tăng cường
đội ngũ. Thế nhưng việc hai người này đồng thời c̣n kiêm nhiệm vai
tṛ giám khảo ở các giải Mishima và Noma khiến dư luận không mấy
hài ḷng.
Nhà văn nữ
Aoyama Nanae trúng giải T2006 với Hitori biyori (Trời đẹp cho mỗi
ḿnh tôi).
Truyện kể về một cô gái 20 tuổi t́m đến sống chung với một bà già
có họ hàng xa với ḿnh. Giọng văn giản dị khiến cho người ta dễ có
cảm t́nh với nhân vật chính. Giám khảo Yamada Eimi th́ nghĩ khác:
“Quí vị nào không có chuyện ǵ làm xin hăy đón đọc. Riêng tôi thấy
có hơi chán”. Tuy nhiên, Aoyama vẫn duy tŕ được điểm số cao và
thắng giải.
Giải X2007 về tay Suwa Takeshi với Asatte no hito
(Người của ngày mốt). Đó là tác phẩm dựa trên nhật kư của một ông
chú mắc chứng nói ngọng (kitsuonshô吃音症)
để tiểu thuyết hóa. Tuy bị chỉ trích v́ đem một khuyết tật ra phân
tích nhưng rốt cuộc Suwa vẫn đoạt giải v́ nhiều tác giả cho rằng
ông chỉ quan tâm đến một t́nh trạng bệnh lư mà trong xă hội, không
thiếu chi người mắc phải.
Kawakami Mieko, ứng viên bất hạnh trước Suwa mùa
trước đă đoạt giải kỳ T2007 với Chichi to ran (Vú và trứng), kể
chuyện cuộc viếng thăm của bà chị và cô con gái của bà từ Ôsaka
đến thăm tác giả. Mục đích của người chị là làm phẩu thuật thẩm mỹ
bộ ngực c̣n cô cháu là để chữa bệnh tắt tiếng bắt đầu từ khi rụng
trứng và có kinh lần đầu tiên. Đó là một tác phẩm mang chủ đề có
tính thời sự. Kỳ đó, Kawakami đă vượt qua Yang Y (Dương Dật), một
ứng viên được giới truyền thông nhiệt liệt ủng hộ.
Đặc điểm của Yang Y : bà là một phụ nữ Trung Quốc,
sinh ra và lớn lên ở nước nhà. Không phải đợi lâu, bà đă đáp lại
kỳ vọng của những người ủng hộ, bằng cách đoạt giải X2008 với Toki
ga shijimu asa (Buổi sáng thời gian nḥa nhạt). Truyện nói về cuộc
sống của các giáo sư trẻ và sinh viên thời kỳ vận động dân chủ ở
Trung Quốc mà kết quả là biến cố ở quảng trường Thiên An Môn. Việc
Yang Y đoạt giải có nhiều ư nghĩa v́ rất nhiều rào cản trong việc
chấm giải đă bị bứt phá, nhất là khi mà tiếng Nhật không phải là
tiếng mẹ đẻ của tác giả.
Tsumura Kikuko ba kỳ liên tiếp vào chung kết trước
khi được giải kỳ T2008 với Posuto raimu no fune (Chậu Pothos
lime). Cái tên cầu kỳ này là một loại chanh kiểng, thật khó hiểu
cho ta nếu chỉ đọc cái tựa. Tác phẩm nói về một cô nhân viên công
nhật, việc làm không ổn định, mức thu nhập kém, sống với người mẹ
ở thành phố cổ kính Nara, miền trung nước Nhật. Tuy cốt truyện
không chứa đựng t́nh tiết ǵ nổi bật nhưng Tsumura đă thuyết phục
được ban giám khảo nhờ bút pháp già dặn và cách dàn dựng kết cấu
khéo léo của ḿnh.
Ở X2009, giải về tay Isozaki Ken.ichirô với Tsui no
sumika (Chỗ ngụ cuối cùng). Vai chính của truyện là một nam tư
chức có vợ, ngoại t́nh với một người đàn bà khác và có thời gian
được gửi sang Mỹ một ḿnh để làm việc do nhu cầu phát triển của
hăng. Tác giả nhân câu chuyện của anh ta, nói lên lối suy nghĩ và
tâm trạng của một tư chức Nhật Bản trong thời đại kinh doanh toàn
cầu. Mùa thu năm ấy, T2009 không có ai lănh giải. Đến X2010 th́ có
Aozome Akiko đoạt giải với Otome no mikkoku (Thiếu nữ bị mật báo).
Tác phẩm mượn bối cảnh lớp dạy tiếng Đức ở một đại học dạy ngoại
ngữ ở Kyôto để khai thác chủ đề chung quanh cuốn giáo khoa thư,
“Nhật kư của Ann Frank”, cô bé Hà Lan gốc Do Thái đă bị Đức Quốc
Xă bắt sau khi tông tích của cô bị mật báo.
Kỳ T2010 có đến 2 ứng viên được trao giải. Đó là
Asabuki Mariko với Kikotowa (Kiko và Towako) và Nishimura Kenta
với Kueki ressha (Đoàn tàu lao dịch). “Kiko và Towako” kể lại cuộc
hội ngộ giữa Kikovaf Towako, hai người bạn gái, sau 25 cách biệt
trong một khách sạn miền núi để có dịp hồi tưởng và kể lể chuyện
xưa chuyện nay cũng như những mộng tưởng của họ. “Đoàn tàu lao
dịch” là một tiểu thuyết có tính tự thuật nhưng có đặc điểm là
trong đó, khi nói về nhân vật chính, tác giả lại dùng ngôi thứ ba.
Mùa xuân 2011 (X2011) không có ai trúng giải. Tuy
vậy, một ứng viên kỳ đó, Enjô Tô đă thắng vào kỳ T2011 cho dù tác
phẩm Dôkeshi no chô (Con bướm của chú hề) ông viết đă phải chia
sớt với Tomogui (Ăn thịt nhau) của Tanaka Shinya. Enjô là một ứng
viên dự giải ba lần. Truyện của ông nói về cuộc đàm thoại giữa một
nhà kinh doanh và người khách ngồi bên cạnh trên cùng chuyến phi
cơ. Nội dung cuộc chuyện tṛ ấy kéo dài suốt 5 chương sách làm cho
giám khảo Ishihara Shintarô đă phải nói lên sự bực bội thay cho
độc giả. “Ăn thịt nhau” của Tanaka tả lại cuộc sống của một học
sinh cấp ba, cậu ta sống với cha và người vợ kế của ông trong khi
bà mẹ đẻ th́ có nhà gần đó. Truyện c̣n kéo cả người yêu của nhân
vật chính vào trong nữa. Cần nói thêm là ứng viên Tanaka đă dự
giải đến 5 lần.
Sau kỳ T 2011 này, giám khảo Ishihara Shintarô - đă
lớn tuổi và cũng một phần nào thất vọng với phương pháp tuyển khảo
của giải - từ chức để tiếp tục làm chính trị trong vai tṛ Đô
trưởng Tokyo. Tiếp đó, kỳ X 2012, Kashimada Maki, một nhà văn kinh
nghiệm v́ đă bắt đầu viết từ 1998 và dự thi 4 lần ở đây, được trao
giải với Meido meguri (Ḷng ṿng quanh cơi chết), kể lại chuyến đi
của một cặp vợ chồng đến một khách sạn nghỉ dưỡng cao cấp ven
biển. So với thời trước, gia đ́nh họ nay đă sa sút v́ mẹ và em
trai của người vợ tiêu xài huy hoắc, c̣n người chồng ngày nay đă
bại liệt tứ chi.
Danh sách những người được giải thời kỳ này:
1) X2000 Machida Kô
町田康với
Kiregire (きれぎれ)
2) X2000 Matsuura Hisaki
松浦寿輝với
Hana kusashi (花腐し)
3) T2000 Seirai Yuuichi
青来有一với
Seisui (聖水)
4) T2000 Horie Toshiyuki
堀江敏幸với
Kuma no shikiishi (熊の敷石)
5) X2001 Genyuu Sokyuu
玄侑宗久với
Chūin no hana (中陰の花)
6) T2001 Nagashima Yuu
長嶋有với
Mōsupîdo de haha wa (猛スピードで母は)
7) X2002 Yoshida Shuuichi
吉田修一với
Paaku raifu (パーク・ライフ
Park Life)
8) T2002 Daidô Tamaki
大道珠貴với
Shoppai doraibu (しょっぱいドライブ)
9) X2003 Yoshimura Man.ichi
吉村萬一với
Hariganemushi (ハリガネムシ)
10) T2003 Wataya Risa
綿矢りさvới
Keritai senaka (蹴りたい背中)
11) T2003 Kanehara Hitomi
金原ひとみvới
Hebi ni piasu (蛇にピアス)
12) X2004 Mobu Norio
モブノリオvới
Kaigo nyūmon (介護入門)
13) T2004 Abe Kazushige
阿部和重với
Gurando fināre (グランド・フィナーレ
Grand Finale, Ṿng chung kết)
14) X2005 Nakamura Fuminori
中村文則với
Tsuchi no naka no kodomo (土の中の子供)
15) T2005 Itoyama Akiko
糸山秋子với
Oki de matsu (沖で待つ)
16) X2006 Itô Takami
伊藤たかみvới
Hachigatsu no rojō ni suteru (八月の路上に捨てる)
17) T2006 Aoyama Nanae
青山七恵với
Hitori biyori (ひとり日和)
18) X2007 Suwa Tetsushi
諏訪哲史với
Asatte no hito (アサッテの人)
19) T2007 Kawakami Mieko 川上未映子
với Chichi to ran (乳と卵)
20) X2008 Yang Yi
楊逸for
Toki ga nijimu asa (時が滲む朝)
21) T2008 Tsumura Kikuko
津村記久子với
Potosuraimu no fune (ポトスライムの舟)
22) X2009 Isozaki Ken.ichirô
磯崎憲一朗với
Tsui no sumika (終の住処)
23) T2009 Không trao giải.
24) X2010 Akazome Akiko
赤染晶子với
Otome no mikkoku (乙女の密告)
25) T2010 Asabuki Mariko
朝吹真理子với
Kikotowa (きことわ)
26) T2010 Nishimura Kenta
西村賢太với
Kueki ressha (苦役列車)
27) X2010 Không trao giải.
28) T2011 Enjō Tô
円城塔với
Dōkeshi no chō (道化師の蝶)
29) T2011 Tanaka Shinya
田中慎弥với
Tomogui (共喰い)
30) X2012 Kashimada Maki
鹿嶋田真希với
Meido meguri (冥土めぐり)
Thời kỳ tiếp nối (kể từ 2012 đến
2016):
Giữa năm 2012, một giai đoạn mới như thể đă bắt
đầu. Giải Akutagawa vẫn tiếp nối công việc b́nh bầu nhưng mục đích
buổi đầu nghĩa là “khám phá những nhà văn mới và có thực lực” đă
không c̣n đạt được một cách dễ dàng nữa. Xưa kia, các ứng viên
thường có chí hướng viết văn ngay khi bước vào đời và tiếp tục đeo
đuổi nó măi về sau. Giờ đây, phần nhiều họ chỉ là kẻ rẽ ngang sau
khi đă theo một ngành khác với ít nhiều thành công hay thất bại.
Kỳ T2012, ban giám khảo chỉ c̣n có 9 người: Ogawa
Yôko, Okuizumi Hikaru, Kawakami Hiromi, Shimada Masahiko, Takagi
Nobuko, Horie Toshiyuki, Miyamoto Teru, Murakami Ryuu và Yamada
Eimi.
Giai đoạn này mở đầu với Kuroda Natsuko với tác
phẩm “a b san go” ( có thể là a b 3 5, một ẩn ngữ không thể dịch )
cho kỳ T2012. Đặc điểm của bà Kuroda là bà sinh năm 1937, lúc đó
đă 75 tuổi tức người cùng thế hệ với Ôe Kenzaburô. Tuy có chí trở
thành văn sĩ từ trên ghế nhà trường cho đến tuổi 33 nhưng đă ngưng
viết lách trong một thời gian dài và hoàn toàn là một cây bút vô
danh. Tác phẩm của Kuroda kể lại kinh nghiệm cá nhân của một người
con một giới tính mù mờ từ thời thơ ấu cho đến năm trên 40 cũng
như mối liên lạc giữa người đó với người sinh thành đơn lẻ
(kataoya) của ḿnh. Truyện được dàn trải thành 15 chương ngắn
giống như 15 mảnh nhỏ, văn tự viết theo hàng ngang (chứ không phải
hàng dọc như thông thường). Bà c̣n xóa bỏ chữ Hán, các danh từ và
đại danh từ, dùng nhiều hiragana v́ chúng có hiệu ứng âm thanh
..., nói chung là sử dụng một lối diễn tả khó ai có thể nắm bắt
trọn vẹn. Có thể nói đây là một tác phẩm lập dị và hiếm hoi. Tuy
lời khen (của Takagi Nobuko) chê (của Yamada Eimi) gây nên sự đối
lập giữa ban giám khảo nhưng Kuroda (75 tuổi) vẫn thắng giải và
được xem như là người lănh giải cao tuổi nhất, vượt xa Mori
Atsushi (61 tuổi) năm 1973.

Fujino Kaori
Fujino Kaori đoạt giải X2013 với Tsume to me (Móng
tay và mắt) cũng không phải là nhà văn mới vào nghề v́ đă xuất bản
tác phẩm đầu tay nhan đề No Life King từ 1988 nghĩa là 15 năm về
trước. Bà cũng không hoàn toàn theo đuổi nghề văn và chỉ có thể
xem như đă rẽ ngang từ lănh vực kịch nghệ, âm nhạc và được quần
chúng biết nhiều nhờ những chương tŕnh ra-đi-ô hay TV. Sách bà
viết về thiên tai ở Fukushima đă trở thành “betseller”, đặc biệt
chương tŕnh “talk show” nhan đề “Văn nghệ mạn đàm” của bà với
Okuizumi Hikaru (một giám khảo) suốt 16 năm trời đă có tiếng vang
rất lớn. Hai phần ba giám khảo là người cùng thời với bà. Thế th́
làm sao có thể xem bà là một “tài năng mới”, đối tượng xứng đáng
của giải Akutagawa cho được!
Trở lại với tác phẩm đoạt giải th́ “Móng tay và
mắt” nói về cuộc sống giữa một thiếu nữ (người kể chuyện) và bà mẹ
ghẻ sống chung với cô từ năm lên 3 cũng như tâm trạng và cặp mắt
lạnh lùng của cô khi phán xét người kế mẫu này. Nó có màu sắc kinh
dị (horror) nhưng không có ǵ khó hiểu so với tác phẩm trúng giải
lần trước của Kuroda. Đặc điểm kỹ thuật của lối hành văn Fujino ở
đây là sử dụng thành công cách xưng hô anata (tức ngôi thứ hai)
khi đề cập đối tượng của câu chuyện bà kể.
Nhà văn nữ Oyamada Hiroko thắng giải T2013 với Ana
(Cái hố). Đây là lần giải thứ 150. Trong truyện có tính chất ngụ
ngôn này, một phụ nữ dọn nhà đến ở gần ngôi nhà gia đ́nh cha mẹ
của người chồng (jikka) và một hôm rơi xuống một cái hố không biết
ai đào và dưới đó bà gặp gỡ một người đàn ông tự xưng là anh của
chồng ḿnh. Truyện không có ǵ đặc sắc nhưng rốt cuộc đă được giải
cho dù dưới mắt độc giả qua thông tin Internet, nó không hơn được
hai tác phẩm dự thi khác của Iwaki Kei và Yamashita Sumito. Do đó,
ta thấy vào lúc này, khuynh hướng chung là có một khoảng cách giữa
cách thưởng thức của ban giám khảo và của các độc giả.
Nhà văn nữ
Shibasaki Tomoka được trao giải mùa X2014. Bà bắt đầu viết từ 15
năm về trước, đă có 15 đầu sách, được nhiều giải thưởng văn học và
dự thi Akutagawa lần này là lần thứ 4. Nh́n vào thành tích th́ bà
đúng là một nhà văn có thực lực nhưng đâu phải là gương mặt mới mẻ
nữa. Sau nhiều cuộc bàn bạc, Haru no niwa (Khu vườn mùa xuân) của
bà với nội dung nói về những người sống trong một căn hộ bên cạnh
ngôi nhà màu xanh nước biển xưa có thời dùng làm nơi chụp ảnh cho
những cuốn họa báo mỹ nhân
đă thắng giải. Tuy có nhiều ư kiến tiêu cực trong ṿng những người
chấm giải nhưng cuối cùng vinh dự cũng thuộc về Shibasaki có lẽ v́
bà chỉ chuyên chú vào một văn phong và một đề tài kể từ lúc mới
bước vào làng văn 15 năm về trước, như nhận xét của giám khảo
Miyamoto Teru. Và nếu thế th́ phương châm người đáng được giải
Akutagawa phải là một “cây bút mới” nay đă được mở rộng ra cho cả
những “cây bút vững vàng”.
Nhà văn Ono Masatsugu, một phó giáo sư đại học,
nhận giải T2014 với tác phẩm Kunen mae no inori (Lời khấn nguyện 9
năm trước). Đây là lần thứ 3 ông vào chung kết. Truyện kể về một
người đàn bà có một đứa con bị bệnh kinh phong nặng, sinh ra từ
cuộc t́nh duyên của bà với một người đàn ông Canada. Bà đem con về
quê hương, một thôn làng ven biển và sau đó đă kể lại cho đám con
gái trong vùng nghe những giai thoại liên quan đến chuyến đi
Canada của bà hồi 9 năm về trước. Theo tin tức trên mạng, nhà văn
này đă hai lần đến thăm và tŕnh bày về văn học Nhật Bản cho bạn
đọc Việt Nam.
Mùa xuân 2015 (X2015) có hai người được trao giải.
Đó là Hada Keisuke với Sukurappu ando Birudo (Scrap and Build) và
Matayoshi Naoki với Hanabi (Những tia lửa). Hai người trong 6 ứng
viên có kinh nghiệm dự giải là Hada Keisuke và Shimamoto Risei
nhưng thêm một lần nữa, Shimamoto bị bỏ lại nhường chỗ cho Hada.
“Scrap and Build” hay “Đạp đổ và xây dựng” là một cái tựa cầu kỳ,
đă xác định thêm một lần nữa khuynh hướng thích dùng Anh ngữ của
các nhà văn mới. Truyện nói về hoàn cảnh của một chàng trai thất
nghiệp sống với ông ḿnh, một cụ già 87 tuổi, thân thể hăy c̣n
cứng cáp tuy miệng th́ lúc nào cũng nói là ḿnh muốn chết đi cho
rảnh. Nội dung như muốn bày tỏ cái nh́n khắt khe của giới trẻ
trước sự hiện diện của những người già ăn hại, chịu khuất nhục,
chỉ muốn bám víu sự sống. Giám khảo Takagi Nobuko xem đây là tác
phẩm biểu lộ ư thức của xă hội Nhật Bản về một vấn đề mới: xung
đột giữa các thế hệ.

Matayoshi Naoki
Người cùng được chọn với Hada là Matayoshi Naoki,
một diễn viên hài. Cuốn truyện của ông nói về thế giới mà ông biết
rơ, thế giới của nghệ nhân hài. Ông kể lại mối giao t́nh giữa một
tay hài trẻ và người đàn anh mà ḿnh tôn kính cũng như bày tỏ
những ước mơ và lo âu trên đường sự nghiệp. Matayoshi là một thành
viên của nhóm hài Peace và là bộ mặt quen thuộc của ngành giải
trí. Tuy văn tài của ông được những người bạn như nhà văn Murakami
Haruki đánh giá cao nhưng việc ”Những tia lửa” lúc mới ra đợt đầu
đă bán được 150.000 cuốn và trước khi nhận giải đă in ra đến
640.000 cuốn là một chuyện khó tin nhưng có thật. Đến nay con số
tổng cộng đă lên tới bốn lần tức 2.500.000 cuốn và khiến cho cuộc
đời của Matayoshi thay đổi hoàn toàn. Bỗng chốc, người ta suưt
quên cả việc Hada Keisuke là một người đoạt giải cùng lúc.
Giải T2015 cũng được trao cho hai người: Takiguchi
Yuushô với Shinde inai mono (Người không chết) và Motoya Yukiko
với Irui kon.intan (Truyện hôn nhân khác loài). “Người không chết”
tả lại cảnh con cái cháu chắt tụ tập đến viếng suốt một đêm ( tập
quán gọi là tsuuya通夜)
một người đàn ông vừa mới qua đời và ôn lại kỹ niệm về kẻ quá cố.
C̣n “Truyện hôn nhân khác loài” là tâm sự của một bà nội trợ,
người đă phát hiện khuôn mặt của ḿnh dần dần giống như khuôn mặt
đức ông chồng, người mà sau giờ làm việc chỉ thích hưởng lạc. Có
lẽ ở đây bà Motoya muốn tŕnh bày cách nh́n về hôn nhân của những
người phụ nữ có cá tính mạnh cũng như trong các tác phẩm có trước
nhưng vén khéo hơn.

Murata Sayaka
Giải mùa X2016 về tay bà Murata Sayaka với Konbini
Ningen (Người của tiệm tiện lợi). Tuy có hai tác phẩm tranh giải
được ban giám khảo đặt nhiều cảm t́nh là Jini no pazuru (Trang
chắp h́nh (puzzle) của Jini) của nhà văn nữ gốc Triều Tiên là Chu
Shil (Thôi Thực) và Ahiru (Con vịt) của Imamura Natsuko nhưng
Murata đă một ḿnh đoạt giải. Truyện kể về cuộc sống của một người
đàn bà 36 tuổi gắn bó với một cửa hàng tiện lợi sau khi làm việc
nhiều năm ở đấy. Cuộc sống trong môi trường đặc biệt này đă làm
cho người chung quanh nh́n bà như kẻ tính nết dị thường (henna
hito変な人).
Truyện này cũng khá ăn khách, tuy không so được với “Những tia
lửa” nhưng đă bán được đến 350.000 cuốn.
Người đoạt giải gần đây nhất (T2016) là Yamashita
Sumito, lúc vừa vặn 50 tuổi. Ông đă từng vào ṿng chung kết 3 lần
trong hai năm 2012 và 2013. Tác phẩm giúp Yamashita thắng lần này
có nhan đề là Shinsekai (Thế giới mới), trong đó ông mô tả chặn
đường trở thành diễn viên của chàng thanh niên Sumito từ lúc tốt
nghiệp trung học. Điểm đặc biệt là tên sách không viết bằng ba chữ
Hán nhưng bằng hiragana, có lẽ v́ “Tân thế giới” hay thế giới mới
đó chỉ là của một cá nhân ông.
Trước khi bắt đầu có tác phẩm đầu tiên vào năm
2011, Yamashita là một diễn viên, nhà biên kịch và thủ lănh của
ban kịch Fiction. Một lần nữa, người lănh giải Akutagawa đă đến
với văn chương từ một lănh vực nghệ thuật khác.
Danh sách người được giải thời kỳ
này:
1)
T2012 Kuroda Natsuko
黒田夏子với
ab Sango (abさんご)
2)
X2013 Fujino Kaori
藤野可織với
Tsume to Me (爪と目).
3)
T2013 Oyamada Hiroko
小山田浩子với
Ana (穴)
4)
X2014 Shibasaki Tomoka
柴咲友香với
Haru No Niwa (春の庭).
5)
T2014 Ono Masatsugu
小野正嗣
với Ku Nen Mae no Inori (九年前の祈り).
6)
X2015 Hada Keisuke
羽田圭介với
Scrap and Build (スクラップアンドビルド)
7)
X2015 Matayoshi Naoki
又吉直樹với
Hibana (火花)
8)
T2015 Takiguchi Yushô
滝口悠生với
Shinde inai mono (死んでいない者).
9)
T2015 Motoya Yukiko
本谷有希子với
Irui kon.intan (異類婚姻譚).
10)
X2016 Murata Sayaka
村田沙耶香với
Kombini Ningen (コビニー人間).
11)
T2016 Yamashita Sumito
山下澄人với
Shinsekai (しんセかい).
Cho đến tháng 1/2017, tổng cộng 156 lần giải với
195 người đoạt giải.
Công tội của giải Akutagawa
Bên cạnh những giải kỳ cựu như Nobel (từ 1901) hay
Femina (1904), giải Akutagawa là một giải khá lâu bền. Tính từ
1935 cho đến 2016, nó đă có 81 năm lịch sử. Có thể nó hăy c̣n
những khuyết điểm như nặng mục đích thương mại, các giám khảo
thường xuyên chịu nhiều áp lực. Cũng có thể là những nguyên tắc
của giải không được định nghĩa chính xác hay đă đi xa đường hướng
buổi đầu... nhưng công lao của nó đối với văn học Nhật Bản thật
không nhỏ. Giải Akutagawa đă thật sự khám phá nhiều tài năng sáng
giá và không ai có thể phủ nhận uy tín của Ôe Kenzaburô, Endô
Shuusaku, Inoue Yasushi, Abe Kôbô... những người đă đi từ nó để
đến với văn đàn quốc tế. Tuy nó đă để vuột những tài danh như
Dazai Osamu, Murakami Haruki, Yoshimoto Banana...nhưng phải đặt
kết quả của sự không tuyển chọn này vào hoàn cảnh thời ấy để đánh
giá đúng mức quyết định của ban giám khảo. Ngoài 195 người trúng
giải, nên nhớ chúng ta hăy c̣n có biết bao nhiêu tài năng đă vào
đến ṿng chung kết rất nhiều lần như Yoshimura Akira, Shimada
Masahiko, Sôno Ayako, Shimamoto Risei... Những “ứng viên vĩnh
viễn” này cũng có sự nghiệp không hề thua kém ai và rất xứng đáng
được trao cho một giải Akutagawa danh dự v́ c̣n viết đều tay hơn
một số người trúng giải.
Tấm gương phản chiếu xă hội Nhật
Bản
Ngoài công lao khám phá nhân tài trong lănh vực văn
chương, giải Akutagawa đă đóng vai tṛ phản chiếu tâm t́nh và suy
tư của người Nhật trên một chặng đường lịch sử gần một thế kỷ. Nó
cũng khơi gợi ra nhiều vấn đề bức thiết để xă hội cùng nhau giải
quyết.
Qua những tác phẩm đoạt giải trước chiến tranh,
chúng ta đă thấy mối ưu tư về kiếp sống nghèo khổ của người dân
phải bỏ nước ra đi (Ishikawa Tatsuzô, 1935) cũng như hoàn cảnh
nước Nhật thời kỳ bước vào chiến tranh (Hino Ashihei, 1937, Tada
Yuukei, 1941, Shibaki Yoshiko, 1941, Ishizuka Kikuzô, 1943, Ono
Yuuzô, 1944). Quang cảnh thời hậu chiến và những bức xúc với sự có
mặt của người Mỹ cũng được các nhà văn như Ishikawa Toshimitsu
(1951), Hotta Yoshie (1951), Kojima Nobuo (1954), Murakami Ryuu
(1976) kể lại. Hoài niệm về cuộc chiến được Kikumaru Itaru (1957)
mô tả; xă hội mới đầy sức sống và ḷng tự tin đă t́m thấy bóng
dáng của ḿnh trong tiểu thuyết của Ishihara Shintarô (1955). Các
nhà văn nữ như Kôno Taeko (1963), Tanabe Seiko (1963), Ôba Minako
(1968)... đă cùng nhau đặt lại vấn đề vị trí của người đàn bà
trong xă hội mới, Kawamura Akira (1962) nói về việc sống chung
không hôn thú, Furui Yoshikichi (1970) khám phá một con người khác
ẩn dấu trong con người xưa nay của vợ ḿnh. Shibata Shô (1964) và
Mita Masahiro (1977) làm chứng về phong trào đấu tranh của sinh
viên học sinh trên đường phố. Vấn đề Okinawa (Higashi Mineo,
1971), vấn đề kỳ thị chủng tộc (Ri Kaisei,1971, Hatayama Hiroshi,
1972, Ri Yanji, 1998), vấn đề kỳ thị bệnh cùi (Miyahara Akio,
1972), vấn đề hôn nhân quốc tế (Yamamoto Michiko, 1972), vấn đề
tái vũ trang (Noro Kishinobu, 1973) ...lần lượt được các nhà văn
đem ra mổ xẻ.
T́nh yêu quê hương t́m lại được sau thời chiến
phảng phất trong văn chương Miyamoto Teru (1977) và Taki Shuuzô
(1977),. Trong khi đó, Mori Reiko (1979) nói đến những khó khăn
trong hôn nhân quốc tế, Kasahara Jun (1983) bàn về sự khó khăn để
t́m ra công ăn việc làm, Kizaki Satoko (1984) nêu lên vấn đề cưu
mang người già và chăm sóc con bệnh nan y, Arai Man (1988) kể
truyện những kẻ chán sống và một ngày nào đó, bỗng dưng “bốc
hơi”(jôhatsu蒸発)
không ai thấy nữa, Kometani Fumiko (1985) khát khao t́m hiểu những
nền văn hóa bên ngoài nước Nhật. Yoshimaki Haruhiko (1993) gióng
lên tiếng chuông về bệnh lú lẩn, Tsuji Hitonari (1996) nói về sự
hiếp đáp ở học đường, Fujino Chiya đặt vấn đề đồng tính luyến ái
và chuyển giới, Nagashima Yuu (2001) triển khai tác phẩm quanh đề
tài các bà mẹ độc thân, Yoshimura Man.ichi (2003) chú ư tới những
căn bệnh xă hội như bạo lực, dục t́nh và những hành vi biểu lộ thú
tính. Bên cạnh họ, Mobu Norio (2004) mô tả xă hội lăo hóa, Aoyama
Nanae (2006) nói lên sự thiếu thông cảm giữa các thế hệ và
Nakamura Fuminori (2005) chọn hiện tượng ngược đăi như đề tài để
viết. Chúng ta thấy hầu như ở mỗi giai đoạn, các nhà văn không
ngừng thổ lộ về những ǵ họ cảm thấy thiết thân.
Ngoài ra về phong cách diễn tả, qua các tác phẩm
văn chương dù đoạt giải hay không, đă chứng tỏ có sự tiến hóa từ
tiếng Nhật của buổi đầu thời Shôwa cùng với sự thối lui của Hán
văn và phong trào Âu hóa tích cực. Hiện tượng nói trên nhiều khi
đưa đến chỗ quá trớn hay lập dị, đặt biệt nhất là Mobu Norio
(2004), người viết văn như viết ca từ cho nhạc “rap” và Kuroda
Natsuko (2012) người sử dụng nhiều ẩn ngữ và hầu như đă nổi loạn
trước những qui tắc viết lách được lập ra cho đến bây giờ.
Thư mục tham khảo:
-
Kawaguchi Norihiro, 2017, Akutagawa-shô Monogatari
(Kể truyện Giải Akutagawa), Nxb Bungei Shunjuu, Tokyo.
-
Tài liệu và h́nh ảnh Internet.